- Saṁyutta Nikāya 22.96
- 10. Pupphavagga
Bản dịch
SN 22.96 — Kinh Cục Phân Bò
Gomayapiṇḍasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3-4. Sau khi ngồi, vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, có thể có sắc nào, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?
Vi-n 5-8. Bạch Thế Tôn, có thể có thọ nào … có thể có tưởng nào … có thể có các hành nào … có thể có thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?
Vi-n 9 —Này Tỷ-kheo, không có sắc nào, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.
Vi-n 10-13. Này Tỷ-kheo, không có thọ nào … không có tưởng nào … không có các hành nào … không có thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.
Vi-n 14 Rồi Thế Tôn lấy tay cầm lên một miếng phân bò và nói với Tỷ-kheo ấy:
Vi-n 15 —Này Tỷ-kheo, cho đến được một ngã thể nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú.
Vi-n 16 Nếu được một ngã thể nhỏ như thế này, này Tỷ-kheo, là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thưòng hằng, vĩnh trú, thời đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể trình bày. Vì này Tỷ-kheo, cho đến được một ngã thể nhỏ bé như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú; do vậy đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể trình bày.
Vi-n 17 Thuở xưa, này Tỷ-kheo, Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh. Khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 đô thị, và đô thị Kusāvātī là bậc nhất.
Vi-n 18 Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 cung điện, và cung điện Dhamma là bậc nhất.
Vi-n 19 Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 trùng các, và trùng các Mahàvyuuha là bậc nhất.
Vi-n 20 Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 sàng tọa làm bằng ngà, làm bằng lõi cây, làm bằng vàng, làm bằng bạc, trải bằng nệm len có lông dài, trải bằng chăn len trắng, trải bằng chăn len thêu bông, trải nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, có lầu che phía trên và có gối chân màu đỏ cả hai đầu.
Vi-n 21 Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 con voi với những trang sức bằng vàng, với những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và voi chúa Uposatha là bậc nhất.
Vi-n 22 Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 con ngựa với những trang sức bằng vàng, với những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và ngựa chúa Valāhaka là bậc nhất.
Vi-n 23 Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 cỗ xe, với những trang sức bằng vàng, với những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và cỗ xe Vejayanta là bậc nhất.
Vi-n 24 Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 châu báu, và Ma-ni châu là bậc nhất.
Vi-n 25 Này Tỷ-kheo, khi Ta là … Ta có 84.000 phụ nữ, và hoàng hậu Subhaddà là bậc nhất.
Vi-n 26 Này Tỷ-kheo, khi Ta là … Ta có 84.000 chư hầu Sát-đế-lị, và Binh chủ báu là bậc nhất.
Vi-n 27 Này Tỷ-kheo, khi Ta là … Ta có 84.000 con bò cái, với những dây thừng bằng vải đay mịn màng, và chậu sữa bằng bạc.
Vi-n 28 Này Tỷ-kheo, khi Ta là … Ta có 84.000 áo bằng vải gai tinh tế, bằng vải lụa tinh tế, bằng vải len tinh tế, bằng vải bông tinh tế.
Vi-n 29 Này các Tỷ-kheo, khi Ta là … Ta có 84.000 dĩa bàn, và trên ấy các cơm sáng và cơm chiều được dọn lên.
Vi-n 30 Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 đô thị ấy, đô thị Ta trú thời ấy là kinh đô Kusāvātī.
Vi-n 31 Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 cung điện ấy, cung điện Ta trú thời ấy là cung điện Dhamma.
Vi-n 32 Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 trùng các ấy, trùng các Ta trú là trùng các Mahàvyuuha.
Vi-n 33 Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 sàng tọa ấy, sàng tọa Ta thọ dùng thời ấy là sàng tọa bằng ngà, hay bằng lõi cây, hay bằng vàng, hay bằng bạc.
Vi-n 34 Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 con voi ấy, con voi Ta cưỡi thời ấy là voi chúa Uposatha.
