- Saṁyutta Nikāya 22.95
- 10. Pupphavagga
Bản dịch
SN 22.95 — Kinh Ví Dụ Cục Bọt
Pheṇapiṇḍūpamasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Ayujjàya, trên bờ sông Hằng.
Vi-n 2 Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo …
Vi-n 3 —Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng này chảy mang theo đống bọt nước lớn. Có người có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong đống bọt nước được?
Vi-n 4 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị Tỷ-kheo thấy sắc, chuyên chú, như lý quán sát sắc. Do vị Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát sắc, sắc ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong sắc được?
Vi-n 5 Ví như, này các Tỷ-kheo, trong mùa thu, khi trời mưa những giọt mưa lớn, trên mặt nước, các bong bóng nước hiện ra rồi tan biến. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, bong bóng nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong bong bóng nước được?
Vi-n 6 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có thọ gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát thọ ấy. Do Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, thọ ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong thọ được?
Vi-n 7 Ví như, này các Tỷ-kheo, trong tháng cuối mùa hạ, vào đúng giữa trưa đứng bóng, một ráng mặt trời rung động hiện lên. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, nên ráng mặt trời ấy hiện rõ ra là trống không, rỗng không, không có lõi cứng … Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ráng mặt trời được?
Vi-n 8 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có tưởng gì …
Vi-n 9 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người cần có lõi cây, tìm cầu lõi cây, đi tìm lõi cây, cầm cái búa sắc bén đi vào ngôi rừng. Ở đây, người ấy thấy một cụm cây chuối lớn, mọc thẳng, mới lớn, cao vút. Người ấy chặt rễ cây ấy. Sau khi chặt rễ, người ấy chặt ngọn. Sau khi chặt ngọn, người ấy lột vỏ chuối ngoài. Khi lột vỏ chuối ngoài, giác cây còn tìm không được, tìm đâu cho có được lõi cây?
Vi-n 10 Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát cụm chuối ấy. Khi người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát cụm chuối ấy, cụm chuối ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong cụm chuối được?
Vi-n 11 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm các hành gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát hành ấy. Khi người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, hành ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong các hành được?
Vi-n 12 Ví như, này các Tỷ-kheo, một ảo thuật sư hay đệ tử một ảo thuật sư, tại ngã tư đường bày trò ảo thuật. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát trò ảo thuật ấy. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, ảo thuật ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ảo thuật được?
Vi-n 13 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại … hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát, thức ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong thức được?
Vi-n 14 Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc … đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành … nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.
Vi-n 15 Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ sau khi nói như vậy, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vi-n 16 Sắc ví với đống bọt,
Thọ ví bong bóng nước,
Tưởng ví ráng mặt trời,
Hành ví với cây chuối,
Thức ví với ảo thuật,
Ðấng bà con mặt trời,
Ðã thuyết giảng như vậy.Vi-n 17 Nếu như vậy chuyên chú,
Như lý chơn quán sát,
Như lý nhìn các pháp,
Hiện rõ tánh trống không.Vi-n 18 Bắt đầu với thân này,
Bậc Ðại Tuệ thuyết giảng,
Ðoạn tận cả ba pháp,
Thấy sắc bị quăng bỏ.Vi-n 19 Thân bị quăng, vô tri,
Không thọ, sức nóng, thức,
Bị quăng đi, nó nằm,
Làm đồ ăn kẻ khác.Vi-n 20 Cái thân liên tục này,
Ảo sư, kẻ ngu nói,
Ðược gọi kẻ sát nhân,
Không tìm thấy lõi cây.Vi-n 21 Hãy quán uẩn như vậy,
Vị Tỷ-kheo tinh cần,
Suốt cả đêm lẫn ngày,
Tỉnh giác, chánh tư niệm.Vi-n 22 Hãy bỏ mọi kiết sử,
Làm chỗ mình nương tựa,
Sống như lửa cháy đầu,
Cầu chứng cảnh bất động.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.95
- 10. Flowers
A Lump of Foam
3. Kinh Ví Dụ Cục Bọt
Ekaṁ samayaṁ bhagavā ayujjhāyaṁ viharati gaṅgāya nadiyā tīre. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
At one time the Buddha was staying near Ayodhya on the bank of the Ganges River. There the Buddha addressed the mendicants:
95. Một thời, Thế Tôn trú ở Ayujjhā, trên bờ sông Gaṅgā. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu:
“Seyyathāpi, bhikkhave, ayaṁ gaṅgā nadī mahantaṁ pheṇapiṇḍaṁ āvaheyya. Tamenaṁ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya, asārakaññeva khāyeyya. Kiñhi siyā, bhikkhave, pheṇapiṇḍe sāro?
