- Saṁyutta Nikāya 3.11
- 2. Dutiyavagga
Bản dịch
SN 3.11 — Kinh Bảy Vị Bện Tóc
Sattajaṭilasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở tại Sāvatthi, Pubbārāma (Ðông Viên), tại lâu đài Migāramātu (Lộc Tử Mẫu giảng đường).
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Thế Tôn vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, và đến ngồi tại mái hiên phía cửa ngoài.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Lúc bấy giờ, bảy vị bện tóc, bảy vị Niganthà, bảy vị lõa thể, bảy vị mặc một y và bảy vị du sĩ với thân đầy lông, với móng tay dài, lớn như cây lau, mang các dụng cụ khất sĩ đang đi ngang qua, cách Thế Tôn không xa bao nhiêu.
Vi-n 4 Rồi vua Pasenadi nước Kosala, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào phía một bên vai, quỳ xuống trên đầu gối tay mặt, chấp tay hướng về bảy vị bện tóc, bảy vị Niganthà, bảy vị lõa thể, bảy vị mặc một y và bảy vị du sĩ ấy và nói lên ba lần tên của mình: “Thưa chư Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala”.
Vi-n 5 Rồi vua Pasenadi nước Kosala, khi bảy vị bện tóc, bảy vị Niganthà, bảy vị lõa thể, bảy vị mặc một y và bảy vị du sĩ ấy đã đi qua không lâu liền đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
Vi-n 6 Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, có phải những Tôn giả ấy là những vị A-la-hán trên đời này, hay là những vị đang đi trên con đường hướng đến đạo quả A-la-hán?
Vi-n 7 —Thưa Ðại vương, khi Ðại vương còn là cư sĩ, trong khi còn sống thọ hưởng các dục, bị con cái trói buộc, quen dùng các loại chiên đàn ở xứ Kāsi, trang sức với vòng hoa, hương thơm, dầu sáp, sử dụng vàng và bạc, thời Ðại vương thật khó biết được các vị ấy là bậc A-la-hán hay là bậc đang đi con đường hướng đến A-la-hán quả.
Vi-n 8 Thưa Ðại vương, chính phải cọng trú mới biết được giới đức của một người, và phải trong một thời gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải không có tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.
Vi-n 9 Thưa Ðại vương, chính phải cùng chung một nghề mới biết được sự thanh tịnh của một người, phải trong một thời gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.
Vi-n 10 Thưa Ðại vương, chính trong thời gian bất hạnh mới biết được sự trung kiên của một người, phải trong một thời gian dài không thể không khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.
Vi-n 11 Thưa Ðại vương, chính phải đàm đạo mới biết được trí tuệ của một người, và phải trong một thời gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.
Vi-n 12 —Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn đã khéo nói như sau: ” Thưa Ðại vương, khi Ðại vương còn là cư sĩ … … không phải không với ác tuệ”!
Vi-n 13 Bạch Thế Tôn, có những người trinh thám này của con, những người trinh sát, sau khi đi trinh sát một nước, họ đến con. Trước hết họ báo cáo rồi con mới đúc kết.
Vi-n 14 Bạch Thế Tôn, ở đây những người ấy sau khi tẩy sạch bụi và nhớp, sau khi tắm rửa và xoa dầu, sau khi chải sạch râu tóc, mặc áo vải trắng, họ được hầu hạ săn sóc và cho thọ hưởng năm dục công đức.
Vi-n 15 Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy mới nói lên bài kệ:
Không phải do sắc tướng,
Biết rõ được con người,
Không phải nhìn thoáng qua,
Ðặt được lòng tin cậy.
Dưới bộ áo đạo đức,
Với hình tướng tự chế,
Những kẻ sống buông thả,
Sống phây phây đời này.
Như bông tai bằng đất,
Giả dạng bông tai thật,
Như nửa tiền bằng đồng,
Ðược sơn phết lớp vàng.
Một số sống che đậy,
Ẩn kín dưới bề ngoài,
Nội thân thật bất tịnh,
Mặt ngoài giả mỹ diệu.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 3.11
- 2. Childless
Seven Matted-Hair Ascetics
1. Kinh Bảy Vị Bện Tóc
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde.
