- Saṁyutta Nikāya 22.87
- 9. Theravagga
Bản dịch
SN 22.87 — Kinh Vakkali
Vakkalisutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Vakkali trú tại nhà một thợ gốm, đang bị bệnh, đau đớn, trầm trọng.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Vakkali gọi những người thị giả:
—Ðến đây, các Hiền giả! Hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: “Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Vakkali bị bệnh, đau đớn, trầm trọng; (Vakkali) cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: ‘Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheo Vakkali.’”
Vi-n 4 —Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali, đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn trầm trọng. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và có thưa như sau: “Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheo Vakkali”.
Vi-n 5 Thế Tôn im lặng nhận lời.
Vi-n 6 Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, đi đến Tỷ-kheo Vakkali.
Vi-n 7 Tôn giả Vakkali thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền cố gắng từ giường ngồi dậy.
Vi-n 8 Thế Tôn nói với Tôn giả Vakkali:
—Thôi Vakkali, Ông chớ có cố gắng từ giường ngồi dậy. Có chỗ ngồi đã soạn sẵn, Ta sẽ ngồi trên chỗ ngồi ấy.
Rồi Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn.
Vi-n 9 Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Vakkali:
—Ông có kham nhẫn được không? Ông có chịu đựng được không? Có phải khổ thọ tổn giảm, không tăng trưởng? Có phải có những dấu hiệu tổn giảm, không phải tăng trưởng?
—Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn! Con không có thể chịu đựng! Khổ thọ kịch liệt tăng trưởng nơi con, không có tổn giảm. Có những dấu hiệu tăng trưởng, không có tổn giảm.
Vi-n 10 —Này Vakkali, Ông có gì phân vân, hối hận không?
—Bạch Thế Tôn, thật sự con có nhiều phân vân, có nhiều hối hận!
Vi-n 11 —Này Vakkali, Ông có gì tự trách mình về giới luật không?
—Bạch Thế Tôn, con không có gì tự trách mình về giới luật.
Vi-n 12 —Này Vakkali, nếu Ông không có gì tự trách mình về giới luật, vậy Ông có gì phân vân, có gì hối hận?
—Ðã từ lâu, bạch Thế Tôn, con muốn đến để được thấy Thế Tôn. Nhưng thân con không đủ sức mạnh để được đến thấy Thế Tôn.
Vi-n 13 —Thôi vừa rồi, này Vakkali, có gì đáng thấy đối với cái thân hôi hám này. Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Ðang thấy Ta, là thấy Pháp.
Vi-n 14 —Này Vakkali, Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Thọ … Tưởng … Các hành … Thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 15-16. —Do vậy, ở đây … thấy vậy … ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.
Vi-n 17 Rồi Thế Tôn, sau khi giáo giới cho Tôn giả Vakkali với bài giáo giới này, từ chỗ ngồi đứng dậy và đi đến núi Gijjhakuuta (Linh Thứu).
Vi-n 18 Rồi Tôn giả Vakkali, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, liền gọi các thị giả:
—Hãy đến ta, này chư Hiền, hãy nhắc cái giường ta và đi đến tảng đá đen (kàlasilà), tại sườn núi Isigili (hang của Tiên nhân). Làm sao người như ta, lại nghĩ đến mệnh chung trong một căn nhà?
Vi-n 19 —Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali, nhắc chiếc giường với Tôn giả Vakkali đi đến tảng đá đen, tại sườn núi Isigili.
Vi-n 20 Thế Tôn, đêm ấy và ngày còn lại, trú tại núi Gijjhakuuta.
Vi-n 21 Rồi hai vị Thiên, trong khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng núi Gijjakuuta, đi đến Thế Tôn … liền đứng một bên.
Vi-n 22 Ðứng một bên, một vị Thiên bạch Thế Tôn:
—Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, đang có ý nghĩ muốn giải thoát.
Vi-n 23 Vị Thiên khác bạch Thế Tôn:
—Vị ấy muốn giải thoát, chắc chắn được khéo giải thoát.
Vi-n 24 Chư Thiên ấy nói như vậy xong; sau khi nói vậy, liền đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi biến mất tại chỗ.