Evameva kho, bhikkhave, yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ …pe… yaṁ dūre santike vā taṁ bhikkhu passati nijjhāyati yoniso upaparikkhati. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, asārakaññeva khāyati. Kiñhi siyā, bhikkhave, rūpe sāro?
“Mendicants, suppose this Ganges River was carrying along a big lump of foam. And a person with clear eyes would see it and contemplate it, examining it rationally. And it would appear to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what essence could there be in a lump of foam?
In the same way, a mendicant sees and contemplates any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near—examining it rationally. And it appears to them completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what essence could there be in form?
“Này các Tỳ khưu, ví như sông Gaṅgā này cuốn đi một cục bọt lớn. Một người có mắt sẽ nhìn, sẽ quan sát, sẽ xem xét kỹ lưỡng nó một cách như lý. Đối với người ấy, khi nhìn, khi quan sát, khi xem xét kỹ lưỡng nó một cách như lý, nó sẽ hiện ra là trống rỗng, hiện ra là rỗng tuếch, hiện ra là không có lõi. Này các Tỳ khưu, làm sao có thể có lõi trong một cục bọt? Cũng vậy, này các Tỳ khưu, bất cứ sắc nào, dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại… cho đến… dù ở xa hay ở gần, vị Tỳ khưu nhìn, quan sát, xem xét kỹ lưỡng nó một cách như lý. Đối với vị ấy, khi nhìn, khi quan sát, khi xem xét kỹ lưỡng nó một cách như lý, nó hiện ra là trống rỗng, hiện ra là rỗng tuếch, hiện ra là không có lõi. Này các Tỳ khưu, làm sao có thể có lõi trong sắc?”
Seyyathāpi, bhikkhave, saradasamaye thullaphusitake deve vassante udake udakapubbuḷaṁ uppajjati ceva nirujjhati ca. Tamenaṁ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya, asārakaññeva khāyeyya. Kiñhi siyā, bhikkhave, udakapubbuḷe sāro?
Evameva kho, bhikkhave, yā kāci vedanā atītānāgatapaccuppannā …pe… yā dūre santike vā taṁ bhikkhu passati nijjhāyati yoniso upaparikkhati. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, asārakaññeva khāyati. Kiñhi siyā, bhikkhave, vedanāya sāro?
Suppose it was autumn, when the heavens rain heavily, and a bubble on the water forms and pops right away. And a person with clear eyes would see it and contemplate it, examining it rationally. And it would appear to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what essence could there be in a water bubble?
In the same way, a mendicant sees and contemplates any kind of feeling at all … examining it rationally. And it appears to them completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what essence could there be in feeling?
“Này các Tỳ khưu, ví như vào mùa thu, khi trời mưa những hạt mưa lớn, một bong bóng nước sanh lên rồi diệt đi trong nước. Một người có mắt sẽ nhìn, sẽ quan sát, sẽ xem xét kỹ lưỡng nó một cách như lý. Đối với người ấy, khi nhìn, khi quan sát, khi xem xét kỹ lưỡng nó một cách như lý, nó sẽ hiện ra là trống rỗng, hiện ra là rỗng tuếch, hiện ra là không có lõi. Này các Tỳ khưu, làm sao có thể có lõi trong một bong bóng nước? Cũng vậy, này các Tỳ khưu, bất cứ thọ nào, dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại… cho đến… dù ở xa hay ở gần, vị Tỳ khưu nhìn, quan sát, xem xét kỹ lưỡng nó một cách như lý. Đối với vị ấy, khi nhìn, khi quan sát, khi xem xét kỹ lưỡng nó một cách như lý, nó hiện ra là trống rỗng, hiện ra là rỗng tuếch, hiện ra là không có lõi. Này các Tỳ khưu, làm sao có thể có lõi trong thọ?”
Seyyathāpi, bhikkhave, gimhānaṁ pacchime māse ṭhite majjhanhike kāle marīcikā phandati. Tamenaṁ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya …pe… kiñhi siyā, bhikkhave, marīcikāya sāro?
Evameva kho, bhikkhave, yā kāci saññā …pe….
Suppose that in the last month of summer, at noon, a shimmering mirage appears. And a person with clear eyes would see it and contemplate it, examining it rationally. And it would appear to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what essence could there be in a mirage?
In the same way, a mendicant sees and contemplates any kind of perception at all … examining it carefully. And it appears to them completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what substance could there be in perception?