Tena kho pana samayena bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito bahidvārakoṭṭhake nisinno hoti. Atha kho rājā pasenadi kosalo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in the stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery.
Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and sat outside the gate. Then King Pasenadi of Kosala went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side.
122. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Pubbārāma, trong lâu đài của mẹ Migāra. Bấy giờ, vào buổi chiều, sau khi xuất khỏi nơi độc cư, Thế Tôn ngồi ở bên ngoài cổng vòm. Khi ấy, vua Pasenadi nước Kosala đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Tena kho pana samayena satta ca jaṭilā satta ca nigaṇṭhā satta ca acelakā satta ca ekasāṭakā satta ca paribbājakā parūḷhakacchanakhalomā khārivividhamādāya bhagavato avidūre atikkamanti.
Atha kho rājā pasenadi kosalo uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā dakkhiṇajāṇumaṇḍalaṁ pathaviyaṁ nihantvā yena te satta ca jaṭilā satta ca nigaṇṭhā satta ca acelakā satta ca ekasāṭakā satta ca paribbājakā tenañjaliṁ paṇāmetvā tikkhattuṁ nāmaṁ sāvesi: “rājāhaṁ, bhante, pasenadi kosalo …pe… rājāhaṁ, bhante, pasenadi kosalo”ti.
Now at that time seven matted-hair ascetics, seven Jain ascetics, seven naked ascetics, seven one-cloth ascetics, and seven wanderers passed by not far from the Buddha. Their armpits and bodies were hairy, and their nails were long; and they carried their pack with shoulder-poles.
Then King Pasenadi got up from his seat, arranged his robe over one shoulder, knelt on his right knee, raised his joined palms toward those various ascetics, and pronounced his name three times: “Sirs, I am Pasenadi, king of Kosala! … I am Pasenadi, king of Kosala!”
Bấy giờ, có bảy vị bện tóc, bảy vị Nigantha, bảy vị lõa thể, bảy vị chỉ mặc một tấm áo, và bảy vị du sĩ, với lông nách, lông và móng tay chân mọc dài, mang theo nhiều loại hành trang khác nhau, đi ngang qua không xa chỗ Thế Tôn. Khi ấy, vua Pasenadi nước Kosala từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt thượng y qua một bên vai, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay hướng về phía bảy vị bện tóc, bảy vị Nigantha, bảy vị lõa thể, bảy vị chỉ mặc một tấm áo, và bảy vị du sĩ ấy, rồi xưng tên ba lần: – ‘Thưa các ngài, tôi là vua Pasenadi nước Kosala... thưa các ngài, tôi là vua Pasenadi nước Kosala.’
Atha kho rājā pasenadi kosalo acirapakkantesu tesu sattasu ca jaṭilesu sattasu ca nigaṇṭhesu sattasu ca acelakesu sattasu ca ekasāṭakesu sattasu ca paribbājakesu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho rājā pasenadi kosalo bhagavantaṁ etadavoca: “ye te, bhante, loke arahanto vā arahattamaggaṁ vā samāpannā ete tesaṁ aññatarā”ti.
Then, not long after those ascetics had left, King Pasenadi went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, these are among those in the world who are perfected or who are on the path to perfection!”
Khi bảy vị bện tóc, bảy vị Nigantha, bảy vị lõa thể, bảy vị chỉ mặc một tấm áo, và bảy vị du sĩ ấy đã đi khỏi không bao lâu, vua Pasenadi nước Kosala đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch với Thế Tôn: – ‘Bạch Thế Tôn, những vị nào ở trên đời là bậc A-la-hán hoặc đã đạt được A-la-hán đạo, thì những vị này là một trong số đó.’
“Dujjānaṁ kho etaṁ, mahārāja, tayā gihinā kāmabhoginā puttasambādhasayanaṁ ajjhāvasantena kāsikacandanaṁ paccanubhontena mālāgandhavilepanaṁ dhārayantena jātarūparajataṁ sādiyantena: ‘ime vā arahanto, ime vā arahattamaggaṁ samāpannā’ti.
“Great king, as a layman enjoying sensual pleasures, living at home with your children, using sandalwood imported from Kāsi, wearing garlands, fragrance, and makeup, and accepting gold and currency, it’s hard for you to know who is perfected or on the path to perfection.