Vi-n 25 Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã qua, liền gọi các Tỷ-kheo:
—Hãy đến, này các Tỷ-kheo. Hãy đi đến Tỷ-kheo Vakkali; sau khi đến, nói với Tỷ-kheo Vakkali như sau: “Này Hiền giả Vakkali, hãy nghe lời nói của hai vị Thiên nói với Thế Tôn. Này Hiền giả, đêm nay, hai vị Thiên, sau khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Gijjhakuuta, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, này Hiền giả, một vị Thiên bạch Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Vakkali đang có ý nghĩ muốn giải thoát’. Vị Thiên khác bạch Thế Tôn: ‘Vị ấy muốn giải thoát, chắc chắn được khéo giải thoát’. Và Hiền giả Vakkali, Thế Tôn nói với Hiền giả như sau: “Này Vakkali, chớ có sợ! Này Vakkali, chớ có sợ! Cái chết của Ông sẽ không phải là ác hạnh, sự mệnh chung không phải ác hạnh!’”
Vi-n 26 —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Vakkali; sau khi đến, thưa với Tôn giả Vakkali:
—Này Hiền giả Vakkali, hãy nghe lời nói của Thế Tôn và hai vị Thiên.
Vi-n 27 Rồi Tôn giả Vakkali gọi các vị thị giả:
—Hãy đến, này chư Hiền! Hãy nhắc tôi ra khỏi giường. Làm sao một người như tôi, có thể nghĩ ngồi trên chỗ ngồi cao để nghe Thế Tôn giảng dạy.
Vi-n 28 —Thưa vâng, này Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali, nhắc Tôn giả Vakkali ra khỏi giường.
Vi-n 29 —Này Hiền giả, đêm nay, hai vị Thiên, sau khi đêm đã gần tàn … đứng một bên. Ðứng một bên, này Hiền giả, một vị Thiên bạch Thế Tôn: “Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, đang nghĩ đến tự giải thoát”. Vị Thiên kia bạch Thế Tôn: “Vị ấy, bạch Thế Tôn, muốn giải thoát sẽ được khéo giải thoát”. Và Thế Tôn, này Hiền giả Vakkali, nói với Hiền giả như sau: “Chớ có sợ, này Vakkali! Chớ có sợ, này Vakkali! Cái chết của Ông không phải là ác hạnh, sự mệnh chung không phải là ác hạnh!”
Vi-n 30 —Vậy này chư Hiền, hãy nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: “Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, bệnh trầm trọng! Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và nói như sau: ‘Sắc là vô thường, bạch Thế Tôn. Con không có ngờ gì vấn đề này, bạch Thế Tôn! Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Thọ là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Tưởng là vô thường … Các hành là vô thường … Thức là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì về vấn đề này.’”
Vi-n 31 —Thưa vâng, này Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali rồi ra đi.
Vi-n 32 Tôn giả Vakkali, khi các Tỷ-kheo ấy đi không bao lâu liền đem lại con dao.
Vi-n 33 Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và nói như sau: “Sắc là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Thọ … Tưởng … Các hành … Thức là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì về vấn đề này”.
Vi-n 34 Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, chúng ta hãy đi đến Isigili, chỗ tảng đá đen. Ở đấy, Thiện gia nam tử đem lại con dao.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 35 Thế Tôn cùng với số đông Tỷ-kheo đi đến Isigili, chỗ tảng đá đen.
Vi-n 36 Và ở đàng xa, Thế Tôn thấy Tôn giả Vakkali nằm trên giường, với vai co quắp lại.
Vi-n 37 Lúc bấy giờ, một đám khói đen, một luồng ám khí đi về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía trên, đi về phía dưới, đi về phía bốn góc.
Vi-n 38 Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy đám khói đen ấy, luồng ám khí ấy đi về phía Ðông … đi về phía bốn góc không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 39 —Ðó là Ác ma, này các Tỷ-kheo, đang đi tìm thức của Thiện nam tử Vakkali và nói: “thức của Thiện nam tử Vakkali an trú tại chỗ nào?”
Vi-n 40 Nhưng này các Tỷ-kheo, với thức không an trú tại một chỗ nào, Thiện nam tử Vakkali đã nhập Niết-bàn một cách hoàn toàn!
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.87
- 9. Senior Mendicants
With Vakkali
5. Kinh Vakkali
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena āyasmā vakkali kumbhakāranivesane viharati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno.
