- Saṁyutta Nikāya 29.11–20
- 1. Nāgavagga
Bản dịch
SN 29.11-20 — Aṇḍajadānūpakārasuttadasaka
Aṇḍajadānūpakārasuttadasaka
Vi-n 1-3.… Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, một số (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với các Nāga từ trứng sanh?
Vi-n 4 —Ở đây, này Tỷ-kheo, có loại (chúng sanh) làm hai hạnh về thân, làm hai hạnh về lời nói, làm hai hạnh về ý. Chúng nghe nói như sau: “Các Nāga từ trứng sanh, thọ mạng lâu dài, nhan sắc thù thắng, thọ hưởng nhiều lạc”.
Vi-n 5 Chúng suy nghĩ như sau: “Ôi, mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, chúng ta được sanh cọng trú với các Nāga từ trứng sanh!”
Vi-n 6 Chúng bố thí đồ ăn. Sau khi thân hoại mạng chung, chúng được sanh cọng trú với các Nāga từ trứng sanh. Do nhân này, do duyên này, này Tỷ-kheo, ở đây, một loại (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với các Nāga từ trứng sanh. Chúng bố thí đồ uống … Chúng bố thí vải mặc … Chúng bố thí xe cộ … Chúng bố thí vòng hoa … Chúng bố thí hương … Chúng bố thí hương liệu xoa bóp … Chúng bố thí ngọa cụ … Chúng bố thí nhà cửa … Chúng bố thí đèn dầu. Sau khi thân hoại mạng chung, chúng được sanh cọng trú với các Nāga từ trứng sanh.
Vi-n 7 Do nhân này, do duyên này, này Tỷ-kheo, ở đây, một loại (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với các Nāga từ trứng sanh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh and Aminah Borg-Luck.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 29.11–20
- 1. Dragons
Ten Discourses On How Giving Helps to Become Egg-Born
11-20. Mười Kinh Về Sự Hỗ Trợ Của Bố Thí (Cho Loài Noãn Sanh)
Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo, yena midhekacco kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ nāgānaṁ sahabyataṁ upapajjatī”ti?
Seated to one side, that mendicant said to the Buddha:
“Sir, what is the cause, what is the reason why someone, when their body breaks up, after death, is reborn in the company of the egg-born dragons?”
352-361. Vị Tỳ khưu ấy ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, có người, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với loài Rồng noãn sanh?”
“Idha, bhikkhu, ekacco kāyena dvayakārī hoti, vācāya dvayakārī, manasā dvayakārī. Tassa sutaṁ hoti: ‘aṇḍajā nāgā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā’ti. Tassa evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ nāgānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti. So annaṁ deti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ nāgānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Ayaṁ kho, bhikkhu, hetu …pe… upapajjatīti …pe… so pānaṁ deti …pe… vatthaṁ deti …pe… yānaṁ deti …pe… mālaṁ deti …pe… gandhaṁ deti …pe… vilepanaṁ deti …pe… seyyaṁ deti …pe… āvasathaṁ deti …pe… padīpeyyaṁ deti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ nāgānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Ayaṁ kho, bhikkhu, hetu, ayaṁ paccayo, yena midhekacco kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ nāgānaṁ sahabyataṁ upapajjatī”ti.
Vīsatimaṁ.
“Mendicant, it’s when someone does both kinds of deeds by body, speech, and mind. And they’ve heard: ‘The egg-born dragons are long-lived, beautiful, and very happy.’ They think: ‘If only, when my body breaks up, after death, I would be reborn in the company of the egg-born dragons!’ They give food … drink … clothing … a vehicle … a garland … fragrance … makeup … a bed … a house … a lamp. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the egg-born dragons. This is the cause, this is the reason why someone, when their body breaks up, after death, is reborn in the company of the egg-born dragons.”
“Này Tỳ khưu, ở đây, có người làm hai loại hành vi qua thân, làm hai loại hành vi qua lời nói, làm hai loại hành vi qua ý. Vị ấy được nghe: ‘Loài Rồng noãn sanh được sống lâu, có dung sắc, và nhiều an lạc.’ Vị ấy khởi lên ý nghĩ: ‘Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh cộng trú với loài Rồng noãn sanh!’ Vị ấy bố thí đồ ăn. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với loài Rồng noãn sanh. Này Tỳ khưu, đây là nhân... vị ấy bố thí thức uống... vị ấy bố thí vải... vị ấy bố thí xe cộ... vị ấy bố thí vòng hoa... vị ấy bố thí hương... vị ấy bố thí vật thoa... vị ấy bố thí giường nằm... vị ấy bố thí trú xá... vị ấy bố thí đèn. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với loài Rồng noãn sanh. Này Tỳ khưu, đây là nhân, đây là duyên, do vậy, ở đây, có người, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với loài Rồng noãn sanh.” Kinh thứ hai mươi.