- Saṁyutta Nikāya 24.44
- 2. Dutiyagamanavagga
Bản dịch
SN 24.44 — Adukkhamasukhīsutta
Adukkhamasukhīsutta
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Aminah Borg-Luck.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 24.44
- 2. The Second Round
The Self is Neither Happy Nor Suffering
26. Kinh Bất Khổ Bất Lạc
“Adukkhamasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe…
“Rūpe kho, bhikkhave, sati, rūpaṁ upādāya, rūpaṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati: ‘adukkhamasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’ti. Vedanāya sati … saññāya sati … saṅkhāresu sati … viññāṇe sati, viññāṇaṁ upādāya, viññāṇaṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati: ‘adukkhamasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’ti.
“‘The self is neither happy nor suffering, and is healthy after death’?” …
249. “‘Tự ngã bất khổ bất lạc, sau khi chết thì thường hằng’?” – “Bạch Thế Tôn, các pháp của chúng con có Thế Tôn là gốc rễ...” (cho đến) ... “Này các Tỳ khưu, khi có sắc, do duyên vào sắc, do chấp chặt vào sắc, tà kiến như sau khởi lên: ‘Tự ngã bất khổ bất lạc, sau khi chết thì thường hằng’. Khi có thọ... khi có tưởng... khi có các hành... khi có thức, do duyên vào thức, do chấp chặt vào thức, tà kiến như sau khởi lên: ‘Tự ngã bất khổ bất lạc, sau khi chết thì thường hằng’.”
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante” …pe… vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjeyya: ‘adukkhamasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Iti kho, bhikkhave, dukkhe sati, dukkhaṁ upādāya, dukkhaṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati: ‘adukkhamasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’”ti. “Vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante” …pe… vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjeyya: ‘adukkhamasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Iti kho, bhikkhave, dukkhe sati, dukkhaṁ upādāya, dukkhaṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati: ‘adukkhamasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’”ti. Chabbīsatimaṁ.
“Này các Tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” … (cho đến) … có bản chất biến hoại, nếu không chấp thủ vào nó, tà kiến như sau có thể khởi lên được chăng: ‘Tự ngã bất khổ bất lạc, sau khi chết thì thường hằng’?” – “Bạch Thế Tôn, không thể được.” – “Này các Tỳ khưu, chính vì thế, khi có khổ, do duyên vào khổ, do chấp chặt vào khổ, tà kiến như sau khởi lên: ‘Tự ngã bất khổ bất lạc, sau khi chết thì thường hằng’. Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” … (cho đến) … có bản chất biến hoại, nếu không chấp thủ vào nó, tà kiến như sau có thể khởi lên được chăng: ‘Tự ngã bất khổ bất lạc, sau khi chết thì thường hằng’?” – “Bạch Thế Tôn, không thể được.” – “Này các Tỳ khưu, chính vì thế, khi có khổ, do duyên vào khổ, do chấp chặt vào khổ, tà kiến như sau khởi lên: ‘Tự ngã bất khổ bất lạc, sau khi chết thì thường hằng’.” (Kinh) thứ hai mươi sáu.
Dutiyapeyyālo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Tương Tự Thứ Hai.
Vātaṁ etaṁ mama so, attā no ca me siyā; Natthi karoto hetu ca, mahādiṭṭhena aṭṭhamaṁ.
Kinh Gió, Cái ấy của tôi, Tự ngã ấy, Không phải của tôi; Không có, Người làm, và Nhân duyên, với Đại kiến là thứ tám.
Sassato asassato ceva, antānantavā ca vuccati; Taṁ jīvaṁ aññaṁ jīvañca, tathāgatena cattāro.
Thường còn và không thường còn, hữu biên và vô biên được nói đến; Sinh mạng ấy và sinh mạng khác, cùng với bốn kinh về Như Lai.
Rūpī attā hoti arūpī ca attā hoti, Rūpī ca arūpī ca attā hoti; Neva rūpī nārūpī attā hoti, Ekantasukhī attā hoti.
Tự ngã có sắc, và tự ngã vô sắc; Tự ngã vừa có sắc vừa vô sắc; Tự ngã không phải có sắc cũng không phải vô sắc, tự ngã hoàn toàn lạc.
Ekantadukkhī attā hoti, Sukhadukkhī attā hoti; Adukkhamasukhī attā hoti, Arogo paraṁ maraṇāti; Ime chabbīsati suttā, Dutiyavārena desitā.
Tự ngã là thuần khổ, tự ngã là lạc khổ; Tự ngã là không khổ không lạc, sau khi chết không bệnh hoạn; Hai mươi sáu kinh này, đã được thuyết giảng trong lần thứ hai.