- Saṁyutta Nikāya 22.86
- 9. Theravagga
Bản dịch
SN 22.86 — Kinh Anurādha
Anurādhasutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Vesālī, Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Tôn giả Anuràdha ở một cái chòi trong rừng, không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Vi-n 3 Rồi nhiều ngoại đạo du sĩ đi đến Tôn giả Anuràdha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuràdha những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Ngồi xuống một bên, các ngoại đạo du sĩ ấy nói với Tôn giả Anuràdha:
—Này Hiền giả Anuràdha, bậc Như Lai ấy là Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy, được xem là đã tuyên bố theo bốn trường hợp: “Như Lai tồn tại sau khi chết; Như lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 5 Ðược nói vậy, Tôn giả Anuràdha nói với các ngoại đạo du sĩ ấy:
—Này Chư Hiền, bậc Như Lai, Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, bậc đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy được xem là đã tuyên bố ra ngoài bốn trường hợp như sau: “Như Lai tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 6 Ðược nghe nói vậy, các ngoại đạo du sĩ nói với Tôn giả Anuràdha như sau:
—Hoặc là vị Tỷ-kheo này mới tu học, xuất gia không bao lâu. Hay vị này là vị Trưởng lão, nhưng ngu dốt không có học tập.
Vi-n 7 Rồi các ngoại đạo du sĩ ấy sau khi chỉ trích Tôn giả Anuràdha là mới tu học, là ngu si, liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Vi-n 8 Rồi Tôn giả Anuràdha, sau khi các ngoại đạo du sĩ ấy ra đi không bao lâu, liền suy nghĩ như sau: “Nếu ngoại đạo du sĩ ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như thế nào để khi ta nói với các ngoại đạo du sĩ ấy, ta nói lên quan điểm của Thế Tôn, ta không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, ta có thể trả lời tùy pháp, thuận với Chánh pháp; và ai là người đồng pháp, nói lên lời thuận với quan điểm của Ngài, sẽ không tìm được lý do để quở trách”.
Vi-n 9 Rồi Tôn giả Anuràdha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 10 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Anuràdha bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con ở trong một cái chòi trong rừng không xa Thế Tôn bao nhiêu. Rồi bạch Thế Tôn, nhiều ngoại đạo du sĩ đi đến con; sau khi đến … nói với con như sau: “Này Hiền giả Anuràdha, bậc Như Lai ấy là Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, đã đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy được xem là đã tuyên bố theo bốn trường hợp: ‘Như Lai tồn tại sau khi chết … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết’”.
Vi-n 11 Ðược nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với các ngoại đạo du sĩ ấy như sau: “Này chư Hiền.. không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 12 Ðược nghe nói vậy, các ngoại đạo du sĩ nói với con: “Hoặc là Tỷ-kheo này mới học … nhưng ngu dốt, không có học tập”.
Vi-n 13 Rồi các ngoại đạo du sĩ ấy sau khi chỉ trích con là mới tu học … liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Vi-n 14 Rồi bạch Thế Tôn, sau khi các ngoại đạo du sĩ ấy ra đi không bao lâu, con liền suy nghĩ như sau: “Nếu các ngoại đạo du sĩ ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như thế nào để khi ta nói với các ngoại đạo du sĩ ấy, ta nói lên quan điểm của Thế Tôn. Ta không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, ta có thể trả lời với tùy pháp, thuận với Chánh pháp; và ai là người đồng pháp, nói lên lời thuận với quan điểm của Ngài, sẽ không tìm được lý do để quở trách”.
Vi-n 15 Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Thọ … tưởng … các hành … thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 16-17. —Do vậy … thấy vậy … ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.
Vi-n 18 Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Sắc là Như Lai không?”
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
“—Thọ … tưởng … các hành … thức là Như Lai không?”
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 19 Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Như Lai ở trong sắc không?”
