Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Saṁyutta Nikāya 25.2
- 1. Cakkhuvagga
Rūpasutta
Sāvatthinidānaṁ.
“Rūpā, bhikkhave, aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino; saddā aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino; gandhā aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino; rasā aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino; phoṭṭhabbā aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino; dhammā aniccā vipariṇāmino aññathābhāvino.
- Linked Discourses 25.2
- 1. The Eye
Sights
At Sāvatthī.
“Mendicants, sights are impermanent, decaying, and perishing. Sounds, smells, tastes, touches, and ideas are impermanent, decaying, and perishing.
304. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các Tỳ khưu, nhãn thức là vô thường, có sự biến đổi, có sự trở thành khác; nhĩ thức... tỵ thức... thiệt thức... thân thức... ý thức là vô thường, có sự biến đổi, có sự trở thành khác. Này các Tỳ khưu, người nào... (như trên)... có đích đến là sự giác ngộ.” Hết bài kinh thứ ba.
Yo, bhikkhave, ime dhamme evaṁ saddahati adhimuccati, ayaṁ vuccati saddhānusārī, okkanto sammattaniyāmaṁ, sappurisabhūmiṁ okkanto, vītivatto puthujjanabhūmiṁ;
Someone who has faith and confidence in these teachings is called a follower by faith. They’ve stepped into the sure path, they’ve stepped into the level of the true person, and they’ve passed beyond the level of the untrue person.
305. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các Tỳ khưu, nhãn xúc là vô thường, có sự biến đổi, có sự trở thành khác; nhĩ xúc... tỵ xúc... thiệt xúc... thân xúc... ý xúc là vô thường, có sự biến đổi, có sự trở thành khác. Này các Tỳ khưu, người nào có đức tin, có sự quyết tâm về các pháp này như vậy, người này được gọi là vị ‘Tùy Tín hành... (như trên)... có đích đến là sự giác ngộ.’” Hết bài kinh thứ tư.
abhabbo taṁ kammaṁ kātuṁ, yaṁ kammaṁ katvā nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā pettivisayaṁ vā upapajjeyya; abhabbo ca tāva kālaṁ kātuṁ yāva na sotāpattiphalaṁ sacchikaroti.
They can’t do any deed which would make them be reborn in hell, the animal realm, or the ghost realm. They can’t die without realizing the fruit of stream-entry.
311. Tại Sāvatthī. “Này các Tỳ khưu, sắc là vô thường, biến hoại, trở thành khác; thọ là vô thường, biến hoại, trở thành khác; tưởng… các hành là vô thường, biến hoại, trở thành khác; thức là vô thường, biến hoại, trở thành khác. Này các Tỳ khưu, vị nào có niềm tin, có sự quyết tín về các pháp này như vậy, vị ấy được gọi là vị Tùy Tín, đã đi vào chánh tánh quyết định, đã đi vào địa vị của bậc chân nhân, đã vượt qua địa vị của phàm phu; không có khả năng tạo nghiệp mà do tạo nghiệp ấy sẽ sanh vào địa ngục, hoặc bàng sanh, hoặc cõi ngạ quỷ; và cũng không có khả năng mệnh chung cho đến khi chưa chứng ngộ quả Tu-đà-hoàn.”
Yassa kho, bhikkhave, ime dhammā evaṁ paññāya mattaso nijjhānaṁ khamanti, ayaṁ vuccati: ‘dhammānusārī, okkanto sammattaniyāmaṁ, sappurisabhūmiṁ okkanto, vītivatto puthujjanabhūmiṁ; abhabbo taṁ kammaṁ kātuṁ, yaṁ kammaṁ katvā nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā pettivisayaṁ vā upapajjeyya; abhabbo ca tāva kālaṁ kātuṁ yāva na sotāpattiphalaṁ sacchikaroti’.
Yo, bhikkhave, ime dhamme evaṁ pajānāti evaṁ passati, ayaṁ vuccati: ‘sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyano’”ti.
Dutiyaṁ.
Someone who accepts these teachings after deliberating them with a degree of wisdom is called a follower of teachings. They’ve stepped into the sure path, they’ve stepped into the level of the true person, and they’ve passed beyond the level of the untrue person. They can’t do any deed which would make them be reborn in hell, the animal realm, or the ghost realm. They can’t die without realizing the fruit of stream-entry.
Someone who understands and sees these principles is called a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.”
“Này các Tỳ khưu, đối với vị nào mà các pháp này được kham nhẫn quán xét bằng trí tuệ ở một mức độ vừa phải, vị ấy được gọi là ‘vị Tùy Pháp, đã đi vào chánh tánh quyết định, đã đi vào địa vị của bậc chân nhân, đã vượt qua địa vị của phàm phu; không có khả năng tạo nghiệp mà do tạo nghiệp ấy sẽ sanh vào địa ngục, hoặc bàng sanh, hoặc cõi ngạ quỷ; và cũng không có khả năng mệnh chung cho đến khi chưa chứng ngộ quả Tu-đà-hoàn’. Này các Tỳ khưu, vị nào biết như vậy, thấy như vậy về các pháp này, vị ấy được gọi là ‘bậc Tu-đà-hoàn, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn, có sự giác ngộ là đích đến.’” (Kinh thứ mười).