- Saṁyutta Nikāya 35.127
- 13. Gahapativagga
Bản dịch
SN 35.127 — Kinh Bhāradvāja
Bhāradvājasutta
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Piṇḍolabhāradvāja trú ở Kosambi, tại vườn Ghosità.
Vi-n 2 Rồi vua Udena đi đến Tôn giả Piṇḍolabhāradvāja; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Piṇḍolabhāradvāja những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, vua Udena thưa với Tôn giả Piṇḍolabhāradvāja:
—Thưa Bharadvāja, do nhân gì, do duyên gì, những Tỷ-kheo trẻ tuổi này, còn non trẻ, tóc đen nhánh, đầy đủ với tuổi trẻ hiền thiện, trong lúc tuổi còn thanh xuân lại không tham nhiễm dục vọng, thực hành Phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh cho đến trọn đời, và sống toàn thời gian một cách hoàn mãn (addhànam apàdenti)?
Vi-n 4 —Thưa Ðại vương, Thế Tôn, bậc Tri giả, Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói như sau: “Hãy đến, này các Tỷ-kheo, đối với những người chỉ là mẹ, hãy an trú tâm người mẹ. Ðối với những người chỉ là chị, hãy an trú tâm người chị. Ðối với người chỉ là con gái, hãy an trú tâm người con gái. Thưa Ðại Vương, đây là nhân, đây là duyên, do vậy các Tỷ-kheo trẻ tuổi này, còn non trẻ, tóc đen nhánh, đầy đủ với tuổi trẻ hiền thiện, trong lúc tuổi còn thanh xuân lại không tham nhiễm dục vọng, thực hành Phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh cho đến trọn đời, và sống toàn thời gian một cách hoàn mãn.
Vi-n 5 —Tham vọng (loba), này Bharadvāja, là tâm. Ðôi khi đối với những người chỉ là mẹ, tham pháp khởi lên. Ðối với những người chỉ là chị, tham pháp khởi lên. Ðối với những người chỉ là con gái, tham pháp khởi lên. Này Bharadvāja, có một nhân khác, có một duyên khác, do vậy các Tỷ-kheo trẻ tuổi này … một cách hoàn mãn?
Vi-n 6 —Thưa Ðại vương, Thế Tôn, bậc Tri giả, Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói như sau: “Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên, trên từ đảnh tóc trở xuống, bao bọc bởi da và chứa đầy bất tịnh sai biệt. Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, bao tử, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu. Thưa Ðại vương, đây là nhân, đây là duyên, do vậy các Tỷ-kheo trẻ tuổi này … sống toàn thời gian một cách hoàn mãn.
Vi-n 7 —Này Bharadvāja, đối với những Tỷ-kheo nào, thân có tu tập, giới có tu tập, tâm có tu tập, tuệ có tu tập, thời như vậy thật là dễ dàng. Và này Bharadvāja, đối với những Tỷ-kheo nào, thân không có tu tập, giới không có tu tập, tâm không có tu tập, tuệ không có tu tập thời như vậy thật là khó khăn. Ðôi khi, này Bharadvāja, có người nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ tác ý bất tịnh”, nhưng lại đi đến tịnh (tướng). Này Bharadvāja, có nhân nào khác, duyên nào khác, do vậy các Tỷ-kheo trẻ tuổi này … sống toàn thời gian một cách hoàn mãn?
Vi-n 8 —Thưa Ðại vương, Thế Tôn, bậc Tri giả, Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói như sau: “Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy sống hộ trì các căn. Sau khi mắt thấy sắc, chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì đó nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên; hãy thực hành chế ngự nguyên nhân ấy, hãy hộ trì nhãn căn, thực hành hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng … khi mũi ngửi hương … khi lưỡi nếm vị … khi thân cảm xúc … khi ý nhận thức các pháp, chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì đó ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên; hãy thực hành chế ngự nguyên nhân ấy, hãy hộ trì ý căn, thực hành hộ trì ý căn. Thưa Ðại vương, đây là nhân, đây là duyên, do vậy những Tỷ-kheo trẻ tuổi này … sống toàn thời gian một cách hoàn mãn.