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán: “Như Lai ở ngoài sắc không”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán: “Như lai ở trong thọ … ở ngoài thọ … ở trong tưởng … ở ngoài tưởng … ở trong các hành … ở ngoài các hành … ở trong thức không”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán: “Như Lai ở ngoài thức không”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là Như Lai không”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 20 —Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán: “Cái phi sắc, phi thọ, phi tưởng, phi hành, phi thức là Như Lai không”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 21 —Và ở đây, này Anuràdha, ngay trong hiện tại không tìm được một Như Lai thường còn, thường trú, thời có hợp lý chăng khi Ông trả lời: “Này chư Hiền, vị Như Lai nào là bậc Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, đã đạt được quả Tối thắng, bậc Như Lai ấy được xem là đã tuyên bố ra ngoài bốn trường hợp như sau: ‘Như Lai tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết’ ”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 22 —Lành thay, lành thay, này Anuràdha! Trước kia và nay, này Anuràdha, Ta chỉ tuyên bố khổ và đoạn diệt khổ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.86
- 9. Senior Mendicants
With Anurādha
4. Kinh Anurādha
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ. Tena kho pana samayena āyasmā anurādho bhagavato avidūre araññakuṭikāyaṁ viharati. Atha kho sambahulā aññatitthiyā paribbājakā yenāyasmā anurādho tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmatā anurādhena saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te aññatitthiyā paribbājakā āyasmantaṁ anurādhaṁ etadavocuṁ:
“yo so, āvuso anurādha, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto, taṁ tathāgato imesu catūsu ṭhānesu paññāpayamāno paññāpeti: ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā”ti?
At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof. Now at that time Venerable Anurādha was staying not far from the Buddha in a wilderness hut. Then several wanderers of other religions went up to Venerable Anurādha and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side and said to him:
“Reverend Anurādha, when a Realized One is describing a realized one—a supreme person, highest of people, who has reached the highest point—they describe them in these four ways: After death, a realized one still exists, or no longer exists, or both still exists and no longer exists, or neither still exists nor no longer exists.”
86. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesālī, tại Đại Lâm, trong ngôi giảng đường có nóc nhọn. Lúc bấy giờ, tôn giả Anurādha trú trong một am thất trong rừng, không xa Thế Tôn. Rồi, nhiều du sĩ ngoại đạo đi đến chỗ tôn giả Anurādha; sau khi đến, họ cùng tôn giả Anurādha nói lên những lời chào hỏi thân hữu. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với tôn giả Anurādha điều này: “Này hiền giả Anurādha, bậc Như Lai ấy, là bậc tối thượng, là bậc vô thượng, đã đạt đến sự thành tựu cao tột, khi tuyên bố, ngài tuyên bố về vị Như Lai ấy trong bốn trường hợp này: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết,’ hoặc ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết,’ hoặc ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết,’ hoặc ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’ phải không?”
Evaṁ vutte, āyasmā anurādho te aññatitthiye paribbājake etadavoca:
“yo so āvuso tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto taṁ tathāgato aññatra imehi catūhi ṭhānehi paññāpayamāno paññāpeti: ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā”ti. Evaṁ vutte, aññatitthiyā paribbājakā āyasmantaṁ anurādhaṁ etadavocuṁ:
“so cāyaṁ bhikkhu navo bhavissati acirapabbajito, thero vā pana bālo abyatto”ti. Atha kho aññatitthiyā paribbājakā āyasmantaṁ anurādhaṁ navavādena ca bālavādena ca apasādetvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu.
When they said this, Venerable Anurādha said to those wanderers:
“Reverends, when a Realized One is describing a realized one—a supreme person, highest of people, who has reached the highest point—they describe them other than these four ways: After death, a realized one still exists, or no longer exists, or both still exists and no longer exists, or neither still exists nor no longer exists.” When he said this, the wanderers said to him:
“This mendicant must be junior, recently gone forth, or else a foolish, incompetent senior mendicant.” Then, after rebuking Venerable Anurādha by calling him “junior” and “foolish”, the wanderers rose from their seats and left.