– ‘Thật khó biết điều đó, tâu Đại vương, đối với một người tại gia như ngài, người hưởng thụ các dục lạc, sống trong cảnh gia đình chật chội con cái, dùng gỗ chiên-đàn xứ Kāsi, mang vòng hoa, hương liệu và dầu thơm, chấp nhận vàng bạc, để biết rằng: ‘Những vị này là bậc A-la-hán, hay những vị này đã đạt được A-la-hán đạo’.’
Saṁvāsena kho, mahārāja, sīlaṁ veditabbaṁ. Tañca kho dīghena addhunā, na ittaraṁ; manasikarotā, no amanasikarotā; paññavatā, no duppaññena. Saṁvohārena kho, mahārāja, soceyyaṁ veditabbaṁ. Tañca kho dīghena addhunā, na ittaraṁ; manasikarotā, no amanasikarotā; paññavatā, no duppaññena. Āpadāsu kho, mahārāja, thāmo veditabbo. So ca kho dīghena addhunā, na ittaraṁ; manasikarotā, no amanasikarotā; paññavatā, no duppaññena. Sākacchāya, kho, mahārāja, paññā veditabbā. Sā ca kho dīghena addhunā, na ittaraṁ; manasikarotā, no amanasikarotā; paññavatā, no duppaññenā”ti.
You can get to know a person’s ethics by living with them. But only after a long time, not casually; only when attentive, not when inattentive; and only by the wise, not the witless. You can get to know a person’s purity by dealing with them. … You can get to know a person’s resilience in times of trouble. … You can get to know a person’s wisdom by discussion. But only after a long time, not casually; only when attentive, not when inattentive; and only by the wise, not the witless.”
‘Tâu Đại vương, qua việc chung sống mới biết được giới hạnh. Và điều đó phải cần một thời gian dài, không phải một thời gian ngắn; cần phải có sự chú tâm, không phải không chú tâm; cần phải có trí tuệ, không phải không có trí tuệ. Tâu Đại vương, qua việc giao tiếp mới biết được sự trong sạch. Và điều đó phải cần một thời gian dài, không phải một thời gian ngắn; cần phải có sự chú tâm, không phải không chú tâm; cần phải có trí tuệ, không phải không có trí tuệ. Tâu Đại vương, trong những lúc gặp hoạn nạn mới biết được sự kiên trì. Và điều đó phải cần một thời gian dài, không phải một thời gian ngắn; cần phải có sự chú tâm, không phải không chú tâm; cần phải có trí tuệ, không phải không có trí tuệ. Tâu Đại vương, qua việc đàm luận mới biết được trí tuệ. Và điều đó phải cần một thời gian dài, không phải một thời gian ngắn; cần phải có sự chú tâm, không phải không chú tâm; cần phải có trí tuệ, không phải không có trí tuệ.’
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Yāva subhāsitamidaṁ, bhante, bhagavatā: ‘dujjānaṁ kho etaṁ, mahārāja, tayā gihinā kāmabhoginā puttasambādhasayanaṁ ajjhāvasantena kāsikacandanaṁ paccanubhontena mālāgandhavilepanaṁ dhārayantena jātarūparajataṁ sādiyantena: “ime vā arahanto, ime vā arahattamaggaṁ samāpannā”ti. Saṁvāsena kho, mahārāja, sīlaṁ veditabbaṁ. Tañca kho dīghena addhunā, na ittaraṁ; manasikarotā, no amanasikarotā; paññavatā, no duppaññena. Saṁvohārena kho, mahārāja, soceyyaṁ veditabbaṁ. Tañca kho dīghena addhunā, na ittaraṁ; manasikarotā, no amanasikarotā; paññavatā, no duppaññena. Āpadāsu kho, mahārāja, thāmo veditabbo. So ca kho dīghena addhunā, na ittaraṁ; manasikarotā, no amanasikarotā; paññavatā, no duppaññena. Sākacchāya kho, mahārāja, paññā veditabbā. Sā ca kho dīghena addhunā, na ittaraṁ; manasikarotā, no amanasikarotā; paññavatā, no duppaññenā’ti.