Vi-n 35 Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 con ngựa ấy, con ngựa Ta cưỡi thời ấy là ngựa chúa Valāhaka.
Vi-n 36 Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 cỗ xe ấy, cỗ xe Ta cưỡi thời ấy là cỗ xe Vejayanta.
Vi-n 37 Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 phụ nữ ấy, phụ nữ hầu hạ Ta thời ấy là Khattiyàni hay Velàmikà.
Vi-n 38 Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 áo mặc ấy, đôi áo Ta mặc thời ấy, hoặc bằng vải gai tinh tế, hay bằng lụa tinh tế, hay bằng len tinh tế, hay bằng vải bông tinh tế.
Vi-n 39 Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 dĩa bàn ấy, một dĩa bàn Ta dùng để ăn một phần (nàlika) cơm, còn dĩa bàn thứ hai, Ta dùng để ăn đồ ăn tương đương.
Vi-n 40 Như vậy, này các Tỷ-kheo, tất cả các hành ấy là thuộc quá khứ, đoạn diệt, biến hoại.
Vi-n 41 Như vậy vô thường, này các Tỷ-kheo, là các hành. Như vậy không thường hằng, này các Tỷ-kheo, là các hành. Như vậy không thường trú, này các Tỷ-kheo, là các hành.
Vi-n 42 Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán đối với tất cả hành, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.96
- 10. Flowers
A Lump of Cow Dung
4. Kinh Cục Phân Bò
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“atthi nu kho, bhante, kiñci rūpaṁ yaṁ rūpaṁ niccaṁ dhuvaṁ sassataṁ avipariṇāmadhammaṁ sassatisamaṁ tatheva ṭhassati? Atthi nu kho, bhante, kāci vedanā yā vedanā niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā sassatisamaṁ tatheva ṭhassati? Atthi nu kho, bhante, kāci saññā yā saññā …pe… atthi nu kho, bhante, keci saṅkhārā ye saṅkhārā niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā sassatisamaṁ tatheva ṭhassanti? Atthi nu kho, bhante, kiñci viññāṇaṁ, yaṁ viññāṇaṁ niccaṁ dhuvaṁ sassataṁ avipariṇāmadhammaṁ sassatisamaṁ tatheva ṭhassatī”ti?
“Natthi kho, bhikkhu, kiñci rūpaṁ, yaṁ rūpaṁ niccaṁ dhuvaṁ sassataṁ avipariṇāmadhammaṁ sassatisamaṁ tatheva ṭhassati. Natthi kho, bhikkhu, kāci vedanā … kāci saññā … keci saṅkhārā … kiñci viññāṇaṁ, yaṁ viññāṇaṁ niccaṁ dhuvaṁ sassataṁ avipariṇāmadhammaṁ sassatisamaṁ tatheva ṭhassatī”ti.
At Sāvatthī.
Seated to one side, that mendicant said to the Buddha:
“Sir, is there any form at all that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever? Is there any feeling … perception … choices … consciousness at all that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever?”
“Mendicant, there is no form at all that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever. There’s no feeling … perception … choices … consciousness at all that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever.”
96. Nhân duyên ở Sāvatthī. Rồi vị Tỳ khưu ấy, ngồi xuống một bên, bạch với Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, có sắc nào thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không bị biến hoại, sẽ tồn tại mãi mãi như vậy không ạ? Bạch Thế Tôn, có thọ nào thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không bị biến hoại, sẽ tồn tại mãi mãi như vậy không ạ? Bạch Thế Tôn, có tưởng nào... ... Bạch Thế Tôn, có các hành nào thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không bị biến hoại, sẽ tồn tại mãi mãi như vậy không ạ? Bạch Thế Tôn, có thức nào thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không bị biến hoại, sẽ tồn tại mãi mãi như vậy không ạ?’ ‘Này Tỳ khưu, không có sắc nào thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không bị biến hoại, sẽ tồn tại mãi mãi như vậy. Này Tỳ khưu, không có thọ nào... không có tưởng nào... không có các hành nào... không có thức nào thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không bị biến hoại, sẽ tồn tại mãi mãi như vậy.’”
