- Saṁyutta Nikāya 35.136
- 14. Devadahavagga
Bản dịch
SN 35.136 — Kinh Vui Thích Sắc Pháp (Thứ Nhất)
Paṭhamarūpārāmasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời thích thú sắc, bị sắc kích thích. Khi sắc biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời sống đau khổ … thích thú tiếng … thích thú hương … thích thú vị … thích thú xúc … Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời thích thú pháp, bị pháp kích thích. Khi pháp biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời sống đau khổ.
Vi-n 3 Này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và xuất ly của sắc, không có thích thú sắc, không có ưa thích sắc, không bị sắc kích thích. Khi sắc biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống an lạc … không thích thú tiếng … không thích thú hương … không thích thú vị … không thích thú xúc …
Sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của pháp, Như Lai không thích thú pháp, không ưa thích pháp, không bị pháp kích thích. Khi pháp biến hoại, ly tham, đoạn diệt, Như Lai sống an lạc.
Vi-n 4 Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vi-n 1~1 Sắc, thanh, hương, vị, xúc,
Và toàn thể các pháp,
Khả lạc, hỷ, khả ý,
Như vậy, chúng được gọi.Vi-n 2~2 Chư Thiên và Người đời,
Xem chúng là khả lạc,
Chỗ nào chúng đoạn diệt,
Thiên, Nhân thấy đau khổ.Vi-n 3~3 Bậc Thánh thấy an lạc,
Khi thân kiến đoạn diệt,
Bậc Thánh xem trái ngược,
Mọi quan điểm của đời.Vi-n 4~4 Ðiều người gọi là lạc,
Bậc Thánh gọi là khổ.
Ðiều người gọi là khổ,
Thánh nhân biết là lạc.Vi-n 5~5 Thấy pháp khó nhận biết,
Kẻ vô trí mê loạn,
Tối tăm đối vô minh,
Mù lòa đối không thấy.Vi-n 6~6 Thiện nhân mắt rộng mở,
Thấy rõ ràng ánh sáng,
Sống gần, biết rõ ràng,
Thuần thục trong pháp lớn.Vi-n 7~7 Bị tham sanh chinh phục,
Bị dòng hữu cuốn trôi,
Bị Ác ma chi phối,
Không giác ngộ pháp này.Vi-n 8~8 Ngoài Thánh không có ai,
Giác ngộ con đường này,
Con đường đạt Niết-bàn,
Chánh trí thoát lậu hoặc.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời thích thú sắc, bị sắc kích thích. Khi sắc biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời sống đau khổ … thích thú tiếng … thích thú hương … thích thú vị … thích thú xúc … Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời thích thú pháp, bị pháp kích thích. Khi pháp biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời sống đau khổ.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc, không thích thú sắc, không ưa thích sắc, không bị sắc kích thích. Khi sắc biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống an lạc … không thích thú tiếng … không thích thú hương … không thích thú vị … không thích thú xúc … Sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các pháp, Như Lai không thích thú pháp, không ưa thích pháp, không bị các pháp kích thích. Khi các pháp biến hoại, ly tham, đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống an lạc.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Aminah Borg-Luck.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.136
- 14. At Devadaha
Liking Sights (1st)
3. Kinh Vui Thích Sắc Pháp (Thứ Nhất)
“Rūpārāmā, bhikkhave, devamanussā rūparatā rūpasammuditā. Rūpavipariṇāmavirāganirodhā dukkhā, bhikkhave, devamanussā viharanti.
Saddārāmā, bhikkhave, devamanussā saddaratā saddasammuditā. Saddavipariṇāmavirāganirodhā dukkhā, bhikkhave, devamanussā viharanti. Gandhārāmā … rasārāmā … phoṭṭhabbārāmā … dhammārāmā, bhikkhave, devamanussā dhammaratā dhammasammuditā. Dhammavipariṇāmavirāganirodhā dukkhā, bhikkhave, devamanussā viharanti.
Tathāgato ca kho, bhikkhave, arahaṁ sammāsambuddho rūpānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā na rūpārāmo na rūparato na rūpasammudito. Rūpavipariṇāmavirāganirodhā sukho, bhikkhave, tathāgato viharati.
Saddānaṁ … gandhānaṁ … rasānaṁ … phoṭṭhabbānaṁ … dhammānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā na dhammārāmo, na dhammarato, na dhammasammudito. Dhammavipariṇāmavirāganirodhā sukho, bhikkhave, tathāgato viharati”.
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Mendicants, gods and humans like sights, they love them and enjoy them. But when sights perish, fade away, and cease, gods and humans live in suffering.
Gods and humans like sounds … smells … tastes … touches … ideas, they love them and enjoy them. But when ideas perish, fade away, and cease, gods and humans live in suffering.
The Realized One has truly understood the origin, disappearance, gratification, drawback, and escape of sights, so he doesn’t like, love, or enjoy them. When sights perish, fade away, and cease, the Realized One lives happily.
