- Saṁyutta Nikāya 22.119
- 12. Dhammakathikavagga
Bản dịch
SN 22.119 — Kinh Câu Hỏi Thứ Hai
Dutiyaparipucchitasutta
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Ông có quán sắc: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Lành thay! Này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải như thật quán sắc với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 3-5. … thọ … tưởng … các hành …
Vi-n 6 … các Ông có quán thức: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Lành thay! Này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải như thật quán thức với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 7 Do thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy biết rõ: ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.119
- 12. A Dhamma speaker
Questioning (2nd)
7. Kinh Câu Hỏi Thứ Hai
Sāvatthinidānaṁ.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassathā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave. Rūpaṁ, bhikkhave, ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ. Vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassathā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave. Viññāṇaṁ, bhikkhave, ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ …
evaṁ …pe… nāparaṁ itthattāyāti pajānātī”ti.
Sattamaṁ.
At Sāvatthī.
“What do you think, mendicants? Do you regard form like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self’?”
“Yes, sir.”
“Good, mendicants! Form should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ Do you regard feeling … perception … choices … consciousness like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self’?”
“Yes, sir.”
“Good, mendicants! Consciousness should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”
119. Nhân duyên ở Sāvatthi. “Này các Tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào, các ông có quán thấy sắc rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’ không?” “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” “Lành thay, này các Tỳ khưu! Này các Tỳ khưu, sắc cần phải được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’. Thọ... tưởng... các hành... thức rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’ không?” “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” “Lành thay, này các Tỳ khưu! Này các Tỳ khưu, thức cần phải được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’. ...v.v... như vậy ...v.v... vị ấy biết rõ: ‘... không còn trở lui trạng thái này nữa’.” (Kinh) thứ bảy.