Atha kho āyasmā vakkali upaṭṭhāke āmantesi: “etha tumhe, āvuso, yena bhagavā tenupasaṅkamatha; upasaṅkamitvā mama vacanena bhagavato pāde sirasā vandatha: ‘vakkali, bhante, bhikkhu ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno, so bhagavato pāde sirasā vandatī’ti. Evañca vadetha: ‘sādhu kira, bhante, bhagavā yena vakkali bhikkhu tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā’”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato vakkalissa paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ: “vakkali, bhante, bhikkhu ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno, so bhagavato pāde sirasā vandati; evañca pana vadeti: ‘sādhu kira, bhante, bhagavā yena vakkali bhikkhu tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā’”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
Now at that time Venerable Vakkali was staying in a potter’s shed, and he was sick, suffering, gravely ill.
Then he addressed his carers, “Please, reverends, go to the Buddha, and in my name bow with your head to his feet. Say to him: ‘Sir, the mendicant Vakkali is sick, suffering, gravely ill. He bows with his head to your feet.’ And then say: ‘Sir, please go to the mendicant Vakkali out of sympathy.’”
“Yes, reverend,” those monks replied. They did as he asked. The Buddha consented with silence.
87. Một thời, Thế Tôn trú tại Rājagaha, trong khu rừng Veḷuvana, tại nơi nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, Tôn giả Vakkali đang ở trong nhà của một người thợ gốm, bị bệnh, đau đớn, bệnh tình trầm trọng. Khi ấy, Tôn giả Vakkali gọi các vị thị giả: “Này các Hiền giả, các vị hãy đến nơi Thế Tôn đang ở; sau khi đến, hãy nhân danh tôi, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và nói rằng: ‘Bạch Thế Tôn, Tỳ khưu Vakkali đang bị bệnh, đau đớn, bệnh tình trầm trọng, ngài cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.’ Và hãy nói thêm như sau: ‘Lành thay, bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn vì lòng bi mẫn, hãy đến nơi Tỳ khưu Vakkali.’” “Vâng, thưa Hiền giả.” Các Tỳ khưu ấy vâng lời Tôn giả Vakkali, đi đến nơi Thế Tôn đang ở; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỳ khưu ấy bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Tỳ khưu Vakkali đang bị bệnh, đau đớn, bệnh tình trầm trọng, ngài cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn; và ngài còn nói thêm như sau: ‘Lành thay, bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn vì lòng bi mẫn, hãy đến nơi Tỳ khưu Vakkali.’” Thế Tôn im lặng nhận lời.
Atha kho bhagavā nivāsetvā pattacīvaramādāya yenāyasmā vakkali tenupasaṅkami. Addasā kho āyasmā vakkali bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna mañcake samadhosi.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ vakkaliṁ etadavoca: “alaṁ, vakkali, mā tvaṁ mañcake samadhosi. Santimāni āsanāni paññattāni; tatthāhaṁ nisīdissāmī”ti.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane. Nisajja kho bhagavā āyasmantaṁ vakkaliṁ etadavoca: “kacci te, vakkali, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ, kacci dukkhā vedanā paṭikkamanti, no abhikkamanti; paṭikkamosānaṁ paññāyati, no abhikkamo”ti?
“Na me, bhante, khamanīyaṁ, na yāpanīyaṁ; bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo”ti.
“Kacci te, vakkali, na kiñci kukkuccaṁ, na koci vippaṭisāro”ti?
“Taggha me, bhante, anappakaṁ kukkuccaṁ, anappako vippaṭisāro”ti.
“Kacci pana taṁ, vakkali, attā sīlato na upavadatī”ti?
“Na kho maṁ, bhante, attā sīlato upavadatī”ti.
“No ce kira taṁ, vakkali, attā sīlato upavadati; atha kiñca te kukkuccaṁ ko ca vippaṭisāro”ti?
“Cirapaṭikāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamitukāmo, natthi ca me kāyasmiṁ tāvatikā balamattā, yāvatāhaṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkameyyan”ti.
Then the Buddha robed up and, taking his bowl and robes, went to Venerable Vakkali. Venerable Vakkali saw the Buddha coming off in the distance and stirred in his cot.
But the Buddha said to him, “It’s all right, Vakkali, don’t get up. There are some seats spread out, I will sit there.”
He sat down on the seat spread out and said to Vakkali, “I hope you’re keeping well, Vakkali; I hope you’re all right. I hope your pain is fading, not growing; that its fading is evident, not its growing.”
“Sir, I’m not keeping well, I’m not getting by. My pain is terrible and growing, not fading; its growing is evident, not its fading.”
“I hope you don’t have any remorse or regret?”
“Indeed, sir, I have no little remorse and regret.”
“I hope you have no reason to blame yourself when it comes to ethical conduct?”