“It’s incredible, sir, it’s amazing, how well said this was by the Buddha. …
– ‘Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu, bạch Thế Tôn! Lời này đã được Thế Tôn khéo nói biết bao: ‘Thật khó biết điều đó, tâu Đại vương, đối với một người tại gia như ngài, người hưởng thụ các dục lạc, sống trong cảnh gia đình chật chội con cái, dùng gỗ chiên-đàn xứ Kāsi, mang vòng hoa, hương liệu và dầu thơm, chấp nhận vàng bạc, để biết rằng: ‘Những vị này là bậc A-la-hán, hay những vị này đã đạt được A-la-hán đạo’. Tâu Đại vương, qua việc chung sống mới biết được giới hạnh. Và điều đó phải cần một thời gian dài, không phải một thời gian ngắn; cần phải có sự chú tâm, không phải không chú tâm; cần phải có trí tuệ, không phải không có trí tuệ. Tâu Đại vương, qua việc giao tiếp mới biết được sự trong sạch. Và điều đó phải cần một thời gian dài, không phải một thời gian ngắn; cần phải có sự chú tâm, không phải không chú tâm; cần phải có trí tuệ, không phải không có trí tuệ. Tâu Đại vương, trong những lúc gặp hoạn nạn mới biết được sự kiên trì. Và điều đó phải cần một thời gian dài, không phải một thời gian ngắn; cần phải có sự chú tâm, không phải không chú tâm; cần phải có trí tuệ, không phải không có trí tuệ. Tâu Đại vương, qua việc đàm luận mới biết được trí tuệ. Và điều đó phải cần một thời gian dài, không phải một thời gian ngắn; cần phải có sự chú tâm, không phải không chú tâm; cần phải có trí tuệ, không phải không có trí tuệ.’
Ete, bhante, mama purisā carā ocarakā janapadaṁ ocaritvā āgacchanti. Tehi paṭhamaṁ ociṇṇaṁ ahaṁ pacchā osāpayissāmi. Idāni te, bhante, taṁ rajojallaṁ pavāhetvā sunhātā suvilittā kappitakesamassū odātavatthā pañcahi kāmaguṇehi samappitā samaṅgībhūtā paricāressantī”ti.
Sir, these are my spies, my undercover agents returning after spying on the country. I shall later make use of what they first spied out. Now—when they have rinsed off the dust and dirt, and are nicely bathed and anointed, with hair and beard dressed, and dressed in white—they will amuse themselves, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation.”
“Bạch Thế Tôn, những người này là thuộc hạ của con, là các mật thám, sau khi do thám trong xứ đã trở về. Việc mà họ đã do thám trước tiên, con sẽ thẩm tra lại sau. Bạch Thế Tôn, bây giờ, sau khi đã gột rửa bụi bặm và vết nhơ, họ sẽ tắm gội sạch sẽ, thoa xức kỹ lưỡng, cắt sửa râu tóc, mặc y phục trắng tinh, rồi sẽ tận hưởng, vui thú, và thỏa thích với năm dục trưởng dưỡng.”
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imā gāthāyo abhāsi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha recited these verses:
Khi ấy, Thế Tôn sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy đã nói lên những câu kệ này:
“Na vaṇṇarūpena naro sujāno, Na vissase ittaradassanena; Susaññatānañhi viyañjanena, Asaññatā lokamimaṁ caranti.
“It’s not easy to know a man by his appearance. You shouldn’t trust them at first sight. For undisciplined men live in this world disguised as the disciplined.
“Con người không dễ biết qua dáng vẻ bề ngoài, không nên tin tưởng chỉ qua cái nhìn thoáng chốc. Vì rằng những kẻ không tự chế đã đi lại trong thế gian này dưới hình thức của những người đã khéo tự chế.
Patirūpako mattikākuṇḍalova, Lohaḍḍhamāsova suvaṇṇachanno; Caranti loke parivārachannā, Anto asuddhā bahi sobhamānā”ti.
Like a fake earring made of clay, like a copper halfpenny covered with gold, they live hidden in the world, corrupt inside but beautiful outside.”
Giống như chiếc hoa tai bằng đất sét được làm giả, giống như đồng tiền nửa māsa bằng đồng được mạ vàng, họ đi lại trong thế gian, được tùy tùng bao quanh, bên trong không trong sạch, bên ngoài lại rực rỡ.”