Vi-n 9 —Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Bharadvāja! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Bharadvāja, là lời khéo nói này của Thế Tôn, bậc Tri giả, Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính nhân này, thưa Tôn giả Bharadvāja, chính duyên này, do vậy các Tỷ-kheo trẻ tuổi này, còn non trẻ, tóc đen nhánh, đầy đủ với tuổi trẻ hiền thiện, trong lúc tuổi còn thanh xuân, lại không tham nhiễm dục vọng, thực hành Phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh cho đến trọn đời, sống toàn thời gian một cách hoàn mãn.
Vi-n 10 Tôi cũng vậy, thưa Tôn giả Bharadvāja, khi nào tôi vào trong nội cung với thân không phòng hộ, với lời nói không phòng hộ, với tâm không phòng hộ, với niệm không an trú, với các căn không chế ngự; thời trong khi ấy, tham pháp chinh phục tôi. Nhưng thưa Tôn giả Bharadvāja, trong khi tôi vào nội cung, với thân được phòng hộ, với lời nói được phòng hộ, với tâm được phòng hộ, với niệm được an trú, với các căn được chế ngự; thời trong khi ấy, tham pháp không chinh phục tôi.
Vi-n 11 Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Bharadvāja! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Bharadvāja! Thưa Tôn giả Bharadvāja, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để cho những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Bharadvāja dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay, thưa Tôn giả Bharadvāja, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Tôn giả Bharadvāja hãy nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.127
- 13. Householders
With Bhāradvāja
4. Kinh Bhāradvāja
Ekaṁ samayaṁ āyasmā piṇḍolabhāradvājo kosambiyaṁ viharati ghositārāme. Atha kho rājā udeno yenāyasmā piṇḍolabhāradvājo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā piṇḍolabhāradvājena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho rājā udeno āyasmantaṁ piṇḍolabhāradvājaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bho bhāradvāja, hetu ko paccayo yenime daharā bhikkhū susū kāḷakesā bhadrena yobbanena samannāgatā paṭhamena vayasā anikīḷitāvino kāmesu yāvajīvaṁ paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ caranti, addhānañca āpādentī”ti?
“Vuttaṁ kho etaṁ, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena:
‘etha tumhe, bhikkhave, mātumattīsu mātucittaṁ upaṭṭhapetha, bhaginimattīsu bhaginicittaṁ upaṭṭhapetha, dhītumattīsu dhītucittaṁ upaṭṭhapethā’ti.
Ayaṁ kho, mahārāja, hetu, ayaṁ paccayo yenime daharā bhikkhū susū kāḷakesā bhadrena yobbanena samannāgatā paṭhamena vayasā anikīḷitāvino kāmesu yāvajīvaṁ paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ caranti, addhānañca āpādentī”ti.
At one time Venerable Bhāradvāja the Alms-Gatherer was staying near Kosambī in Ghosita’s monastery. Then King Udena went up to Bhāradvāja the Alms-Gatherer and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side, and said to him:
“Worthy Bhāradvāja, there are these young monks who are youthful, with pristine black hair, blessed with youth, in the prime of life; and they’ve never played around with sensual pleasures. What is the cause, what is the reason why they practice the full and pure spiritual life as long as they live, maintaining it for a long time?”
“Great king, this has been stated by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha:
‘Please, monks, think of women your mother’s age as your mother. Think of women your sister’s age as your sister. And think of women your daughter’s age as your daughter.’
This is a cause, Great King, this is a reason why these young monks practice the full and pure spiritual life as long as they live, maintaining it for a long time.”
127. Một thời, Tôn giả Piṇḍolabhāradvāja trú tại Kosambī, trong khu vườn Ghosita. Bấy giờ, vua Udena đi đến chỗ Tôn giả Piṇḍolabhāradvāja; sau khi đến, đã cùng Tôn giả Piṇḍolabhāradvāja chào hỏi thăm viếng. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân tình, đáng ghi nhớ, vua ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vua Udena bạch với Tôn giả Piṇḍolabhāradvāja rằng: – ‘Thưa Tôn giả Bhāradvāja, do nhân gì, do duyên gì mà các vị tỳ khưu trẻ tuổi này, còn thanh xuân, tóc đen nhánh, đầy đủ tuổi thanh xuân tốt đẹp, trong thời niên thiếu, chưa từng vui đùa trong các dục, lại có thể thực hành phạm hạnh trọn vẹn, thanh tịnh cho đến trọn đời, và duy trì được lâu dài như vậy?’ – ‘Thưa Đại vương, điều này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, hãy đến đây, các con đối với những người đáng tuổi mẹ, hãy khởi lên tâm như mẹ; đối với những người đáng tuổi chị em, hãy khởi lên tâm như chị em; đối với những người đáng tuổi con gái, hãy khởi lên tâm như con gái.’ Thưa Đại vương, đây chính là nhân, đây chính là duyên mà các vị tỳ khưu trẻ tuổi này, còn thanh xuân, tóc đen nhánh, đầy đủ tuổi thanh xuân tốt đẹp, trong thời niên thiếu, chưa từng vui đùa trong các dục, lại có thể thực hành phạm hạnh trọn vẹn, thanh tịnh cho đến trọn đời, và duy trì được lâu dài như vậy.’