“No sir, I have no reason to blame myself when it comes to ethical conduct.”
“In that case, Vakkali, why do you have remorse and regret?”
“For a long time I’ve wanted to go and see the Buddha, but I was physically too weak.”
Khi ấy, Thế Tôn đắp y, mang bát và y, đi đến nơi Tôn giả Vakkali. Tôn giả Vakkali thấy Thế Tôn từ xa đi đến. Thấy vậy, ngài cựa mình trên giường. Khi ấy, Thế Tôn nói với Tôn giả Vakkali: “Thôi, Vakkali, ông đừng cựa mình trên giường. Có những chỗ ngồi này đã soạn sẵn; Ta sẽ ngồi ở đó.” Thế Tôn ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Vakkali: “Này Vakkali, ông có kham nhẫn được không, có chịu đựng được không? Các cảm thọ đau đớn có thuyên giảm, không tăng trưởng không? Sự thuyên giảm có được nhận thấy, không phải là sự tăng trưởng không?” “Bạch Thế Tôn, con không kham nhẫn được, không chịu đựng được. Các cảm thọ đau đớn của con tăng trưởng mạnh, không thuyên giảm. Sự tăng trưởng được nhận thấy, không phải là sự thuyên giảm.” “Này Vakkali, ông có chút hối hận nào không, có chút ăn năn nào không?” “Thật vậy, bạch Thế Tôn, con có không ít hối hận, không ít ăn năn.” “Này Vakkali, về phương diện giới luật, tự tâm ông có khiển trách ông không?” “Bạch Thế Tôn, về phương diện giới luật, tự tâm con không khiển trách con.” “Này Vakkali, nếu về phương diện giới luật, tự tâm ông không khiển trách ông, vậy thì ông hối hận về điều gì, ăn năn về điều gì?” “Bạch Thế Tôn, từ lâu con đã muốn đến để yết kiến Thế Tôn, nhưng trong thân con không có đủ sức lực để có thể đến yết kiến Thế Tôn.”
“Alaṁ, vakkali, kiṁ te iminā pūtikāyena diṭṭhena? Yo kho, vakkali, dhammaṁ passati so maṁ passati; yo maṁ passati so dhammaṁ passati. Dhammañhi, vakkali, passanto maṁ passati; maṁ passanto dhammaṁ passati.
“Enough, Vakkali! Why would you want to see this rotting body? One who sees the teaching sees me. One who sees me sees the teaching. Seeing the teaching, you see me. Seeing me, you see the teaching.
“Thôi, Vakkali, có ích gì cho ông khi thấy cái thân hôi thối này? Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta; ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Vì này Vakkali, thấy Pháp là thấy Ta; thấy Ta là thấy Pháp.”
Taṁ kiṁ maññasi, vakkali, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante” …pe… eso me attāti? “No hetaṁ, bhante”.
“Tasmātiha …pe… evaṁ passaṁ …pe… nāparaṁ itthattāyāti pajānātī”ti.
What do you think, Vakkali? Is form permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“So you should truly see … Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”
“Này Vakkali, ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?” “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” “Cái gì vô thường, cái đó là khổ hay lạc?” “Bạch Thế Tôn, là khổ.” “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có đáng để quán xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” “Bạch Thế Tôn, không đáng.” “Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?” “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” … “cái này là tự ngã của tôi?” “Bạch Thế Tôn, không đáng.” “Do đó, ở đây… thấy như vậy… vị ấy biết rõ: ‘… không còn gì khác cho trạng thái này nữa.’”
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ vakkaliṁ iminā ovādena ovaditvā uṭṭhāyāsanā yena gijjhakūṭo pabbato tena pakkāmi.
Atha kho āyasmā vakkali acirapakkantassa bhagavato upaṭṭhāke āmantesi: “etha maṁ, āvuso, mañcakaṁ āropetvā yena isigilipassaṁ kāḷasilā tenupasaṅkamatha. Kathañhi nāma mādiso antaraghare kālaṁ kattabbaṁ maññeyyā”ti?
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato vakkalissa paṭissutvā āyasmantaṁ vakkaliṁ mañcakaṁ āropetvā yena isigilipassaṁ kāḷasilā tenupasaṅkamiṁsu. Atha kho bhagavā tañca rattiṁ tañca divāvasesaṁ gijjhakūṭe pabbate vihāsi.
Atha kho dve devatāyo abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ gijjhakūṭaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu …pe… ekamantaṁ aṭṭhaṁsu.
