- Saṁyutta Nikāya 22.92
- 9. Theravagga
Bản dịch
SN 22.92 — Kinh Rāhula thứ hai
Dutiyarāhulasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Rāhula bạch Thế Tôn:
—Biết như thế nào, bạch Thế Tôn, thấy như thế nào đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có những ý niệm về ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên, vượt ngoài kiêu mạn, tịch tịnh, khéo giải thoát?
Vi-n 4 —Phàm sắc gì, này Rāhula, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại … hoặc xa hay gần; tất cả pháp, sau khi thấy với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, thì sẽ được giải thoát, không có chấp thủ.
Vi-n 5-7. Phàm thọ gì … phàm tưởng gì … phàm các hành gì …
Vi-n 8 Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả pháp, sau khi thấy với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, thì sẽ được giải thoát, không có chấp thủ.
Vi-n 9 Do biết như vậy, này Rāhula, do thấy như vậy, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có những ý niệm về ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên, vượt ngoài kiêu mạn, được giải thoát, không có chấp thủ.
Vi-n 10 Do biết như vậy, này Rāhula, do thấy như vậy đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có những ý niệm về ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên, vượt ngoài kiêu mạn, tịch tịnh, khéo giải thoát.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.92
- 9. Senior Mendicants
Rāhula (2nd)
10. Kinh Rāhula thứ hai
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā rāhulo bhagavantaṁ etadavoca:
“kathaṁ nu kho, bhante, jānato kathaṁ passato imasmiñca saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānāpagataṁ mānasaṁ hoti vidhāsamatikkantaṁ santaṁ suvimuttan”ti?
“Yaṁ kiñci, rāhula, rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā …pe… yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā anupādā vimutto hoti.
Yā kāci vedanā … yā kāci saññā … ye keci saṅkhārā … yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā anupādā vimutto hoti.
Evaṁ kho, rāhula, jānato evaṁ passato imasmiñca saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānāpagataṁ mānasaṁ hoti vidhāsamatikkantaṁ santaṁ suvimuttan”ti.
Dasamaṁ.
At Sāvatthī.
Seated to one side, Rāhula said to the Buddha:
“Sir, how does one know and see so that the heart is rid of I-making, mine-making, and conceit for this conscious body and externally for all signs; and going beyond discrimination, it’s peaceful and well freed?”
“Rāhula, one truly sees any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self,’ one is freed by not grasping.
One truly sees any kind of feeling … perception … choices … One truly sees any kind of consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self,’ one is freed by not grasping.
That’s how to know and see so that the heart is rid of I-making, mine-making, and conceit for this conscious body and externally for all signs; and going beyond discrimination, it’s peaceful and well freed.”
92. Nhân duyên ở Sāvatthī. Tôn giả Rāhula ngồi xuống một bên, bạch với Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, do thấy như thế nào, mà đối với thân có thức này và đối với tất cả các tướng ở ngoài, tâm thoát khỏi ngã kiến, ngã sở kiến, và mạn, vượt qua các loại (mạn), được an tịnh, được khéo giải thoát?’ ‘Này Rāhula, bất cứ sắc nào, quá khứ, vị lai, hay hiện tại, ở trong hay ở ngoài ... (như trên) ... xa hay gần; tất cả sắc ấy, sau khi thấy với chánh trí tuệ đúng theo thực thể rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’, vị ấy được giải thoát không còn chấp thủ. Bất cứ thọ nào ... bất cứ tưởng nào ... bất cứ các hành nào ... bất cứ thức nào, quá khứ, vị lai, hay hiện tại, ở trong hay ở ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần; tất cả thức ấy, sau khi thấy với chánh trí tuệ đúng theo thực thể rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’, vị ấy được giải thoát không còn chấp thủ. Này Rāhula, do biết như vậy, do thấy như vậy, đối với thân có thức này và đối với tất cả các tướng ở ngoài, tâm thoát khỏi ngã kiến, ngã sở kiến, và mạn, vượt qua các loại (mạn), được an tịnh, được khéo giải thoát.’ Thứ mười.
Theravaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Phẩm Trưởng Lão, thứ chín.
Ānando tisso yamako, anurādho ca vakkali; Assaji khemako channo, rāhulā apare duve.
Ānanda, Tissa, Yamaka, Anurādha, và Vakkali; Assaji, Khemaka, Channa, và hai kinh Rāhula sau cùng.