“Lolaṁ kho, bho bhāradvāja, cittaṁ. Appekadā mātumattīsupi lobhadhammā uppajjanti, bhaginimattīsupi lobhadhammā uppajjanti, dhītumattīsupi lobhadhammā uppajjanti. Atthi nu kho, bho bhāradvāja, añño ca hetu, añño ca paccayo yenime daharā bhikkhū susū kāḷakesā …pe… addhānañca āpādentī”ti?
“But worthy Bhāradvāja, the mind is wanton. Sometimes thoughts of desire come up even for women your mother’s age, your sister’s age, or your daughter’s age. Is there another cause, another reason why these young monks live the full and pure spiritual life for their entire life?”
– ‘Thưa Tôn giả Bhāradvāja, tâm quả là dao động. Có khi, đối với những người đáng tuổi mẹ, các pháp tham ái cũng khởi lên; đối với những người đáng tuổi chị em, các pháp tham ái cũng khởi lên; đối với những người đáng tuổi con gái, các pháp tham ái cũng khởi lên. Thưa Tôn giả Bhāradvāja, có còn nhân nào khác, có còn duyên nào khác, mà các vị tỳ khưu trẻ tuổi này, tóc đen nhánh... cho đến... duy trì được lâu dài như vậy không?’
“Vuttaṁ kho etaṁ, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena:
‘etha tumhe, bhikkhave, imameva kāyaṁ uddhaṁ pādatalā adho kesamatthakā tacapariyantaṁ pūraṁ nānappakārassa asucino paccavekkhatha—atthi imasmiṁ kāye kesā lomā nakhā dantā taco maṁsaṁ nhāru aṭṭhi aṭṭhimiñjaṁ vakkaṁ hadayaṁ yakanaṁ kilomakaṁ pihakaṁ papphāsaṁ antaṁ antaguṇaṁ udariyaṁ karīsaṁ pittaṁ semhaṁ pubbo lohitaṁ sedo medo assu vasā kheḷo siṅghāṇikā lasikā muttan’ti.
Ayampi kho, mahārāja, hetu, ayaṁ paccayo yenime daharā bhikkhū susū kāḷakesā …pe… addhānañca āpādentī”ti.
“Ye te, bho bhāradvāja, bhikkhū bhāvitakāyā bhāvitasīlā bhāvitacittā bhāvitapaññā, tesaṁ taṁ sukaraṁ hoti. Ye ca kho te, bho bhāradvāja, bhikkhū abhāvitakāyā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā, tesaṁ taṁ dukkaraṁ hoti. Appekadā, bho bhāradvāja, asubhato manasi karissāmīti subhatova āgacchati. Atthi nu kho, bho bhāradvāja, añño ca kho hetu añño ca paccayo yenime daharā bhikkhū susū kāḷakesā …pe… addhānañca āpādentī”ti?
“Great king, this has been stated by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha:
‘Please, monks, examine your own body up from the soles of the feet and down from the tips of the hairs, wrapped in skin and full of many kinds of filth. In this body there is head hair, body hair, nails, teeth, skin, flesh, sinews, bones, bone marrow, kidneys, heart, liver, diaphragm, spleen, lungs, intestines, mesentery, undigested food, feces, bile, phlegm, pus, blood, sweat, fat, tears, grease, saliva, snot, synovial fluid, urine.’
This is also a cause, Great King, this is a reason why these young monks live the full and pure spiritual life for their entire life, maintaining it for a long time.”