Ekamantaṁ ṭhitā kho ekā devatā bhagavantaṁ etadavoca: “vakkali, bhante, bhikkhu vimokkhāya cetetī”ti.
Aparā devatā bhagavantaṁ etadavoca: “so hi nūna, bhante, suvimutto vimuccissatī”ti.
Idamavocuṁ tā devatāyo. Idaṁ vatvā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyiṁsu.
And then, after giving Venerable Vakkali this advice, the Buddha rose from his seat and went to the Vulture’s Peak Mountain.
Then Venerable Vakkali addressed his carers, “Come on, reverends, lift my cot and take me to the Black Rock on the slopes of Isigili. For how on earth could one such as I imagine dying in an inhabited area!”
“Yes, reverend,” replied those mendicants, and did as he asked. Meanwhile, the Buddha spent the rest of that night and day on Vulture’s Peak Mountain.
Then, late at night, two glorious deities, lighting up the entire Vulture’s Peak, went up to the Buddha, bowed, and stood to one side.
One deity said to him, “Sir, the mendicant Vakkali is intent on liberation!”
And another deity said to him, “He’ll definitely be well freed!”
This is what those deities said. Then they bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right side, before vanishing right there.
Khi ấy, Thế Tôn, sau khi giáo huấn Tôn giả Vakkali bằng lời giáo huấn này, đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi đến núi Gijjhakūṭa. Khi ấy, Tôn giả Vakkali, không lâu sau khi Thế Tôn rời đi, đã gọi các vị thị giả: “Này các Hiền giả, hãy đến, đặt tôi lên giường rồi mang đến Kāḷasilā bên sườn núi Isigili. Làm sao một người như tôi lại có thể nghĩ đến việc chết trong nhà của người thế tục?” “Vâng, thưa Hiền giả.” Các Tỳ khưu ấy vâng lời Tôn giả Vakkali, đặt Tôn giả Vakkali lên giường rồi mang đến Kāḷasilā bên sườn núi Isigili. Khi ấy, Thế Tôn đã trú tại núi Gijjhakūṭa trong đêm đó và phần còn lại của ngày. Khi ấy, khi đêm đã khuya, hai vị thiên nhân với dung sắc thù thắng, làm sáng rực toàn bộ núi Gijjhakūṭa, đã đi đến nơi Thế Tôn đang ở… đứng sang một bên. Đứng sang một bên, một vị thiên nhân bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Tỳ khưu Vakkali đang hướng tâm đến giải thoát.” Vị thiên nhân kia bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, chắc chắn ngài sẽ được giải thoát, một sự giải thoát tốt đẹp.” Các vị thiên nhân ấy đã nói như vậy. Sau khi nói xong, họ đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi biến mất ngay tại chỗ.
Atha kho bhagavā tassā rattiyā accayena bhikkhū āmantesi:
“etha tumhe, bhikkhave, yena vakkali bhikkhu tenupasaṅkamatha; upasaṅkamitvā vakkaliṁ bhikkhuṁ evaṁ vadetha:
Then, when the night had passed, the Buddha addressed the mendicants:
“Come, mendicants, go to the mendicant Vakkali and tell him:
Khi ấy, Thế Tôn, khi đêm đã qua, gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu, hãy đến, các ông hãy đi đến nơi Tỳ khưu Vakkali; sau khi đến, hãy nói với Tỳ khưu Vakkali như sau –”
‘Suṇāvuso tvaṁ, vakkali, bhagavato vacanaṁ dvinnañca devatānaṁ.
Imaṁ, āvuso, rattiṁ dve devatāyo abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ gijjhakūṭaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu.
Ekamantaṁ ṭhitā kho, āvuso, ekā devatā bhagavantaṁ etadavoca—vakkali, bhante, bhikkhu vimokkhāya cetetīti.
Aparā devatā bhagavantaṁ etadavoca—so hi nūna, bhante, suvimutto vimuccissatīti.
Bhagavā ca taṁ, āvuso vakkali, evamāha—mā bhāyi, vakkali; mā bhāyi, vakkali. Apāpakaṁ te maraṇaṁ bhavissati, apāpikā kālakiriyā’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paṭissutvā yenāyasmā vakkali tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ vakkaliṁ etadavocuṁ:
“suṇāvuso vakkali, bhagavato vacanaṁ dvinnañca devatānan”ti.
‘Vakkali, hear the word of the Buddha and two deities.