Atha kho bhagavā parittaṁ gomayapiṇḍaṁ pāṇinā gahetvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“ettakopi kho, bhikkhu, attabhāvapaṭilābho natthi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo sassatisamaṁ tatheva ṭhassati. Ettako cepi, bhikkhu, attabhāvapaṭilābho abhavissa nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, nayidaṁ brahmacariyavāso paññāyetha sammā dukkhakkhayāya. Yasmā ca kho, bhikkhu, ettakopi attabhāvapaṭilābho natthi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, tasmā brahmacariyavāso paññāyati sammā dukkhakkhayāya.
Then the Buddha, picking up a lump of cow dung, said to the mendicant:
“There’s not even this much of any incarnation that’s permanent, everlasting, eternal, imperishable, and will last forever and ever. If there were, this living of the spiritual life for the complete ending of suffering would not be found. But since there isn’t, this living of the spiritual life for the complete ending of suffering is found.
Khi ấy, Thế Tôn lấy tay nhặt một cục phân bò nhỏ và nói với vị Tỳ khưu ấy: ‘Này Tỳ khưu, không có sự thành tựu một tự ngã nào, dù chỉ nhỏ bằng chừng này, mà thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không bị biến hoại, sẽ tồn tại mãi mãi như vậy. Này Tỳ khưu, nếu có sự thành tựu một tự ngã nào, dù chỉ nhỏ bằng chừng này, mà thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không bị biến hoại, thì đời sống phạm hạnh này để chấm dứt hoàn toàn khổ đau sẽ không được biết đến. Nhưng này Tỳ khưu, chính vì không có sự thành tựu một tự ngã nào, dù chỉ nhỏ bằng chừng này, mà thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không bị biến hoại, nên đời sống phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau mới được biết đến.’”
Bhūtapubbāhaṁ, bhikkhu, rājā ahosiṁ khattiyo muddhāvasitto. Tassa mayhaṁ, bhikkhu, rañño sato khattiyassa muddhāvasittassa caturāsītinagarasahassāni ahesuṁ kusāvatīrājadhānippamukhāni. Tassa mayhaṁ, bhikkhu, rañño sato khattiyassa muddhāvasittassa caturāsītipāsādasahassāni ahesuṁ dhammapāsādappamukhāni. Tassa mayhaṁ, bhikkhu, rañño sato khattiyassa muddhāvasittassa caturāsītikūṭāgārasahassāni ahesuṁ mahābyūhakūṭāgārappamukhāni. Tassa mayhaṁ, bhikkhu, rañño sato khattiyassa muddhāvasittassa caturāsītipallaṅkasahassāni ahesuṁ dantamayāni sāramayāni sovaṇṇamayāni goṇakatthatāni paṭikatthatāni paṭalikatthatāni kadalimigapavarapaccattharaṇāni sauttaracchadāni ubhatolohitakūpadhānāni. Tassa mayhaṁ, bhikkhu, rañño sato khattiyassa muddhāvasittassa caturāsītināgasahassāni ahesuṁ sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇaddhajāni hemajālapaṭicchannāni uposathanāgarājappamukhāni. Tassa mayhaṁ, bhikkhu, rañño sato khattiyassa muddhāvasittassa caturāsītiassasahassāni ahesuṁ sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇaddhajāni hemajālapaṭicchannāni valāhakaassarājappamukhāni. Tassa mayhaṁ, bhikkhu, rañño sato khattiyassa muddhāvasittassa caturāsītirathasahassāni ahesuṁ sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇaddhajāni hemajālapaṭicchannāni vejayantarathappamukhāni. Tassa mayhaṁ, bhikkhu, rañño sato khattiyassa muddhāvasittassa caturāsītimaṇisahassāni ahesuṁ maṇiratanappamukhāni. Tassa mayhaṁ, bhikkhu …pe… caturāsītiitthisahassāni ahesuṁ subhaddādevippamukhāni. Tassa mayhaṁ, bhikkhu …pe… caturāsītikhattiyasahassāni ahesuṁ anuyantāni pariṇāyakaratanappamukhāni. Tassa mayhaṁ, bhikkhu …pe… caturāsītidhenusahassāni ahesuṁ dukūlasandānāni kaṁsūpadhāraṇāni. Tassa mayhaṁ, bhikkhu …pe… caturāsītivatthakoṭisahassāni ahesuṁ khomasukhumāni koseyyasukhumāni kambalasukhumāni kappāsikasukhumāni. Tassa mayhaṁ, bhikkhu …pe… caturāsītithālipākasahassāni ahesuṁ; sāyaṁ pātaṁ bhattābhihāro abhihariyittha.
