- Saṁyutta Nikāya 24.70
- 3. Tatiyagamanavagga
Bản dịch
SN 24.70 — Adukkhamasukhīsutta
Adukkhamasukhīsutta
(Như kinh VIII, Phẩm Trùng Thuyết 1)
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh and Aminah Borg-Luck.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 24.70
- 3. The Third Round
The Self is Neither Happy Nor Suffering
26. Kinh Không Khổ Không Lạc
Sāvatthinidānaṁ.
“Kismiṁ nu kho, bhikkhave, sati, kiṁ upādāya, kiṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati: ‘adukkhamasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe….
At Sāvatthī.
“Mendicants, when what exists, because of grasping what and insisting on what, does the view arise: ‘The self is neither happy nor suffering, and healthy after death’?”
“Our teachings are rooted in the Buddha. …”
275. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các Tỷ kheo, khi có cái gì, do chấp thủ cái gì, do chuyên chú vào cái gì, mà tà kiến như vầy khởi lên: ‘Tự ngã là không khổ không lạc, sau khi chết không bệnh hoạn’?” “Bạch Thế Tôn, các pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm căn bản... (v.v)...”
“Rūpe kho, bhikkhave, sati, rūpaṁ upādāya, rūpaṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati: ‘adukkhamasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’”ti. “Vedanāya sati …pe… saññāya sati … saṅkhāresu sati … viññāṇe sati, viññāṇaṁ upādāya, viññāṇaṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati: ‘adukkhamasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’ti.
“When form exists, because of grasping form and insisting on form, the view arises: ‘The self is neither happy nor suffering, and is healthy after death.’ When feeling … perception … choices … consciousness exists, because of grasping consciousness and insisting on consciousness, the view arises: ‘The self is neither happy nor suffering, and healthy after death.’
“Này các Tỷ kheo, khi có sắc, do chấp thủ sắc, do chuyên chú vào sắc, mà tà kiến như vầy khởi lên: ‘Tự ngã là không khổ không lạc, sau khi chết không bệnh hoạn.’ Khi có thọ... (v.v)... khi có tưởng... khi có các hành... khi có thức, do chấp thủ thức, do chuyên chú vào thức, mà tà kiến như vầy khởi lên: ‘Tự ngã là không khổ không lạc, sau khi chết không bệnh hoạn.’”
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante” …pe… vipariṇāmadhammaṁ,
api nu taṁ anupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjeyya: ‘adukkhamasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’”ti? “No hetaṁ, bhante”.
“Iti kho, bhikkhave, yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ. Tasmiṁ sati, tadupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjati: ‘adukkhamasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’”ti. “Vedanā …pe… saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante” …pe… vipariṇāmadhammaṁ,
api nu taṁ anupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjeyya: ‘adukkhamasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Iti kho, bhikkhave, yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ. Tasmiṁ sati, tadupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjati: ‘adukkhamasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’”ti. Chabbīsatimaṁ.
What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“And so, what’s impermanent is suffering. When this exists, grasping at this, the view arises: ‘The self is neither happy nor suffering, and is healthy after death.’ Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would such a view arise?”
“No, sir.”
“And so, what’s impermanent is suffering. When this exists, grasping at this, the view arises: ‘The self is neither happy nor suffering, and healthy after death.’”
“Này các Tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?” “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” ... chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ nó, liệu tà kiến như vầy có thể khởi lên: ‘Tự ngã là không khổ không lạc, không bệnh hoạn sau khi chết’ không? “Bạch Thế Tôn, không.” “Vậy nên, này các Tỳ-kheo, cái gì vô thường thì cái đó là khổ. Khi cái đó hiện hữu, do chấp thủ cái đó, tà kiến như vầy khởi lên: ‘Tự ngã là không khổ không lạc, không bệnh hoạn sau khi chết’.” “Thọ... tưởng... các hành... thức là thường hay vô thường?” “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” ... chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ nó, liệu tà kiến như vầy có thể khởi lên: ‘Tự ngã là không khổ không lạc, không bệnh hoạn sau khi chết’ không? “Bạch Thế Tôn, không.” “Vậy nên, này các Tỳ-kheo, cái gì vô thường thì cái đó là khổ. Khi cái đó hiện hữu, do chấp thủ cái đó, tà kiến như vầy khởi lên: ‘Tự ngã là không khổ không lạc, không bệnh hoạn sau khi chết’.” Kinh thứ hai mươi sáu.
Tatiyapeyyālo.
Phần Lược Giảng Thứ Ba.