Late last night, two glorious deities, lighting up the entire Vulture’s Peak, went up to the Buddha, bowed, and stood to one side.
One deity said to him, “Sir, the mendicant Vakkali is intent on liberation!”
The other deity said to him, “He’ll definitely be well freed!”
And the Buddha said, “Do not fear, Vakkali, do not fear! Your death will not be a bad one; your passing will not be a bad one.”’”
“Yes, sir,” those monks replied. They went to Vakkali and said to him:
“Vakkali, hear the word of the Buddha and two deities.”
“Này hiền giả Vakkali, hiền giả hãy lắng nghe lời của đức Thế Tôn và của hai vị thiên tử. Này hiền giả, đêm nay, khi đêm đã gần tàn, có hai vị thiên tử với dung sắc thù thắng, chiếu sáng toàn bộ núi Gijjhakūṭa, đã đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, họ đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng sang một bên. Này hiền giả, sau khi đứng sang một bên, một vị thiên tử đã bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch ngài, tỳ khưu Vakkali đang hướng tâm đến sự giải thoát.’ Vị thiên tử kia đã bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch ngài, chắc chắn vị ấy sẽ được giải thoát một cách tốt đẹp.’ Và này hiền giả Vakkali, đức Thế Tôn đã nói với hiền giả như vầy: ‘Này Vakkali, đừng sợ hãi; này Vakkali, đừng sợ hãi! Cái chết của ngươi sẽ không phải là xấu xa, sự mệnh chung sẽ không phải là tồi tệ.’” Sau khi vâng lời đức Thế Tôn: “Thưa vâng, bạch ngài,” các vị tỳ khưu ấy đã đi đến chỗ trưởng lão Vakkali; sau khi đến, họ đã nói với trưởng lão Vakkali điều này: “Này hiền giả Vakkali, hiền giả hãy lắng nghe lời của đức Thế Tôn và của hai vị thiên tử.”
Atha kho āyasmā vakkali upaṭṭhāke āmantesi: “etha maṁ, āvuso, mañcakā oropetha. Kathañhi nāma mādiso ucce āsane nisīditvā tassa bhagavato sāsanaṁ sotabbaṁ maññeyyā”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato vakkalissa paṭissutvā āyasmantaṁ vakkaliṁ mañcakā oropesuṁ. “Imaṁ, āvuso, rattiṁ dve devatāyo abhikkantāya rattiyā …pe… ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho, āvuso, ekā devatā bhagavantaṁ etadavoca: ‘vakkali, bhante, bhikkhu vimokkhāya cetetī’ti. Aparā devatā bhagavantaṁ etadavoca: ‘so hi nūna, bhante, suvimutto vimuccissatī’ti. Bhagavā ca taṁ, āvuso vakkali, evamāha: ‘mā bhāyi, vakkali; mā bhāyi, vakkali. Apāpakaṁ te maraṇaṁ bhavissati, apāpikā kālakiriyā’”ti.
“Tena hāvuso, mama vacanena bhagavato pāde sirasā vandatha: ‘vakkali, bhante, bhikkhu ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. So bhagavato pāde sirasā vandatī’ti. Evañca vadetha: ‘rūpaṁ aniccaṁ. Tāhaṁ, bhante, na kaṅkhāmi. Yadaniccaṁ taṁ dukkhanti na vicikicchāmi. Yadaniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, natthi me tattha chando vā rāgo vā pemaṁ vāti na vicikicchāmi.
Vedanā aniccā. Tāhaṁ, bhante, na kaṅkhāmi. Yadaniccaṁ taṁ dukkhanti na vicikicchāmi. Yadaniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, natthi me tattha chando vā rāgo vā pemaṁ vāti na vicikicchāmi.
Saññā …
saṅkhārā aniccā. Tāhaṁ, bhante, na kaṅkhāmi. Yadaniccaṁ taṁ dukkhanti na vicikicchāmi. Yadaniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, natthi me tattha chando vā rāgo vā pemaṁ vāti na vicikicchāmi.
Viññāṇaṁ aniccaṁ. Tāhaṁ, bhante, na kaṅkhāmi. Yadaniccaṁ taṁ dukkhanti na vicikicchāmi. Yadaniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, natthi me tattha chando vā rāgo vā pemaṁ vāti na vicikicchāmī’”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato vakkalissa paṭissutvā pakkamiṁsu. Atha kho āyasmā vakkali acirapakkantesu tesu bhikkhūsu satthaṁ āharesi.