Once upon a time I was an anointed aristocratic king. I had 84,000 cities, with the capital Kusāvatī the foremost. I had 84,000 palaces, with the Palace of Principle the foremost. I had 84,000 chambers, with the Chamber of the Grand Tower the foremost. I had 84,000 couches made of ivory or heartwood or gold or silver, spread with woolen covers—shag-piled or embroidered with flowers—and spread with a fine deer hide, with a canopy above and red pillows at both ends. I had 84,000 bull elephants with gold adornments and banners, covered with snow gold netting, with the royal bull elephant named Sabbath the foremost. I had 84,000 horses with gold adornments and banners, covered with snow gold netting, with the royal steed named Thundercloud the foremost. I had 84,000 chariots with gold adornments and banners, covered with snow gold netting, with the chariot named Triumph the foremost. I had 84,000 jewels, with the jewel-treasure the foremost. I had 84,000 women, with Queen Subhaddā the foremost. I had 84,000 aristocrat vassals, with the commander-treasure the foremost. I had 84,000 milk cows with muslin halter and bronze pails. I had 8,400,000,000 cloths of delicate linen, cotton, silk, and wool. I had 84,000 servings of food, which were presented to me as offerings at daybreak and dusk.
“Này Tỳ khưu, đã từng có thời, ta là vị vua thuộc dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh. Này Tỳ khưu, khi ấy, ta là vị vua thuộc dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, có tám mươi bốn ngàn thành phố, đứng đầu là kinh đô Kusāvatī. Này Tỳ khưu, khi ấy, ta là vị vua thuộc dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, có tám mươi bốn ngàn cung điện, đứng đầu là cung điện Dhamma. Này Tỳ khưu, khi ấy, ta là vị vua thuộc dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, có tám mươi bốn ngàn ngôi nhà có gác nhọn, đứng đầu là ngôi nhà có gác nhọn Mahābyūha. Này Tỳ khưu, khi ấy, ta là vị vua thuộc dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, có tám mươi bốn ngàn ngai vàng làm bằng ngà, bằng gỗ lõi, bằng vàng, được trải bằng thảm len lông dài, thảm len trắng, thảm len thêu hoa, được phủ bằng tấm da sơn dương hảo hạng, có lọng che phía trên, và có gối màu đỏ ở hai đầu. Này Tỳ khưu, khi ấy, ta là vị vua thuộc dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, có tám mươi bốn ngàn con voi, được trang sức bằng vàng, cờ hiệu bằng vàng, được che phủ bằng lưới vàng, đứng đầu là voi chúa Uposatha. Này Tỳ khưu, khi ấy, ta là vị vua thuộc dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, có tám mươi bốn ngàn con ngựa, được trang sức bằng vàng, cờ hiệu bằng vàng, được che phủ bằng lưới vàng, đứng đầu là ngựa chúa Valāhaka. Này Tỳ khưu, khi ấy, ta là vị vua thuộc dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, có tám mươi bốn ngàn cỗ xe, được trang sức bằng vàng, cờ hiệu bằng vàng, được che phủ bằng lưới vàng, đứng đầu là cỗ xe Vejayanta. Này Tỳ khưu, khi ấy, ta là vị vua thuộc dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, có tám mươi bốn ngàn viên ngọc, đứng đầu là ngọc báu ma-ni. Này Tỳ khưu, ... có tám mươi bốn ngàn phụ nữ, đứng đầu là hoàng hậu Subhaddā. Này Tỳ khưu, ... có tám mươi bốn ngàn vị Sát-đế-lỵ tùy tùng, đứng đầu là viên tướng quân báu. Này Tỳ khưu, ... có tám mươi bốn ngàn con bò sữa, được buộc bằng dây vải mịn, có thùng vắt sữa bằng đồng. Này Tỳ khưu, ... có tám mươi bốn ngàn triệu bộ y phục, bằng vải lanh mịn, vải lụa mịn, vải len mịn, vải bông mịn. Này Tỳ khưu, ... có tám mươi bốn ngàn nồi cơm; bữa ăn được dọn lên vào buổi sáng và buổi chiều.”