“This is easy to do for those mendicants who have developed their physical endurance, ethics, mind, and wisdom. But it’s hard to do for those mendicants who have not developed their physical endurance, ethics, mind, and wisdom. Sometimes I plan to focus on something as ugly, but only its beauty comes to mind. Is there another cause, another reason why these young monks live the full and pure spiritual life for their entire life?”
– ‘Thưa Đại vương, điều này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, hãy đến đây, các con hãy quán xét chính thân này, từ lòng bàn chân trở lên, từ ngọn tóc trở xuống, bao bọc bởi da, chứa đầy các thứ bất tịnh khác nhau: trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, dạ dày, phân, mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ đặc, nước mắt, mỡ lỏng, nước bọt, nước mũi, hoạt dịch, nước tiểu.’ Thưa Đại vương, đây cũng là nhân, đây cũng là duyên mà các vị tỳ khưu trẻ tuổi này, tóc đen nhánh... cho đến... duy trì được lâu dài như vậy.’ – ‘Thưa Tôn giả Bhāradvāja, đối với những vị tỳ khưu đã tu tập về thân, đã tu tập về giới, đã tu tập về tâm, đã tu tập về tuệ, thì việc ấy dễ làm. Còn đối với những vị tỳ khưu chưa tu tập về thân, chưa tu tập về giới, chưa tu tập về tâm, chưa tu tập về tuệ, thì việc ấy khó làm. Thưa Tôn giả Bhāradvāja, có khi, dù có ý định tác ý về bất tịnh, nhưng (tâm) lại hướng về tịnh tướng. Thưa Tôn giả Bhāradvāja, có còn nhân nào khác, có còn duyên nào khác, mà các vị tỳ khưu trẻ tuổi này, tóc đen nhánh... cho đến... duy trì được lâu dài như vậy không?’
“Vuttaṁ kho etaṁ, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena:
‘etha tumhe, bhikkhave, indriyesu guttadvārā viharatha. Cakkhunā rūpaṁ disvā mā nimittaggāhino ahuvattha, mānubyañjanaggāhino. Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjatha. Rakkhatha cakkhundriyaṁ; cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjatha. Sotena saddaṁ sutvā …pe… ghānena gandhaṁ ghāyitvā … jivhāya rasaṁ sāyitvā … kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā … manasā dhammaṁ viññāya mā nimittaggāhino ahuvattha, mānubyañjanaggāhino. Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjatha. Rakkhatha manindriyaṁ; manindriye saṁvaraṁ āpajjathā’ti.
Ayampi kho, mahārāja, hetu ayaṁ paccayo yenime daharā bhikkhū susū kāḷakesā bhadrena yobbanena samannāgatā paṭhamena vayasā anikīḷitāvino kāmesu yāvajīvaṁ paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ caranti, addhānañca āpādentī”ti.
“Acchariyaṁ, bho bhāradvāja; abbhutaṁ, bho bhāradvāja.
“Great king, this has been stated by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha:
‘Please, monks, live with sense doors guarded. When you see a sight with your eyes, don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, practice restraint, protect the faculty of sight, and achieve its restraint. When you hear a sound with your ears … When you smell an odor with your nose … When you taste a flavor with your tongue … When you feel a touch with your body … When you know an idea with your mind, don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, practice restraint, protect the faculty of mind, and achieve its restraint.’
This is also a cause, Great King, this is a reason why these young monks practice the full and pure spiritual life as long as they live, maintaining it for a long time.”
“It’s incredible, worthy Bhāradvāja, it’s amazing!
– ‘Thưa Đại vương, điều này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, hãy đến đây, các con hãy sống hộ trì các căn. Sau khi thấy sắc bằng mắt, chớ nắm giữ tướng chung, chớ nắm giữ tướng riêng. Do nhân nào mà nếu nhãn căn không được chế ngự, các pháp ác, bất thiện như tham ái và ưu bi có thể xâm nhập, hãy thực hành để chế ngự nhân đó. Hãy bảo vệ nhãn căn; hãy thực hành sự chế ngự trong nhãn căn. Sau khi nghe tiếng bằng tai... sau khi ngửi hương bằng mũi... sau khi nếm vị bằng lưỡi... sau khi cảm xúc bằng thân... sau khi biết pháp bằng ý, chớ nắm giữ tướng chung, chớ nắm giữ tướng riêng. Do nhân nào mà nếu ý căn không được chế ngự, các pháp ác, bất thiện như tham ái và ưu bi có thể xâm nhập, hãy thực hành để chế ngự nhân đó. Hãy bảo vệ ý căn; hãy thực hành sự chế ngự trong ý căn.’ Thưa Đại vương, đây cũng là nhân, đây cũng là duyên mà các vị tỳ khưu trẻ tuổi này, còn thanh xuân, tóc đen nhánh, đầy đủ tuổi thanh xuân tốt đẹp, trong thời niên thiếu, chưa từng vui đùa trong các dục, lại có thể thực hành phạm hạnh trọn vẹn, thanh tịnh cho đến trọn đời, và duy trì được lâu dài như vậy.’