Then Vakkali addressed his carers, “Please, reverends, help me off my cot. For how on earth could one such as I presume to listen to the Buddha’s instructions sitting on a high seat?”
“Yes, reverend,” replied those mendicants, and helped him off his cot. They repeated what the Buddha had said.
Vakkali said, “Well then, reverends, in my name bow with your head to the Buddha’s feet. Say to him: ‘Sir, the mendicant Vakkali is sick, suffering, gravely ill. He bows with his head to your feet.’ And then say: ‘Form is impermanent. I have no doubt of that. I’m certain that what is impermanent is suffering. And I’m certain that I have no desire or greed or fondness for what is impermanent, suffering, and perishable.
Feeling is impermanent …
Perception is impermanent …
Choices are impermanent …
Consciousness is impermanent. I have no doubt of that. I’m certain that what is impermanent is suffering. And I’m certain that I have no desire or greed or fondness for what is impermanent, suffering, and perishable.’”
“Yes, reverend,” those monks replied, and left. And then, not long after those mendicants had left, Venerable Vakkali committed suicide.
Khi ấy, trưởng lão Vakkali đã gọi các vị thị giả: “Này các hiền giả, hãy đến đây, hãy đỡ tôi xuống khỏi giường. Làm sao một người như tôi lại có thể nghĩ rằng nên ngồi ở chỗ cao để nghe giáo pháp của đức Thế Tôn ấy!” “Thưa vâng, hiền giả.” Sau khi vâng lời trưởng lão Vakkali, các vị tỳ khưu ấy đã đỡ trưởng lão Vakkali xuống khỏi giường. “Này hiền giả, đêm nay, có hai vị thiên tử, khi đêm đã gần tàn, ... (như trên) ... đã đứng sang một bên. Này hiền giả, sau khi đứng sang một bên, một vị thiên tử đã bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch ngài, tỳ khưu Vakkali đang hướng tâm đến sự giải thoát.’ Vị thiên tử kia đã bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch ngài, chắc chắn vị ấy sẽ được giải thoát một cách tốt đẹp.’ Và này hiền giả Vakkali, đức Thế Tôn đã nói với hiền giả như vầy: ‘Này Vakkali, đừng sợ hãi; này Vakkali, đừng sợ hãi! Cái chết của ngươi sẽ không phải là xấu xa, sự mệnh chung sẽ không phải là tồi tệ.’” “Vậy thì, này các hiền giả, hãy nhân danh tôi mà cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn: ‘Bạch ngài, tỳ khưu Vakkali đang bị bệnh, đau đớn, lâm trọng bệnh. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn.’ Và hãy nói như vầy: ‘Sắc là vô thường. Bạch ngài, về điều đó, con không hoài nghi. Cái gì vô thường thì là khổ, con không do dự. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, đối với cái đó, con không có ước muốn, không có tham ái, không có luyến ái, con không do dự. Thọ là vô thường. Bạch ngài, về điều đó, con không hoài nghi. Cái gì vô thường thì là khổ, con không do dự. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, đối với cái đó, con không có ước muốn, không có tham ái, không có luyến ái, con không do dự. Tưởng... các hành là vô thường. Bạch ngài, về điều đó, con không hoài nghi. Cái gì vô thường thì là khổ, con không do dự. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, đối với cái đó, con không có ước muốn, không có tham ái, không có luyến ái, con không do dự. Thức là vô thường. Bạch ngài, về điều đó, con không hoài nghi. Cái gì vô thường thì là khổ, con không do dự. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, đối với cái đó, con không có ước muốn, không có tham ái, không có luyến ái, con không do dự.’” “Thưa vâng, hiền giả.” Sau khi vâng lời trưởng lão Vakkali, các vị tỳ khưu ấy đã ra đi. Khi ấy, sau khi các vị tỳ khưu ấy ra đi không lâu, trưởng lão Vakkali đã cầm lấy con dao.
Atha kho te bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ: “vakkali, bhante, bhikkhu ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno; so bhagavato pāde sirasā vandati; evañca vadeti: ‘rūpaṁ aniccaṁ. Tāhaṁ, bhante, na kaṅkhāmi. Yadaniccaṁ taṁ dukkhanti na vicikicchāmi. Yadaniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, natthi me tattha chando vā rāgo vā pemaṁ vāti na vicikicchāmi. Vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ aniccaṁ. Tāhaṁ, bhante, na kaṅkhāmi. Yadaniccaṁ taṁ dukkhanti na vicikicchāmi. Yadaniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, natthi me tattha chando vā rāgo vā pemaṁ vāti na vicikicchāmī’”ti.
