- Saṁyutta Nikāya 35.114
- 12. Lokakāmaguṇavagga
Bản dịch
SN 35.114 — Kinh Lưới Ma (Thứ Nhất)
Paṭhamamārapāsasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2-7. —Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu một Tỷ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương, tham luyến an trú; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã đi đến trú xứ của Ma, đã bị Ma chinh phục. Lưới bẫy của Ma đoanh vây vị ấy. Bị Ma trói buộc, vị ấy bị Ác ma muốn làm gì vị ấy thì làm … Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ pháp ấy, tán dương, tham luyến an trú; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã đi đến trú xứ của Ma, đã bị Ma chinh phục. Lưới bẫy của Ma đoanh vây vị ấy. Bị Ma trói buộc, vị ấy bị Ác ma muốn làm gì vị ấy thì làm.
Vi-n 8-13. Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không tham luyến an trú; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo không đi đến trú xứ của Ma, không bị Ma chinh phục. Lưới bẫy của Ma không đoanh vây vị ấy. Ðược giải thoát khỏi Ma trói buộc, vị ấy không bị Ác ma muốn làm gì vị ấy thì làm … Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không tham luyến an trú; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo không đi đến trú xứ của Ma, không bị Ma chinh phục. Lưới bẫy của Ma không đoanh vây vị ấy. Ðược giải thoát khỏi Ma trói buộc, vị ấy không bị Ác ma muốn làm gì vị ấy thì làm.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.114
- 12. The World and the Kinds of Sensual Stimulation
Māra’s Snare (1st)
1. Kinh Lưới Ma (Thứ Nhất)
“Santi, bhikkhave, cakkhuviññeyyā rūpā, iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati—ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu āvāsagato mārassa, mārassa vasaṁ gato, paṭimukkassa mārapāso. Baddho so mārabandhanena yathākāmakaraṇīyo pāpimato …pe….
“Mendicants, there are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, they’re called a mendicant trapped in Māra’s lair, fallen under Māra’s sway, and caught in Māra’s snare. They’re bound by Māra’s bonds, and the Wicked One can do with them what he wants.
114. Này các tỳ khưu, có những sắc pháp do nhãn thức nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả lạc, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ. Nếu vị tỳ khưu hoan hỷ, tán dương, và chấp giữ sắc pháp ấy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được gọi là đã đi vào trú xứ của Ma, đã rơi vào quyền lực của Ma, đã bị lưới ma trói buộc. Vị ấy bị trói buộc bởi xiềng xích của Ma, bị Ác ma tùy ý sử dụng... Tương tự...
Santi, bhikkhave, jivhāviññeyyā rasā, iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati—ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu āvāsagato mārassa, mārassa vasaṁ gato, paṭimukkassa mārapāso. Baddho so mārabandhanena …pe….
There are sounds … smells … tastes … touches …
Này các tỳ khưu, có những vị pháp do thiệt thức nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả lạc, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ. Nếu vị tỳ khưu hoan hỷ, tán dương, và chấp giữ vị pháp ấy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được gọi là đã đi vào trú xứ của Ma, đã rơi vào quyền lực của Ma, đã bị lưới ma trói buộc. Vị ấy bị trói buộc bởi xiềng xích của Ma... Tương tự...
Santi, bhikkhave, manoviññeyyā dhammā, iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati—ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu āvāsagato mārassa, mārassa vasaṁ gato, paṭimukkassa mārapāso. Baddho so mārabandhanena yathākāmakaraṇīyo pāpimato …pe…
There are ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keep clinging to them, they’re called a mendicant trapped in Māra’s lair, fallen under Māra’s sway, and caught in Māra’s snare. They’re bound by Māra, and the Wicked One can do with them what he wants.
Này các tỳ khưu, có những pháp do ý thức nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả lạc, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ. Nếu vị tỳ khưu hoan hỷ, tán dương, và chấp giữ pháp ấy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được gọi là đã đi vào trú xứ của Ma, đã rơi vào quyền lực của Ma, đã bị lưới ma trói buộc. Vị ấy bị trói buộc bởi xiềng xích của Ma, bị Ác ma tùy ý sử dụng.
Santi ca kho, bhikkhave, cakkhuviññeyyā rūpā, iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati—ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu nāvāsagato mārassa, na mārassa vasaṁ gato, ummukkassa mārapāso. Mutto so mārabandhanena na yathākāmakaraṇīyo pāpimato …pe….
Santi, bhikkhave, jivhāviññeyyā rasā, iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati—
There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them, they’re called a mendicant not trapped in Māra’s lair, not fallen under Māra’s sway, and released from Māra’s snare. They’re free from Māra’s bonds, and the Wicked One cannot do with them what he wants.
There are sounds … smells … tastes … touches …
Này các tỳ khưu, có các sắc pháp được nhận biết bởi nhãn thức, đáng mong cầu, đáng ưa thích, đáng hài lòng, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính chất khơi dậy lòng tham ái. Nếu vị tỳ khưu không hoan hỷ, không tán dương, không an trú với sự chấp thủ đối với sắc pháp ấy – này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này được gọi là người đã được giải thoát khỏi các sắc pháp được nhận biết bởi nhãn thức, không phải là nơi trú ngụ của Ma vương, không bị Ma vương chi phối, đã tháo gỡ được vòng dây của Ma vương. Vị ấy đã được giải thoát khỏi sự trói buộc của Ma vương, không còn bị kẻ ác ma làm theo ý muốn... v.v...
Santi, bhikkhave, manoviññeyyā dhammā, iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati—
There are ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them,
Này các tỳ khưu, có những vị pháp do thiệt thức nhận biết... Tương tự... Này các tỳ khưu, có những pháp do ý thức nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả lạc, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ. Nếu vị tỳ khưu hoan hỷ, tán dương, và chấp giữ pháp ấy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được gọi là bị trói buộc bởi các pháp do ý thức nhận biết, đã đi vào trú xứ của Ma, đã rơi vào quyền lực của Ma, đã bị lưới ma trói buộc. Vị ấy bị trói buộc bởi xiềng xích của Ma, bị Ác ma tùy ý sử dụng... Tương tự...
115. Này các tỳ khưu, có những sắc pháp do nhãn thức nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả lạc, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ. Nếu vị tỳ khưu hoan hỷ, tán dương, và chấp giữ sắc pháp ấy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được gọi là bị trói buộc bởi các sắc pháp do nhãn thức nhận biết, đã đi vào trú xứ của Ma, đã rơi vào quyền lực của Ma, đã bị lưới ma trói buộc. Vị ấy bị trói buộc bởi xiềng xích của Ma, bị Ác ma tùy ý sử dụng... Tương tự...
Paṭhamaṁ.
Này các tỳ khưu, có các vị pháp được nhận biết bởi thiệt thức... v.v... Này các tỳ khưu, có các pháp được nhận biết bởi ý thức, đáng mong cầu, đáng ưa thích, đáng hài lòng, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính chất khơi dậy lòng tham ái. Nếu vị tỳ khưu không hoan hỷ, không tán dương, không an trú với sự chấp thủ đối với pháp ấy – này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này được gọi là người đã được giải thoát khỏi các pháp được nhận biết bởi ý thức, không phải là nơi trú ngụ của Ma vương, không bị Ma vương chi phối, đã tháo gỡ được vòng dây của Ma vương. Vị ấy đã được giải thoát khỏi sự trói buộc của Ma vương, không còn bị kẻ ác ma làm theo ý muốn. (Kinh thứ hai).