Ahampi kho, bho bhāradvāja, yasmiṁ samaye arakkhiteneva kāyena, arakkhitāya vācāya, arakkhitena cittena, anupaṭṭhitāya satiyā, asaṁvutehi indriyehi antepuraṁ pavisāmi, ativiya maṁ tasmiṁ samaye lobhadhammā parisahanti. Yasmiñca khvāhaṁ, bho bhāradvāja, samaye rakkhiteneva kāyena, rakkhitāya vācāya, rakkhitena cittena, upaṭṭhitāya satiyā, saṁvutehi indriyehi antepuraṁ pavisāmi, na maṁ tathā tasmiṁ samaye lobhadhammā parisahanti.
Abhikkantaṁ, bho bhāradvāja, abhikkantaṁ, bho bhāradvāja. Seyyathāpi, bho bhāradvāja, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā bhāradvājena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ, bho bhāradvāja, taṁ bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi, dhammañca, bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ bhāradvājo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Catutthaṁ.
For sometimes I too enter the harem with unprotected body, speech, mind, mindfulness, and sense faculties. At those times powerful thoughts of desire get the better of me. But sometimes I enter the harem with protected body, speech, mind, mindfulness, and sense faculties. At those times such thoughts of desire don’t get the better of me.
Excellent, worthy Bhāradvāja! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the worthy Bhāradvāja has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Bhāradvāja remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
“Thật kỳ diệu thay, thưa ngài Bhāradvāja! Thật hy hữu thay, thưa ngài Bhāradvāja! Lời dạy này đã được đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác khéo thuyết giảng biết bao, thưa ngài Bhāradvāja! Thưa ngài Bhāradvāja, đây chính là nhân, đây chính là duyên mà các vị tỳ khưu trẻ tuổi này, tóc còn đen nhánh, đầy đủ tuổi thanh xuân tốt đẹp, trong tuổi đầu đời, không vui đùa trong các dục, đã sống đời phạm hạnh trọn vẹn, thanh tịnh cho đến trọn đời, và đạt được sự lâu dài. Thưa ngài Bhāradvāja, chính con cũng vậy, vào lúc nào con đi vào hậu cung với thân không được phòng hộ, với lời nói không được phòng hộ, với tâm không được phòng hộ, với niệm không được an trú, với các căn không được thu thúc, vào lúc ấy, các pháp tham ái xâm chiếm con một cách mãnh liệt. Và thưa ngài Bhāradvāja, vào lúc nào con đi vào hậu cung với thân được phòng hộ, với lời nói được phòng hộ, với tâm được phòng hộ, với niệm được an trú, với các căn được thu thúc, vào lúc ấy, các pháp tham ái không xâm chiếm con như vậy. Thật vi diệu thay, thưa ngài Bhāradvāja! Thật vi diệu thay, thưa ngài Bhāradvāja! Thưa ngài Bhāradvāja, ví như người ta lật ngửa vật bị úp, hay mở ra vật bị che đậy, hay chỉ đường cho người bị lạc, hay cầm ngọn đèn dầu trong bóng tối với ý nghĩ: ‘Để những người có mắt sẽ thấy được các sắc’; cũng vậy, Pháp đã được ngài Bhāradvāja tuyên thuyết bằng nhiều phương tiện. Thưa ngài Bhāradvāja, con nay xin quy y đức Thế Tôn ấy, quy y Pháp, và quy y Tăng chúng Tỳ khưu. Kể từ hôm nay, mong ngài Bhāradvāja hãy ghi nhận con là một nam cư sĩ đã trọn đời quy y.” Hết kinh thứ tư.