“Này các Tỳ khưu, ví như vào tháng cuối của mùa hạ, vào lúc giữa trưa, một ảo ảnh rung động. Một người có mắt sẽ nhìn, sẽ quan sát, sẽ xem xét kỹ lưỡng nó một cách như lý. Đối với người ấy, khi nhìn, khi quan sát, khi xem xét kỹ lưỡng nó một cách như lý, nó sẽ hiện ra là trống rỗng, hiện ra là rỗng tuếch… cho đến… Này các Tỳ khưu, làm sao có thể có lõi trong một ảo ảnh? Cũng vậy, này các Tỳ khưu, bất cứ tưởng nào… cho đến…”
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno tiṇhaṁ kuṭhāriṁ ādāya vanaṁ paviseyya. So tattha passeyya mahantaṁ kadalikkhandhaṁ ujuṁ navaṁ akukkukajātaṁ. Tamenaṁ mūle chindeyya; mūle chetvā agge chindeyya, agge chetvā pattavaṭṭiṁ vinibbhujeyya. So tassa pattavaṭṭiṁ vinibbhujanto pheggumpi nādhigaccheyya, kuto sāraṁ. Tamenaṁ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya, asārakaññeva khāyeyya. Kiñhi siyā, bhikkhave, kadalikkhandhe sāro?
Evameva kho, bhikkhave, ye keci saṅkhārā atītānāgatapaccuppannā …pe… ye dūre santike vā taṁ bhikkhu passati nijjhāyati yoniso upaparikkhati. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, asārakaññeva khāyati. Kiñhi siyā, bhikkhave, saṅkhāresu sāro?
Suppose there was a person in need of heartwood. Wandering in search of heartwood, they’d take a sharp axe and enter a forest. There they’d see a big banana trunk, straight and young and grown unskewed. They’d cut it down at the base, cut off the top, and unroll the coiled sheaths. But they wouldn’t even find sapwood, much less heartwood. And a person with clear eyes would see it and contemplate it, examining it rationally. And it would appear to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what essence could there be in a banana trunk?
In the same way, a mendicant sees and contemplates any kind of choices at all … examining them rationally. And they appear to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what essence could there be in choices?
“Này các Tỳ khưu, ví như một người đàn ông cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đi khắp nơi để tìm lõi cây, mang theo một cái rìu sắc bén và đi vào rừng. Ở đó, người ấy thấy một thân chuối lớn, thẳng, mới, không có lõi cứng bên trong. Người ấy chặt nó ở gốc; sau khi chặt ở gốc, người ấy chặt ở ngọn; sau khi chặt ở ngọn, người ấy bóc các bẹ lá ra. Trong khi bóc các bẹ lá, người ấy không tìm thấy cả giác cây, nói gì đến lõi cây! Một người có mắt sẽ nhìn nó, xem xét kỹ lưỡng, quán xét một cách như lý. Đối với người ấy, khi nhìn, xem xét kỹ lưỡng, quán xét một cách như lý, nó sẽ hiện ra là trống rỗng, hiện ra là rỗng tuếch, hiện ra là không có lõi. Này các Tỳ khưu, làm sao có thể có lõi cây trong một thân chuối? Cũng vậy, này các Tỳ khưu, bất cứ hành nào, dù là quá khứ, vị lai, hay hiện tại... ... dù ở xa hay ở gần, vị Tỳ khưu nhìn nó, xem xét kỹ lưỡng, quán xét một cách như lý. Đối với vị ấy, khi nhìn, xem xét kỹ lưỡng, quán xét một cách như lý, nó hiện ra là trống rỗng, hiện ra là rỗng tuếch, hiện ra là không có lõi. Này các Tỳ khưu, làm sao có thể có lõi trong các hành?”
Seyyathāpi, bhikkhave, māyākāro vā māyākārantevāsī vā catumahāpathe māyaṁ vidaṁseyya. Tamenaṁ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya, asārakaññeva khāyeyya. Kiñhi siyā, bhikkhave, māyāya sāro?
Evameva kho, bhikkhave, yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ …pe… yaṁ dūre santike vā, taṁ bhikkhu passati nijjhāyati yoniso upaparikkhati. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, asārakaññeva khāyati. Kiñhi siyā, bhikkhave, viññāṇe sāro?
Suppose an illusionist or their apprentice was to demonstrate an illusion at the crossroads. And a person with clear eyes would see it and contemplate it, examining it rationally. And it would appear to them as completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what essence could there be in an illusion?
In the same way, a mendicant sees and contemplates any kind of consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near—examining it rationally. And it appears to them completely vacuous, hollow, and insubstantial. For what essence could there be in consciousness?
