- Saṁyutta Nikāya 35.158
- 16. Nandikkhayavagga
Bản dịch
SN 35.158 — Kinh Về Sự Đoạn Tận Hỷ Đối Với Vô Thường Ở Nội Tâm
Ajjhattaaniccanandikkhayasutta
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, hãy như lý tác ý mắt, và hãy như thật chánh quán con mắt là vô thường. Này các Tỷ-kheo, do như lý tác ý con mắt và như thật chánh quán con mắt là vô thường, Tỷ-kheo nhàm chán đối với con mắt. Do duyệt hỷ tiêu tận nên tham tiêu tận. Do tham tiêu tận nên duyệt hỷ tiêu tận. Do duyệt hỷ, tham tiêu tận nên tâm được gọi là khéo giải thoát.
Vi-n 4-7. Này các Tỷ-kheo, hãy như lý tác ý tai … mũi … lưỡi … thân …
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, hãy như lý tác ý và như thật chánh quán ý là vô thường. Này các Tỷ-kheo, do như lý tác ý và như thật chánh quán ý là vô thường, Tỷ-kheo nhàm chán đối với ý. Do duyệt hỷ tiêu tận nên tham tiêu tận. Do tham tiêu tận nên duyệt hỷ tiêu tận. Do duyệt hỷ, tham tiêu tận nên tâm được gọi là khéo giải thoát.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.158
- 16. The End of Relishing
Focus, the Interior, and the End of Relishing
3. Kinh Về Sự Đoạn Tận Hỷ Đối Với Vô Thường Ở Nội Tâm
“Cakkhuṁ, bhikkhave, yoniso manasi karotha, cakkhāniccatañca yathābhūtaṁ samanupassatha. Cakkhuṁ, bhikkhave, bhikkhu yoniso manasikaronto, cakkhāniccatañca yathābhūtaṁ samanupassanto cakkhusmimpi nibbindati. Nandikkhayā rāgakkhayo; rāgakkhayā nandikkhayo. Nandirāgakkhayā cittaṁ suvimuttanti vuccati.
Sotaṁ, bhikkhave, yoniso manasi karotha … ghānaṁ … jivhaṁ, bhikkhave, yoniso manasi karotha, jivhāniccatañca yathābhūtaṁ samanupassatha. Jivhaṁ, bhikkhave, bhikkhu yoniso manasikaronto, jivhāniccatañca yathābhūtaṁ samanupassanto jivhāyapi nibbindati. Nandikkhayā rāgakkhayo; rāgakkhayā nandikkhayo. Nandirāgakkhayā cittaṁ suvimuttanti vuccati. Kāyaṁ … manaṁ, bhikkhave, yoniso manasi karotha, manāniccatañca yathābhūtaṁ samanupassatha. Manaṁ, bhikkhave, bhikkhu yoniso manasikaronto, manāniccatañca yathābhūtaṁ samanupassanto manasmimpi nibbindati. Nandikkhayā rāgakkhayo; rāgakkhayā nandikkhayo. Nandirāgakkhayā cittaṁ suvimuttanti vuccatī”ti.
Tatiyaṁ.
“Mendicants, rationally apply the mind to the eye. Truly see the impermanence of the eye. When a mendicant does this, they grow disillusioned with the eye. When relishing ends, greed ends. When greed ends, relishing ends. When relishing and greed end, the mind is said to be well freed.
Rationally apply the mind to the ear … nose … tongue … body … mind. Truly see the impermanence of the mind. When a mendicant does this, they grow disillusioned with the mind. When relishing ends, greed ends. When greed ends, relishing ends. When relishing and greed end, the mind is said to be well freed.”
158. “Này các tỳ khưu, hãy khéo tác ý đến con mắt; và hãy thường xuyên quán xét tính vô thường của con mắt đúng theo thực tính. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu trong khi khéo tác ý đến con mắt, và trong khi thường xuyên quán xét tính vô thường của con mắt đúng theo thực tính, vị ấy cũng nhàm chán đối với con mắt. Do đoạn tận hỷ nên tham được đoạn tận; do đoạn tận tham nên hỷ được đoạn tận. Do đoạn tận hỷ và tham nên tâm được gọi là khéo giải thoát. Này các tỳ khưu, hãy khéo tác ý đến cái tai... cái mũi... Này các tỳ khưu, hãy khéo tác ý đến cái lưỡi; và hãy thường xuyên quán xét tính vô thường của cái lưỡi đúng theo thực tính. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu trong khi khéo tác ý đến cái lưỡi, và trong khi thường xuyên quán xét tính vô thường của cái lưỡi đúng theo thực tính, vị ấy cũng nhàm chán đối với cái lưỡi. Do đoạn tận hỷ nên tham được đoạn tận; do đoạn tận tham nên hỷ được đoạn tận. Do đoạn tận hỷ và tham nên tâm được gọi là khéo giải thoát. Thân... Này các tỳ khưu, hãy khéo tác ý đến ý; và hãy thường xuyên quán xét tính vô thường của ý đúng theo thực tính. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu trong khi khéo tác ý đến ý, và trong khi thường xuyên quán xét tính vô thường của ý đúng theo thực tính, vị ấy cũng nhàm chán đối với ý. Do đoạn tận hỷ nên tham được đoạn tận; do đoạn tận tham nên hỷ được đoạn tận. Do đoạn tận hỷ và tham nên tâm được gọi là khéo giải thoát.” (Kinh thứ ba).