Tesaṁ kho pana, bhikkhu, caturāsītiyā nagarasahassānaṁ ekaññeva taṁ nagaraṁ hoti yamahaṁ tena samayena ajjhāvasāmi—kusāvatī rājadhānī. Tesaṁ kho pana, bhikkhu, caturāsītiyā pāsādasahassānaṁ ekoyeva so pāsādo hoti yamahaṁ tena samayena ajjhāvasāmi—dhammo pāsādo. Tesaṁ kho pana, bhikkhu, caturāsītiyā kūṭāgārasahassānaṁ ekaññeva taṁ kūṭāgāraṁ hoti yamahaṁ tena samayena ajjhāvasāmi—mahābyūhaṁ kūṭāgāraṁ. Tesaṁ kho pana, bhikkhu, caturāsītiyā pallaṅkasahassānaṁ ekoyeva so pallaṅko hoti yamahaṁ tena samayena paribhuñjāmi—dantamayo vā sāramayo vā sovaṇṇamayo vā rūpiyamayo vā. Tesaṁ kho pana, bhikkhu, caturāsītiyā nāgasahassānaṁ ekoyeva so nāgo hoti yamahaṁ tena samayena abhiruhāmi—uposatho nāgarājā. Tesaṁ kho pana, bhikkhu, caturāsītiyā assasahassānaṁ ekoyeva so asso hoti yamahaṁ tena samayena abhiruhāmi—valāhako assarājā. Tesaṁ kho pana, bhikkhu, caturāsītiyā rathasahassānaṁ ekoyeva so ratho hoti yamahaṁ tena samayena abhiruhāmi—vejayanto ratho. Tesaṁ kho pana, bhikkhu, caturāsītiyā itthisahassānaṁ ekāyeva sā itthī hoti yā maṁ tena samayena paccupaṭṭhāti—khattiyānī vā velāmikā vā. Tesaṁ kho pana, bhikkhu, caturāsītiyā vatthakoṭisahassānaṁ ekaññeva taṁ vatthayugaṁ hoti yamahaṁ tena samayena paridahāmi—khomasukhumaṁ vā koseyyasukhumaṁ vā kambalasukhumaṁ vā kappāsikasukhumaṁ vā. Tesaṁ kho pana, bhikkhu, caturāsītiyā thālipākasahassānaṁ ekoyeva so thālipāko hoti yato nāḷikodanaparamaṁ bhuñjāmi tadupiyañca sūpeyyaṁ.
Iti kho, bhikkhu, sabbe te saṅkhārā atītā niruddhā vipariṇatā. Evaṁ aniccā kho, bhikkhu, saṅkhārā. Evaṁ addhuvā kho, bhikkhu, saṅkhārā. Evaṁ anassāsikā kho, bhikkhu, saṅkhārā. Yāvañcidaṁ, bhikkhu, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṁ, alaṁ virajjituṁ, alaṁ vimuccitun”ti.
Catutthaṁ.