Khi được nói vậy, tôn giả Anurādha nói với các du sĩ ngoại đạo ấy điều này: “Này chư hiền, bậc Như Lai ấy, là bậc tối thượng, là bậc vô thượng, đã đạt đến sự thành tựu cao tột, khi tuyên bố, ngài tuyên bố về vị Như Lai ấy ngoài bốn trường hợp này: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết,’ hoặc ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết,’ hoặc ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết,’ hoặc ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết.’” Khi được nói vậy, các du sĩ ngoại đạo nói với tôn giả Anurādha điều này: “Vị tỳ khưu này hẳn là người mới tu, xuất gia chưa bao lâu, hoặc nếu là trưởng lão thì cũng là người ngu dốt, không khéo léo.” Rồi, các du sĩ ngoại đạo ấy, sau khi chê bai tôn giả Anurādha bằng lời nói là người mới tu và bằng lời nói là người ngu dốt, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và bỏ đi.
Atha kho āyasmato anurādhassa acirapakkantesu tesu aññatitthiyesu paribbājakesu etadahosi:
“sace kho maṁ te aññatitthiyā paribbājakā uttariṁ pañhaṁ puccheyyuṁ. Kathaṁ byākaramāno nu khvāhaṁ tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ vuttavādī ceva bhagavato assaṁ, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkheyyaṁ, dhammassa cānudhammaṁ byākareyyaṁ, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyyā”ti?
Soon after they had left, Anurādha thought:
“If those wanderers were to inquire further, how should I answer them so as to repeat what the Buddha has said, and not misrepresent him with an untruth? How should I explain in line with his teaching, so that there would be no legitimate grounds for rebuttal and criticism?”
Rồi, sau khi các du sĩ ngoại đạo ấy đã đi không bao lâu, tôn giả Anurādha khởi lên suy nghĩ này: “Nếu các du sĩ ngoại đạo ấy hỏi ta câu hỏi sâu xa hơn nữa, làm thế nào ta trả lời cho họ để vừa là người nói lên lời đã được Thế Tôn nói, vừa không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, vừa giải thích pháp đúng theo pháp, và không có một lời nói nào hợp lý, có cơ sở nào của ta lại có thể trở thành đối tượng để chỉ trích?”
Atha kho āyasmā anurādho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā …pe… ekamantaṁ nisinno kho āyasmā anurādho bhagavantaṁ etadavoca: “idhāhaṁ, bhante, bhagavato avidūre araññakuṭikāyaṁ viharāmi. Atha kho, bhante, sambahulā aññatitthiyā paribbājakā yenāhaṁ tenupasaṅkamiṁsu …pe… maṁ etadavocuṁ: ‘yo so, āvuso anurādha, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto taṁ tathāgato imesu catūsu ṭhānesu paññāpayamāno paññāpeti—hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, na hoti … hoti ca na ca hoti, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā’”ti?
Then Venerable Anurādha went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him all that had happened.
Rồi Tôn giả Anurādha đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến... vân vân... ngồi xuống một bên, Tôn giả Anurādha bạch với Thế Tôn: – Bạch Thế Tôn, ở đây, con sống trong một căn lều trong rừng không xa chỗ Thế Tôn. Rồi, bạch Thế Tôn, có nhiều du sĩ ngoại đạo đi đến chỗ con... vân vân... nói với con điều này: – Này hiền giả Anurādha, vị Như Lai ấy, bậc Tối Thượng, bậc Vô Thượng, bậc đã đạt đến sự thành tựu tối cao, khi tuyên bố, vị Như Lai ấy tuyên bố trong bốn trường hợp này: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết’, hay ‘không tồn tại...’, hay ‘vừa tồn tại vừa không tồn tại’, hay ‘vừa không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết’?
