- Saṁyutta Nikāya 35.108
- 11. Yogakkhemivagga
Bản dịch
SN 35.108 — Seyyohamasmisutta
Seyyohamasmisutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, do có cái gì, do chấp thủ cái gì, do thiên chấp cái gì nên có: “Thắng hơn là tôi”, “Ngang bằng là tôi” hay “Thấp kém là tôi”?
Vi-n 3 —Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản …
Vi-n 4-9. —Này các Tỷ-kheo, do có mắt, do chấp thủ mắt, do thiên chấp mắt nên có: “Thắng hơn là tôi”, “Ngang bằng là tôi” hay “Thấp kém là tôi” … Do có ý, do chấp thủ ý, do thiên chấp ý nên có: “Thắng hơn là tôi”, “Ngang bằng là tôi” hay “Thấp kém là tôi”.
Vi-n 10 Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái vì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thời (có thể) có ý nghĩ: “Thắng hơn là tôi”, “Ngang bằng là tôi”, hay “Thấp kém là tôi” không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 11 —Tai là thường hay vô thường …
Vi-n 12 Mũi là thường hay vô thường …
Vi-n 13 Lưỡi là thường hay vô thường …
Vi-n 14 Thân là thường hay vô thường …
Vi-n 15 Ý là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thời (có thể) có ý nghĩ: “Thắng hơn là tôi”, “Ngang bằng là tôi” hay “Thấp kém là tôi” không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 16 —Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt … nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy được giải thoát … “ … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.108
- 11. Sanctuary from the Yoke
I’m Better
5. Bài kinh về 'Tôi Hơn'
“Kismiṁ nu kho, bhikkhave, sati kiṁ upādāya kiṁ abhinivissa seyyohamasmīti vā hoti, sadisohamasmīti vā hoti, hīnohamasmīti vā hotī”ti?
“Mendicants, when what exists, because of grasping what and insisting on what, do people think ‘I’m better’ or ‘I’m equal’ or ‘I’m worse’?”
108. “Này các Tỳ khưu, khi có cái gì, do chấp thủ cái gì, do cố chấp vào cái gì, mà ý niệm ‘tôi hơn’, hoặc ‘tôi bằng’, hoặc ‘tôi thua’ khởi lên?”
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe….
“Our teachings are rooted in the Buddha. …”
“Bạch Thế Tôn, các pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm căn bản.”
“Cakkhusmiṁ kho, bhikkhave, sati cakkhuṁ upādāya cakkhuṁ abhinivissa seyyohamasmīti vā hoti, sadisohamasmīti vā hoti, hīnohamasmīti vā hoti …pe… jivhāya sati …pe…
manasmiṁ sati manaṁ upādāya manaṁ abhinivissa seyyohamasmīti vā hoti, sadisohamasmīti vā hoti, hīnohamasmīti vā hoti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, cakkhu niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“When there’s an eye, because of grasping the eye and insisting on the eye, people think ‘I’m better’ or ‘I’m equal’ or ‘I’m worse’. …
When there’s a mind, because of grasping the mind and insisting on the mind, people think ‘I’m better’ or ‘I’m equal’ or ‘I’m worse’.
What do you think, mendicants? Is the eye permanent or impermanent?”
“Này các tỳ khưu, khi có con mắt, do duyên vào con mắt, do chấp thủ vào con mắt, liền có (sự suy nghĩ) rằng: ‘Ta hơn’, hoặc có (sự suy nghĩ) rằng: ‘Ta bằng’, hoặc có (sự suy nghĩ) rằng: ‘Ta thua kém’. ... Này các tỳ khưu, khi có cái lưỡi ... Này các tỳ khưu, khi có ý, do duyên vào ý, do chấp thủ vào ý, liền có (sự suy nghĩ) rằng: ‘Ta hơn’, hoặc có (sự suy nghĩ) rằng: ‘Ta bằng’, hoặc có (sự suy nghĩ) rằng: ‘Ta thua kém’. Này các tỳ khưu, các ngươi nghĩ thế nào, con mắt là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante”.
“Impermanent, sir.”
“Bạch ngài, là vô thường.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Cái gì vô thường, cái ấy là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
“Bạch ngài, là khổ.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya seyyohamasmīti vā assa, sadisohamasmīti vā assa, hīnohamasmīti vā assā”ti?
“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would people think ‘I’m better’ or ‘I’m equal’ or ‘I’m worse’?”
“Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, nếu không chấp thủ vào nó, liệu có thể có (sự suy nghĩ) rằng: ‘Ta hơn’, hoặc có (sự suy nghĩ) rằng: ‘Ta bằng’, hoặc có (sự suy nghĩ) rằng: ‘Ta thua kém’ không?”
“No hetaṁ, bhante” …pe… jivhā … niccā vā aniccā vā”ti?
“Aniccā, bhante” …pe….
“No, sir.” …
“Bạch ngài, điều ấy không thể có. ... Cái lưỡi ... cái thân là thường hay vô thường?”
“Mano nicco vā anicco vā”ti?
“Is the mind permanent or impermanent?”
“Ý là thường hay vô thường?”
“Anicco, bhante”.
“Impermanent, sir.”
“Bạch ngài, là vô thường.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Cái gì vô thường, cái ấy là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
“Bạch ngài, là khổ.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya seyyohamasmīti vā assa, sadisohamasmīti vā assa, hīnohamasmīti vā assā”ti?
“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would people think ‘I’m better’ or ‘I’m equal’ or ‘I’m worse’?”
“Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, nếu không chấp thủ vào nó, liệu có thể có (sự suy nghĩ) rằng: ‘Ta hơn’, hoặc có (sự suy nghĩ) rằng: ‘Ta bằng’, hoặc có (sự suy nghĩ) rằng: ‘Ta thua kém’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch ngài, điều ấy không thể có.”
“Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati …pe… manasmimpi nibbindati. Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Pañcamaṁ.
“Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
“Này các tỳ khưu, khi thấy như vậy, vị thánh đệ tử có học thức trở nên nhàm chán đối với con mắt, ... trở nên nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; trong sự giải thoát, trí tuệ khởi lên rằng: ‘Đã được giải thoát’. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’.”