Of those 84,000 cities, I only stayed in one, the capital Kusāvatī. Of those 84,000 palaces, I only dwelt in one, the Palace of Principle. Of those 84,000 chambers, I only dwelt in one, the Chamber of the Grand Tower. Of those 84,000 couches, I only used one, made of ivory or heartwood or gold or silver. Of those 84,000 bull elephants, I only rode one, the royal bull elephant named Sabbath. Of those 84,000 horses, I only rode one, the royal horse named Thundercloud. Of those 84,000 chariots, I only rode one, the chariot named Triumph. Of those 84,000 women, I was only served by one, an aristocrat maiden or a coquette. Of those 8,400,000,000 cloths, I only wore one pair, made of delicate linen, cotton, silk, and wool. Of those 84,000 servings of food, I only had one, eating at most a cup of rice with suitable sauce.
And so all those conditioned phenomena have passed, ceased, and perished. So impermanent are conditions, so unstable are conditions, so unreliable are conditions. This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.”
“Này Tỳ khưu, trong số tám mươi bốn ngàn thành phố ấy, vào lúc ấy ta chỉ ở trong một thành phố duy nhất, đó là kinh đô Kusāvatī. Này Tỳ khưu, trong số tám mươi bốn ngàn cung điện ấy, vào lúc ấy ta chỉ ở trong một cung điện duy nhất, đó là cung điện Dhamma. Này Tỳ khưu, trong số tám mươi bốn ngàn ngôi nhà có gác nhọn ấy, vào lúc ấy ta chỉ ở trong một ngôi nhà có gác nhọn duy nhất, đó là ngôi nhà có gác nhọn Mahābyūha. Này Tỳ khưu, trong số tám mươi bốn ngàn ngai vàng ấy, vào lúc ấy ta chỉ sử dụng một ngai vàng duy nhất, hoặc bằng ngà, hoặc bằng gỗ lõi, hoặc bằng vàng, hoặc bằng bạc. Này Tỳ khưu, trong số tám mươi bốn ngàn con voi ấy, vào lúc ấy ta chỉ cưỡi một con voi duy nhất, đó là voi chúa Uposatha. Này Tỳ khưu, trong số tám mươi bốn ngàn con ngựa ấy, vào lúc ấy ta chỉ cưỡi một con ngựa duy nhất, đó là ngựa chúa Valāhaka. Này Tỳ khưu, trong số tám mươi bốn ngàn cỗ xe ấy, vào lúc ấy ta chỉ đi một cỗ xe duy nhất, đó là cỗ xe Vejayanta. Này Tỳ khưu, trong số tám mươi bốn ngàn phụ nữ ấy, vào lúc ấy chỉ có một người phụ nữ duy nhất hầu hạ ta, hoặc là người dòng Sát-đế-lỵ, hoặc là người dòng Velāmikā. Này Tỳ khưu, trong số tám mươi bốn ngàn triệu bộ y phục ấy, vào lúc ấy ta chỉ mặc một bộ y phục duy nhất, hoặc bằng vải lanh mịn, hoặc bằng vải lụa mịn, hoặc bằng vải len mịn, hoặc bằng vải bông mịn. Này Tỳ khưu, trong số tám mươi bốn ngàn nồi cơm ấy, ta chỉ ăn từ một nồi cơm duy nhất, với lượng cơm tối đa là một nāḷikā và món canh tương xứng. Này Tỳ khưu, như vậy, tất cả các pháp hữu vi ấy đã qua đi, đã diệt mất, đã biến hoại. Này Tỳ khưu, các pháp hữu vi là vô thường như vậy. Này Tỳ khưu, các pháp hữu vi là không bền vững như vậy. Này Tỳ khưu, các pháp hữu vi là không đáng tin cậy như vậy. Này Tỳ khưu, chừng ấy là đủ để nhàm chán đối với tất cả các pháp hữu vi, đủ để ly tham, đủ để giải thoát.” Kinh thứ tư.