Evaṁ vuttāhaṁ, bhante, te aññatitthiye paribbājake etadavocaṁ: “yo so, āvuso, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto, taṁ tathāgato aññatra imehi catūhi ṭhānehi paññāpayamāno paññāpeti: ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā …pe… ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vāti. Evaṁ vutte, bhante, te aññatitthiyā paribbājakā maṁ etadavocuṁ: ‘so cāyaṁ bhikkhu na vo bhavissati acirapabbajito thero vā pana bālo abyatto’ti. Atha kho maṁ, bhante, te aññatitthiyā paribbājakā navavādena ca bālavādena ca apasādetvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu.
Bạch Thế Tôn, khi được nói như vậy, con đã nói với các du sĩ ngoại đạo ấy điều này: – Này các hiền giả, vị Như Lai ấy, bậc Tối Thượng, bậc Vô Thượng, bậc đã đạt đến sự thành tựu tối cao, khi tuyên bố, vị Như Lai ấy tuyên bố ngoài bốn trường hợp này: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết’... vân vân... ‘vừa không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết’. Bạch Thế Tôn, khi con nói như vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy đã nói với con điều này: – Vị tỳ khưu này chắc là người mới xuất gia chưa lâu, hoặc nếu là trưởng lão thì cũng là kẻ ngu dốt, không khéo léo. Rồi, bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo ấy đã miệt thị con bằng lời lẽ cho là người mới và lời lẽ cho là kẻ ngu dốt, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và bỏ đi.
Tassa mayhaṁ, bhante, acirapakkantesu tesu aññatitthiyesu paribbājakesu etadahosi: ‘sace kho maṁ te aññatitthiyā paribbājakā uttariṁ pañhaṁ puccheyyuṁ. Kathaṁ byākaramāno nu khvāhaṁ tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ vuttavādī ceva bhagavato assaṁ, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkheyyaṁ, dhammassa cānudhammaṁ byākareyyaṁ, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyyā’”ti?
Bạch Thế Tôn, sau khi các du sĩ ngoại đạo ấy đi chưa được bao lâu, con đã khởi lên suy nghĩ này: – Nếu các du sĩ ngoại đạo ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa. Ta phải trả lời như thế nào để vừa là người nói đúng lời dạy của Thế Tôn, vừa không xuyên tạc Thế Tôn bằng điều không thật, vừa giải thích pháp thuận theo pháp, và không có một lời nói nào hợp lý có thể bị chỉ trích?
“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante” …pe… tasmātiha …pe… evaṁ passaṁ …pe… nāparaṁ itthattāyāti pajānāti”.
“What do you think, Anurādha? Is form permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“Is feeling …” … “… perception …” … “… choices …” … “Is consciousness permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” … “So you should truly see … Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’
– Này Anurādha, ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường? – Bạch Thế Tôn, là vô thường. – Cái gì vô thường, cái đó là khổ hay lạc? – Bạch Thế Tôn, là khổ. – Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, có đáng để xem xét rằng: ‘Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’ không? – Bạch Thế Tôn, không đáng. – Thọ... tưởng... các hành... thức là thường hay vô thường? – Bạch Thế Tôn, là vô thường... vân vân... Do đó, ở đây... vân vân... khi thấy như vậy... vân vân... vị ấy biết rõ: ‘... không còn trở lại trạng thái này nữa’.
“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha, rūpaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
What do you think, Anurādha? Do you consider that the label ‘realized one’ applies to form?”
“No, sir.”
“Do you consider that the label ‘realized one’ applies to feeling?” … “… perception?” … “… choices?” … “… consciousness?”
“No, sir.”
– Này Anurādha, ông nghĩ thế nào, ông có xem sắc là Như Lai không? – Bạch Thế Tôn, không. – Ông có xem thọ... tưởng... các hành... thức là Như Lai không? – Bạch Thế Tôn, không.