“Này các Tỳ khưu, ví như một nhà ảo thuật hay đệ tử của nhà ảo thuật biểu diễn ảo thuật ở ngã tư đường. Một người có mắt sẽ nhìn nó, xem xét kỹ lưỡng, quán xét một cách như lý. Đối với người ấy, khi nhìn, xem xét kỹ lưỡng, quán xét một cách như lý, nó sẽ hiện ra là trống rỗng, hiện ra là rỗng tuếch, hiện ra là không có lõi. Này các Tỳ khưu, làm sao có thể có lõi trong một trò ảo thuật? Cũng vậy, này các Tỳ khưu, bất cứ thức nào, dù là quá khứ, vị lai, hay hiện tại... ... dù ở xa hay ở gần, vị Tỳ khưu nhìn nó, xem xét kỹ lưỡng, quán xét một cách như lý. Đối với vị ấy, khi nhìn, xem xét kỹ lưỡng, quán xét một cách như lý, nó hiện ra là trống rỗng, hiện ra là rỗng tuếch, hiện ra là không có lõi. Này các Tỳ khưu, làm sao có thể có lõi trong thức?”
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi … saññāyapi … saṅkhāresupi … viññāṇasmimpi nibbindati. Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti …pe… nāparaṁ itthattāyāti pajānāti”.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed. They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”
“Này các Tỳ khưu, khi thấy như vậy, vị Thánh đệ tử có học thức trở nên nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... nhàm chán đối với thức. Khi nhàm chán, vị ấy ly tham; do ly tham, vị ấy được giải thoát. Nơi vị đã được giải thoát, khởi lên trí tuệ: ‘Ta đã được giải thoát.’ ... vị ấy biết rõ: ‘... không còn trở lại trạng thái này nữa.’”
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
“Pheṇapiṇḍūpamaṁ rūpaṁ, vedanā bubbuḷūpamā; Marīcikūpamā saññā, saṅkhārā kadalūpamā; Māyūpamañca viññāṇaṁ, desitādiccabandhunā.
“Form is like a lump of foam; feeling is like a bubble; perception seems like a mirage; choices like a banana plant; and consciousness like an illusion: so taught the Kinsman of the Sun.
“Sắc ví như bọt nước, thọ ví như bong bóng; tưởng ví như ảo ảnh, các hành ví như thân chuối; và thức ví như trò ảo thuật, đã được thuyết giảng bởi bậc Thân Thuộc của mặt trời.”
Yathā yathā nijjhāyati, yoniso upaparikkhati; Rittakaṁ tucchakaṁ hoti, yo naṁ passati yoniso.
However you contemplate them, examining them rationally, they’re vacuous and hollow when you look at them closely.
“Dù quán xét kỹ lưỡng, dù quán xét như lý theo cách nào đi nữa; nó trở thành trống rỗng, rỗng tuếch, đối với người nhìn thấy nó một cách như lý.”
Imañca kāyaṁ ārabbha, bhūripaññena desitaṁ; Pahānaṁ tiṇṇaṁ dhammānaṁ, rūpaṁ passatha chaḍḍitaṁ.
Concerning this body, he of vast wisdom has taught that when three things are given up, you’ll see this form discarded.
“Liên quan đến thân này, bậc trí tuệ rộng lớn đã thuyết giảng; khi ba pháp được đoạn trừ, hãy nhìn xem sắc đã bị vứt bỏ.”
Āyu usmā ca viññāṇaṁ, yadā kāyaṁ jahantimaṁ; Apaviddho tadā seti, parabhattaṁ acetanaṁ.
When vitality, warmth, and consciousness leave this body, it lies dumped there, food for others, insentient.
“Khi mạng sống, hơi ấm, và thức rời bỏ thân này; khi đó nó nằm đó, bị vứt bỏ, không có tâm thức, là thức ăn cho kẻ khác.”
Etādisāyaṁ santāno, māyāyaṁ bālalāpinī; Vadhako esa akkhāto, sāro ettha na vijjati.
Such is this continuity, this illusion, this lament of fools. It’s said to be a killer, for no core is found here.
“Dòng tương tục này là như vậy, một trò ảo thuật lừa gạt kẻ ngu; nó được gọi là kẻ sát nhân, không có lõi nào được tìm thấy ở đây.”
Evaṁ khandhe avekkheyya, bhikkhu āraddhavīriyo; Divā vā yadi vā rattiṁ, sampajāno paṭissato.
An energetic mendicant should examine the aggregates like this, with situational awareness and mindfulness whether by day or by night.
“Vị Tỳ khưu có tinh tấn đã được khởi lên nên quán xét các uẩn như vậy, dù ngày hay đêm, với sự tỉnh giác và chánh niệm.”
Jaheyya sabbasaṁyogaṁ, kareyya saraṇattano; Careyyādittasīsova, patthayaṁ accutaṁ padan”ti.
Tatiyaṁ.
They should give up all fetters, and make a refuge for themselves. They should live as though their head was on fire, aspiring to the state that does not pass.”
“Nên từ bỏ tất cả các kiết sử, nên tự mình làm nơi nương tựa cho chính mình; nên hành trì như người có đầu đang bốc cháy, mong cầu trạng thái bất tử.”