The Realized One has truly understood the origin, disappearance, gratification, drawback, and escape of sounds … smells … tastes … touches … ideas, so he doesn’t like, love, or enjoy them. When ideas perish, fade away, and cease, the Realized One lives happily.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
136. "Này các Tỳ khưu, chư thiên và loài người vui thích nơi sắc pháp, đam mê sắc pháp, hoan hỷ với sắc pháp. Này các Tỳ khưu, do sự biến đổi, ly tham, và đoạn diệt của sắc pháp, chư thiên và loài người sống trong đau khổ. Này các Tỳ khưu, chư thiên và loài người vui thích nơi âm thanh, đam mê âm thanh, hoan hỷ với âm thanh. Này các Tỳ khưu, do sự biến đổi, ly tham, và đoạn diệt của âm thanh, chư thiên và loài người sống trong đau khổ. Vui thích nơi hương... vui thích nơi vị... vui thích nơi vật xúc chạm... Này các Tỳ khưu, chư thiên và loài người vui thích nơi pháp, đam mê pháp, hoan hỷ với pháp. Này các Tỳ khưu, do sự biến đổi, ly tham, và đoạn diệt của pháp, chư thiên và loài người sống trong đau khổ. Còn Như Lai, này các Tỳ khưu, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, sau khi đã biết như thật về sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của các sắc pháp, nên không vui thích nơi sắc pháp, không đam mê sắc pháp, không hoan hỷ với sắc pháp. Này các Tỳ khưu, do sự biến đổi, ly tham, và đoạn diệt của sắc pháp, Như Lai sống an lạc. (Đối với) các âm thanh... các hương... các vị... các vật xúc chạm... (Đối với) các pháp, sau khi đã biết như thật về sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly, nên không vui thích nơi pháp, không đam mê pháp, không hoan hỷ với pháp. Này các Tỳ khưu, do sự biến đổi, ly tham, và đoạn diệt của pháp, Như Lai sống an lạc." Thế Tôn đã nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
“Rūpā saddā rasā gandhā, phassā dhammā ca kevalā; Iṭṭhā kantā manāpā ca, yāvatatthīti vuccati.
“Sights, sounds, tastes, smells, touches and ideas, the lot of them—they’re likable, desirable, and pleasurable as long as you can say that they exist.
"Sắc, thanh, vị, hương, xúc, và các pháp, Tất cả những gì đáng mong cầu, đáng ưa thích, đẹp lòng, Được nói là có đến chừng nào,"
Sadevakassa lokassa, ete vo sukhasammatā; Yattha cete nirujjhanti, taṁ tesaṁ dukkhasammataṁ.
For all the world with its gods, this is what they deem happiness. And where they cease is deemed as suffering for them.
"Đối với thế gian cùng với chư thiên, Những thứ này được xem là hạnh phúc. Và nơi nào chúng đoạn diệt, Nơi ấy được họ xem là đau khổ."
Sukhaṁ diṭṭhamariyebhi, sakkāyassa nirodhanaṁ; Paccanīkamidaṁ hoti, sabbalokena passataṁ.
The noble ones have seen that happiness is the cessation of substantial reality. This insight by those who see contradicts the whole world.
“Các bậc Thánh đã thấy sự đoạn diệt của thân kiến là hạnh phúc. Cái thấy này đối nghịch với tất cả thế gian.”
Yaṁ pare sukhato āhu, tadariyā āhu dukkhato; Yaṁ pare dukkhato āhu, tadariyā sukhato vidū.
What others say is happiness the noble ones say is suffering. What others say is suffering the noble ones know as happiness.
“Cái gì kẻ khác gọi là hạnh phúc, các bậc Thánh gọi đó là đau khổ. Cái gì kẻ khác gọi là đau khổ, các bậc Thánh biết đó là hạnh phúc.”
Passa dhammaṁ durājānaṁ, sammūḷhettha aviddasu; Nivutānaṁ tamo hoti, andhakāro apassataṁ.
See, this teaching is hard to understand, it confuses the ignorant. There is darkness for the shrouded; blackness for those who don’t see.
“Hãy xem Pháp khó thấy này, ở đây kẻ vô trí bị mê mờ. Đối với những người bị che lấp, đó là bóng tối; là sự u ám cho những người không thấy.”
Satañca vivaṭaṁ hoti, āloko passatāmiva; Santike na vijānanti, maggā dhammassa akovidā.
But the good are open; like light for those who see. Though close, they do not understand, the seekers inexpert in the teaching.
“Đối với các bậc thiện nhân, Pháp được rộng mở, là ánh sáng cho những người thấy. Dù ở gần, họ vẫn không biết, những kẻ không thông thạo về Pháp.”
Bhavarāgaparetebhi, bhavarāgānusārībhi; Māradheyyānupannehi, nāyaṁ dhammo susambudho.
They’re mired in desire for continued existence, flowing along the stream of lives, mired in Māra’s dominion: this teaching isn’t easy for them to understand.
“Bởi những người bị tham ái hữu trói buộc, bởi những người chạy theo tham ái hữu, bởi những người rơi vào lãnh địa của Ma vương, Pháp này không dễ gì giác ngộ.”
Ko nu aññatra mariyebhi, Padaṁ sambuddhumarahati; Yaṁ padaṁ sammadaññāya, Parinibbanti anāsavā”ti.
Tatiyaṁ.
Who, apart from the noble ones, is qualified to understand this state? Having rightly understood this state, the undefiled are fully extinguished.”
“Ngoài các bậc Thánh, ai có thể xứng đáng giác ngộ trạng thái ấy? Trạng thái mà sau khi đã chánh trí, các vị lậu tận đạt đến viên tịch.” Kinh thứ ba.