- Saṁyutta Nikāya 34.55
- 1. Jhānavagga
Bản dịch
SN 34.55 — Sātaccamūlakasappāyakārīsutta
Sātaccamūlakasappāyakārīsutta
Vi-n 1-3. Nhân duyên ở Sāvatthi …
—Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người tu Thiền này. Thế nào là bốn?
Vi-n 4 Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo về kiên trì trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về thích ứng trong Thiền định.
Vi-n 5 Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo về thích ứng trong Thiền định, nhưng không thiện xảo về kiên trì trong Thiền định.
Vi-n 6 Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, không thiện xảo về kiên trì trong Thiền định và cũng không thiện xảo về thích ứng trong Thiền định.
Vi-n 7 Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu Thiền, thiện xảo về kiên trì trong Thiền định, và cũng thiện xảo về thích ứng trong Thiền định.
Vi-n 8 Tại đây, này các Tỷ-kheo, người tu Thiền thiện xảo về kiên trì trong Thiền định và cũng thiện xảo về thích ứng trong Thiền định. Trong bốn vị tu Thiền ấy, người tu Thiền này là tối tôn, tối thắng, là bậc thượng thủ, là tối thượng và tối diệu.
Vi-n 9 Ví như, này các Tỷ-kheo, từ bò cái, có được sữa; từ sữa có lạc; từ lạc có sanh tô; từ sanh tô có thục tô; từ thục tô có đề hồ. Và đề hồ được xem là tối tôn.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị tu Thiền này đối với bốn vị tu Thiền ấy, vị này là tối tôn, tối thắng, là bậc thượng thủ, là tối thượng, và tối diệu.
Vi-n 10 Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
(Như vậy có 55 câu trả lời vắn tắt cần phải giải thích cho rộng)
Hết Tập III
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 34.55
- 1. Absorption
Persistence and What’s Conducive
55. Kinh Sappāyakārī có gốc là Sātacca.
Sāvatthinidānaṁ.
“Cattārome, bhikkhave, jhāyī. Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, ekacco jhāyī samādhismiṁ sātaccakārī hoti, na samādhismiṁ sappāyakārī.
Idha pana, bhikkhave, ekacco jhāyī samādhismiṁ sappāyakārī hoti, na samādhismiṁ sātaccakārī.
Idha pana, bhikkhave, ekacco jhāyī neva samādhismiṁ sātaccakārī hoti, na ca samādhismiṁ sappāyakārī.
Idha pana, bhikkhave, ekacco jhāyī samādhismiṁ sātaccakārī ca hoti, samādhismiṁ sappāyakārī ca.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ jhāyī samādhismiṁ sātaccakārī ca hoti samādhismiṁ sappāyakārī ca ayaṁ imesaṁ catunnaṁ jhāyīnaṁ aggo ca seṭṭho ca mokkho ca uttamo ca pavaro ca.
Seyyathāpi, bhikkhave, gavā khīraṁ, khīramhā dadhi, dadhimhā navanītaṁ, navanītamhā sappi, sappimhā sappimaṇḍo tatra aggamakkhāyati;
evameva kho, bhikkhave, yvāyaṁ jhāyī samādhismiṁ sātaccakārī ca hoti, samādhismiṁ sappāyakārī ca ayaṁ imesaṁ catunnaṁ jhāyīnaṁ aggo ca seṭṭho ca mokkho ca uttamo ca pavaro cā”ti.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Pañcapaññāsamaṁ.
(Yathā pañcapaññāsaṁ veyyākaraṇāni honti tathā vitthāretabbāni.)
At Sāvatthī.
“Mendicants, there are these four meditators. What four?
One meditator is skilled in practicing persistently for immersion but not in doing what’s conducive to it.
One meditator is skilled in doing what’s conducive to immersion but not in practicing persistently for it.
One meditator is skilled neither in practicing persistently for immersion nor in doing what’s conducive to it.
