- Saṁyutta Nikāya 29.3
- 1. Nāgavagga
Bản dịch
SN 29.3 — Kinh Uposatha
Uposathasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika.
Vi-n 2 Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây một số Nāga từ trứng sanh, sống giữ hạnh Uposatha và từ bỏ thân của chúng?
Vi-n 4 —Ở đây, này Tỷ-kheo, một số Nāga từ trứng sanh suy nghĩ như sau: “Trước đây chúng ta đã làm hai hạnh về thân, hai hạnh về lời nói, hai hạnh về ý. Do chúng ta làm hai hạnh về thân, hai hạnh về lời nói, hai hạnh về ý ấy, sau khi thân hoại mạng chung, chúng ta sanh cọng trú với các Nāga do trứng sanh.
Vi-n 5 Nếu nay chúng ta làm thiện hạnh về thân, thiện hạnh về lời nói, thiện hạnh về ý, như vậy khi thân hoại mạng chung, chúng ta có thể sanh thiện thú, thiên giới, thế giới này.
Vi-n 6 Vậy nay chúng ta hãy làm thiện hạnh về thân, thiện hạnh về lời nói, thiện hạnh về ý”.
Vi-n 7 Do nhân này, do duyên này, này Tỷ-kheo, ở đây một số Nāga do trứng sanh, sống giữ hạnh Uposatha và từ bỏ thân của chúng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 29.3
- 1. Dragons
Sabbath
3. Kinh Uposatha
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo, yena m’idhekacce aṇḍajā nāgā uposathaṁ upavasanti vossaṭṭhakāyā ca bhavantī”ti?
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. Then a mendicant went up to the Buddha, sat down to one side, and said to him:
“Sir, what is the cause, what is the reason why some egg-born dragons keep the sabbath, having transformed their bodies?”
344. Một thời, đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, một vị tỳ khưu nào đó đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, vị tỳ khưu ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: 'Bạch ngài, do nhân gì, do duyên gì mà ở đây một số loài rồng noãn sanh lại thực hành lễ Uposatha và trở nên buông bỏ thân thể?'
“Idha, bhikkhu, ekaccānaṁ aṇḍajānaṁ nāgānaṁ evaṁ hoti: ‘mayaṁ kho pubbe kāyena dvayakārino ahumha, vācāya dvayakārino, manasā dvayakārino. Te mayaṁ kāyena dvayakārino, vācāya dvayakārino, manasā dvayakārino, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ nāgānaṁ sahabyataṁ upapannā. Sacajja mayaṁ kāyena sucaritaṁ careyyāma, vācāya sucaritaṁ careyyāma, manasā sucaritaṁ careyyāma, evaṁ mayaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyyāma. Handa mayaṁ etarahi kāyena sucaritaṁ carāma, vācāya sucaritaṁ carāma, manasā sucaritaṁ carāmā’ti. Ayaṁ kho, bhikkhu, hetu, ayaṁ paccayo, yena m’idhekacce aṇḍajā nāgā uposathaṁ upavasanti vossaṭṭhakāyā ca bhavantī”ti.
Tatiyaṁ.
“Mendicant, it’s when some egg-born dragons think: ‘In the past we did both kinds of deeds by body, speech, and mind. When the body broke up, after death, we were reborn in the company of the egg-born dragons. If today we do good things by body, speech, and mind, when the body breaks up, after death, we may be reborn in a good place, a heavenly realm. Come, let us do good things by way of body, speech, and mind.’ This is the cause, this is the reason why some egg-born dragons keep the sabbath, having transformed their bodies.”
'Này tỳ khưu, ở đây, một số loài rồng noãn sanh có suy nghĩ như vầy: 'Trước đây, chúng ta đã là những kẻ hành động hai loại (thiện và ác) bằng thân, hành động hai loại bằng lời nói, hành động hai loại bằng ý. Do chúng ta đã là những kẻ hành động hai loại bằng thân, hành động hai loại bằng lời nói, hành động hai loại bằng ý nên sau khi thân hoại mạng chung, chúng ta đã sanh làm bạn đồng hành của các loài rồng noãn sanh. Nếu hôm nay chúng ta thực hành thiện hạnh bằng thân, thực hành thiện hạnh bằng lời nói, thực hành thiện hạnh bằng ý thì như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, chúng ta sẽ được sanh vào thiện thú, thiên giới. Nào! Bây giờ chúng ta hãy thực hành thiện hạnh bằng thân, thực hành thiện hạnh bằng lời nói, thực hành thiện hạnh bằng ý.' Này tỳ khưu, đây là nhân, đây là duyên mà ở đây một số loài rồng noãn sanh lại thực hành lễ Uposatha và trở nên buông bỏ thân thể.' Kinh thứ ba.