“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha, rūpasmiṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Aññatra rūpā tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanāya …pe… aññatra vedanāya …pe… saññāya … aññatra saññāya … saṅkhāresu … aññatra saṅkhārehi … viññāṇasmiṁ … aññatra viññāṇā tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“What do you think, Anurādha? Do you consider that the label ‘realized one’ applies in relation to form?”
“No, sir.”
“Do you consider that the label ‘realized one’ applies apart from form?”
“No, sir.”
“Do you consider that the label ‘realized one’ applies in relation to feeling?” … “… apart from feeling?” … “… in relation to perception?” … “… apart from perception?” … “… in relation to choices?” … “… apart from choices?” … “… in relation to consciousness?” … “… apart from consciousness?”
“No, sir.”
– Này Anurādha, ông nghĩ thế nào, ông có xem Như Lai ở trong sắc không? – Bạch Thế Tôn, không. – Ông có xem Như Lai ở ngoài sắc không? – Bạch Thế Tôn, không. – Trong thọ... vân vân... ngoài thọ... vân vân... trong tưởng... ngoài tưởng... trong các hành... ngoài các hành... trong thức... ngoài thức, ông có xem đó là Như Lai không? – Bạch Thế Tôn, không.
“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha, rūpaṁ … vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“What do you think, Anurādha? Do you consider that the label ‘realized one’ applies to one who has form?” … “… feeling?” … “… perception?” … “… choices?” … “… consciousness?”
“No, sir.”
– Này Anurādha, ông nghĩ thế nào, ông có xem sắc... thọ... tưởng... các hành... thức là Như Lai không? – Bạch Thế Tôn, không.
“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha, ayaṁ so arūpī … avedano … asaññī … asaṅkhāro … aviññāṇo tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“What do you think, Anurādha? Do you consider that the label ‘realized one’ applies to that one who is without form?” … “… feeling?” … “… perception?” … “… choices?” … “… consciousness?”
“No, sir.”
– Này Anurādha, ông nghĩ thế nào, ông có xem vị này, người không có sắc, không có thọ, không có tưởng, không có các hành, không có thức, là Như Lai không? – Bạch Thế Tôn, không.
“Ettha ca te, anurādha, diṭṭheva dhamme saccato thetato tathāgate anupalabbhiyamāne kallaṁ nu te taṁ veyyākaraṇaṁ: ‘yo so, āvuso, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto taṁ tathāgato aññatra imehi catūhi ṭhānehi paññāpayamāno paññāpeti—hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā … na hoti … hoti ca na ca hoti … neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“In that case, Anurādha, since a realized one is not found by you as a genuine fact in this very life, is it cogent for you to declare: ‘Reverends, when a Realized One is describing a realized one—a supreme person, highest of people, who has reached the highest point—they describe them other than these four ways: After death, a realized one still exists, or no longer exists, or both still exists and no longer exists, or neither still exists nor no longer exists’?”
“No, sir.”
– Này Anurādha, ở đây và ngay trong hiện tại, khi ông không thể tìm thấy Như Lai một cách chân thật, một cách xác thực, thì lời giải thích của ông có thích hợp không: – ‘Này các hiền giả, vị Như Lai ấy, bậc Tối Thượng, bậc Vô Thượng, bậc đã đạt đến sự thành tựu tối cao, khi tuyên bố, vị Như Lai ấy tuyên bố ngoài bốn trường hợp này: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết’... ‘vừa không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết’?’ – Bạch Thế Tôn, không thích hợp.
“Sādhu sādhu, anurādha. Pubbe cāhaṁ, anurādha, etarahi ca dukkhañceva paññapemi, dukkhassa ca nirodhan”ti.
Catutthaṁ.
“Good, good, Anurādha! In the past, as today, what I describe is suffering and the cessation of suffering.”
– Lành thay, lành thay, Anurādha! Này Anurādha, cả trước đây và bây giờ, Ta chỉ tuyên bố về khổ và sự diệt khổ. Hết.