One meditator is skilled both in practicing persistently for immersion and in doing what’s conducive to it.
Of these, the meditator skilled both in practicing persistently for immersion and in doing what’s conducive to it is the foremost, best, leading, highest, and finest of the four.
From a cow comes milk, from milk comes curds, from curds come butter, from butter comes ghee, and from ghee comes cream of ghee. And the cream of ghee is said to be the best of these.
In the same way, the meditator skilled both in practicing persistently for immersion and in doing what’s conducive to it is the foremost, best, leading, highest, and finest of the four.”
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
(All should be told in full as per the fifty-fifth discourse.)
716. Nhân duyên ở Sāvatthi. “Này các Tỷ kheo, có bốn hạng người hành thiền này. Bốn hạng nào? Này các Tỷ kheo, ở đây, có hạng người hành thiền chuyên cần thực hành về định, nhưng không thực hành thích hợp về định. Lại nữa, này các Tỷ kheo, ở đây, có hạng người hành thiền thực hành thích hợp về định, nhưng không chuyên cần thực hành về định. Lại nữa, này các Tỷ kheo, ở đây, có hạng người hành thiền không chuyên cần thực hành về định, cũng không thực hành thích hợp về định. Lại nữa, này các Tỷ kheo, ở đây, có hạng người hành thiền vừa chuyên cần thực hành về định, vừa thực hành thích hợp về định. Này các Tỷ kheo, trong bốn hạng người hành thiền ấy, người hành thiền nào vừa chuyên cần thực hành về định, vừa thực hành thích hợp về định, người này trong bốn hạng người hành thiền ấy là bậc tối thượng, là bậc tối thắng, là bậc chủ đạo, là bậc cao tột, và là bậc ưu việt. Ví như, này các Tỷ kheo, từ bò có sữa, từ sữa có sữa đông, từ sữa đông có bơ tươi, từ bơ tươi có bơ luyện, từ bơ luyện có bơ tinh luyện được xem là tối thượng; cũng vậy, này các Tỷ kheo, người hành thiền nào vừa chuyên cần thực hành về định, vừa thực hành thích hợp về định, người này trong bốn hạng người hành thiền ấy là bậc tối thượng, là bậc tối thắng, là bậc chủ đạo, là bậc cao tột, và là bậc ưu việt.” Thế Tôn đã thuyết như vậy. Các Tỷ kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn. (Kinh thứ năm mươi lăm. (Nên được trình bày chi tiết giống như năm mươi lăm bài kinh văn xuôi.))
Khandhavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Uẩn, thứ ba.
Samādhi samāpatti ṭhiti ca, Vuṭṭhānaṁ kallitārammaṇena ca; Gocarā abhinīhāro sakkacca, Sātacca athopi sappāyanti.
Định, Nhập Định, và Trụ, Xuất, Thuần Thục, và Đối Tượng; Hành Xứ, Hướng Tâm, Cẩn Trọng, Chuyên Cần, và cả Thích Hợp.
Jhānasaṁyuttaṁ samattaṁ.
Tassuddānaṁ
The Linked Discourses on Absorption are complete.
Tương Ưng Thiền được hoàn tất.
Khandha rādhasaṁyuttañca, diṭṭhiokkanta uppādā; Kilesa sāriputtā ca, nāgā supaṇṇa gandhabbā; Valāha vacchajhānanti, khandhavaggamhi terasāti.
Uẩn và Tương Ưng Rādha, Tà Kiến, Nhập, và Sanh Khởi; Phiền Não và Sāriputta, Long, Kim Xí Điểu, và Càn Thát Bà; Mây, Vaccha, và Thiền, như vậy trong Phẩm Uẩn có mười ba.
Khandhavaggasaṁyuttapāḷi niṭṭhitā.
The Book of the Aggregates is finished.
Kinh Pāli Tương Ưng Phẩm Uẩn được hoàn tất.