- Saṁyutta Nikāya 35.137
- 14. Devadahavagga
Bản dịch
SN 35.137 — Kinh Rūpārāma thứ hai
Dutiyarūpārāmasutta
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời thích thú sắc, bị sắc kích thích. Khi sắc biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời sống đau khổ … thích thú tiếng … thích thú hương … thích thú vị … thích thú xúc … Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời thích thú pháp, bị pháp kích thích. Khi pháp biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời sống đau khổ.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc, không thích thú sắc, không ưa thích sắc, không bị sắc kích thích. Khi sắc biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống an lạc … không thích thú tiếng … không thích thú hương … không thích thú vị … không thích thú xúc … Sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các pháp, Như Lai không thích thú pháp, không ưa thích pháp, không bị các pháp kích thích. Khi các pháp biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống an lạc.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Aminah Borg-Luck.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.137
- 14. At Devadaha
Liking Sights (2nd)
4. Kinh Rūpārāma thứ hai
“Rūpārāmā, bhikkhave, devamanussā rūparatā rūpasammuditā. Rūpavipariṇāmavirāganirodhā dukkhā, bhikkhave, devamanussā viharanti. Saddārāmā … gandhārāmā … rasārāmā … phoṭṭhabbārāmā … dhammārāmā, bhikkhave, devamanussā dhammaratā dhammasammuditā. Dhammavipariṇāmavirāganirodhā dukkhā, bhikkhave, devamanussā viharanti.
Tathāgato ca, bhikkhave, arahaṁ sammāsambuddho rūpānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā na rūpārāmo na rūparato na rūpasammudito. Rūpavipariṇāmavirāganirodhā sukho, bhikkhave, tathāgato viharati. Saddānaṁ … gandhānaṁ … rasānaṁ … phoṭṭhabbānaṁ … dhammānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā na dhammārāmo na dhammarato na dhammasammudito. Dhammavipariṇāmavirāganirodhā sukho, bhikkhave, tathāgato viharatī”ti.
Catutthaṁ.
“Mendicants, gods and humans like sights, they love them and enjoy them. But when sights perish, fade away, and cease, gods and humans live in suffering. …
The Realized One has truly understood the origin, disappearance, gratification, drawback, and escape of sights, so he doesn’t like, love, or enjoy them. When sights perish, fade away, and cease, the Realized One lives happily. …”
137. “Này các Tỳ-khưu, chư thiên và loài người thích thú sắc, ưa thích sắc, hoan hỷ trong sắc. Này các Tỳ-khưu, do sắc biến hoại, ly tham, đoạn diệt, nên chư thiên và loài người sống trong đau khổ. Thích thú thanh… thích thú hương… thích thú vị… thích thú xúc… Này các Tỳ-khưu, chư thiên và loài người thích thú pháp, ưa thích pháp, hoan hỷ trong pháp. Này các Tỳ-khưu, do pháp biến hoại, ly tham, đoạn diệt, nên chư thiên và loài người sống trong đau khổ. Còn Như Lai, này các Tỳ-khưu, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, sau khi như thật tuệ tri sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự xuất ly của các sắc, không thích thú sắc, không ưa thích sắc, không hoan hỷ trong sắc. Này các Tỳ-khưu, do sắc biến hoại, ly tham, đoạn diệt, Như Lai sống trong hạnh phúc. Của các thanh… của các hương… của các vị… của các xúc… sau khi như thật tuệ tri sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự xuất ly của các pháp, không thích thú pháp, không ưa thích pháp, không hoan hỷ trong pháp. Này các Tỳ-khưu, do pháp biến hoại, ly tham, đoạn diệt, Như Lai sống trong hạnh phúc.” Kinh thứ tư.