Then those mendicants went up to the Buddha and told him Vakkali’s message.
Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, họ đã ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các vị tỳ khưu ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, tỳ khưu Vakkali đang bị bệnh, đau đớn, lâm trọng bệnh; vị ấy cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn; và nói như vầy: ‘Sắc là vô thường. Bạch ngài, về điều đó, con không hoài nghi. Cái gì vô thường thì là khổ, con không do dự. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, đối với cái đó, con không có ước muốn, không có tham ái, không có luyến ái, con không do dự. Thọ... Tưởng... các hành... Thức là vô thường. Bạch ngài, về điều đó, con không hoài nghi. Cái gì vô thường thì là khổ, con không do dự. Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, đối với cái đó, con không có ước muốn, không có tham ái, không có luyến ái, con không do dự.’”
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “āyāma, bhikkhave, yena isigilipassaṁ kāḷasilā tenupasaṅkamissāma; yattha vakkalinā kulaputtena satthamāharitan”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Atha kho bhagavā sambahulehi bhikkhūhi saddhiṁ yena isigilipassaṁ kāḷasilā tenupasaṅkami. Addasā kho bhagavā āyasmantaṁ vakkaliṁ dūratova mañcake vivattakkhandhaṁ semānaṁ.
Then the Buddha said to the mendicants, “Come, mendicants, let’s go to the Black Rock on the slopes of Isigili, where Vakkali, the gentleman, committed suicide.”
“Yes, sir,” they replied.
Then the Buddha together with several mendicants went to the Black Rock on the slopes of Isigili. The Buddha saw Vakkali off in the distance on his cot, lying with aggregates cast off.
Khi ấy, đức Thế Tôn đã gọi các vị tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, chúng ta hãy đi đến sườn núi Isigili, tại Kāḷasilā, nơi mà thiện nam tử Vakkali đã cầm lấy con dao.” “Thưa vâng, bạch ngài.” Các vị tỳ khưu ấy đã vâng lời đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn cùng với nhiều vị tỳ khưu đã đi đến sườn núi Isigili, tại Kāḷasilā. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy trưởng lão Vakkali từ xa, đang nằm trên giường với thân hình quay sang một bên.
Tena kho pana samayena dhūmāyitattaṁ timirāyitattaṁ gacchateva purimaṁ disaṁ, gacchati pacchimaṁ disaṁ, gacchati uttaraṁ disaṁ, gacchati dakkhiṇaṁ disaṁ, gacchati uddhaṁ disaṁ, gacchati adho disaṁ, gacchati anudisaṁ.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “passatha no tumhe, bhikkhave, etaṁ dhūmāyitattaṁ timirāyitattaṁ gacchateva purimaṁ disaṁ …pe… gacchati anudisan”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Eso kho, bhikkhave, māro pāpimā vakkalissa kulaputtassa viññāṇaṁ samanvesati: ‘kattha vakkalissa kulaputtassa viññāṇaṁ patiṭṭhitan’ti? Appatiṭṭhitena ca, bhikkhave, viññāṇena vakkali kulaputto parinibbuto”ti.
Pañcamaṁ.
Now at that time a cloud of black smoke was moving east, west, north, south, above, below, and in-between.
The Buddha said to the mendicants, “Mendicants, do you see that cloud of black smoke moving east, west, north, south, above, below, and in-between?”
“Yes, sir.”
“That’s Māra the Wicked searching for Vakkali’s consciousness, wondering: ‘Where is Vakkali’s consciousness established?’ But since his consciousness is not established, Vakkali is quenched.”
Vào lúc ấy, có một đám khói mờ, một đám mây mù đi về phương đông, đi về phương tây, đi về phương bắc, đi về phương nam, đi về phương trên, đi về phương dưới, đi về các phương phụ. Bấy giờ, đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: – Này các tỳ khưu, các ngươi có thấy đám khói mờ, đám mây mù kia đi về phương đông... đi về các phương phụ không? – Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy. – Này các tỳ khưu, đó chính là ác ma Māra đang tìm kiếm thức của thiện nam tử Vakkali: ‘Thức của thiện nam tử Vakkali được an trú ở đâu?’ Này các tỳ khưu, thiện nam tử Vakkali đã viên tịch với thức không có nơi an trú. Kinh thứ năm.