- Saṁyutta Nikāya 22.115
- 12. Dhammakathikavagga
Bản dịch
SN 22.115 — Kinh Vị Thuyết Pháp
Dhammakathikasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 Sau khi ngồi xuống, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
: “Vị thuyết pháp, vị thuyết pháp”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, được gọi là vị thuyết pháp?
Vi-n 4 —Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỷ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc, được giải thoát, không có chấp thủ; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.
Vi-n 5-7. Nếu Tỷ-kheo đối với thọ … Nếu Tỷ-kheo đối với tưởng … Nếu Tỷ-kheo đối với các hành …
Vi-n 8 Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỷ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức, được giải thoát không có chấp thủ; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.115
- 12. A Dhamma speaker
A Dhamma speaker
3. Kinh Vị Thuyết Pháp
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“‘dhammakathiko, dhammakathiko’ti, bhante, vuccati; kittāvatā nu kho, bhante, dhammakathiko hotī”ti?
“Rūpassa ce, bhikkhu, nibbidāya virāgāya nirodhāya dhammaṁ deseti ‘dhammakathiko bhikkhū’ti alaṁvacanāya.
Rūpassa ce, bhikkhu, nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti, ‘dhammānudhammappaṭipanno bhikkhū’ti alaṁvacanāya.
Rūpassa ce, bhikkhu, nibbidā virāgā nirodhā anupādāvimutto hoti, ‘diṭṭhadhammanibbānappatto bhikkhū’ti alaṁvacanāya.
Vedanāya ce, bhikkhu …pe… saññāya ce, bhikkhu … saṅkhārānañce, bhikkhu … viññāṇassa ce, bhikkhu, nibbidāya virāgāya nirodhāya dhammaṁ deseti, ‘dhammakathiko bhikkhū’ti alaṁvacanāya.
Viññāṇassa ce, bhikkhu, nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti, ‘dhammānudhammappaṭipanno bhikkhū’ti alaṁvacanāya.
Viññāṇassa ce, bhikkhu, nibbidā virāgā nirodhā anupādāvimutto hoti, ‘diṭṭhadhammanibbānappatto bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti.
Tatiyaṁ.
At Sāvatthī.
Seated to one side, that mendicant said to the Buddha:
“Sir, they speak of a ‘Dhamma speaker’. How is a Dhamma speaker defined?”
“Mendicant, if a mendicant teaches Dhamma for disillusionment, dispassion, and cessation regarding form, they’re qualified to be called ‘a mendicant who speaks on Dhamma’.
If they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding form, they’re qualified to be called ‘a mendicant who practices in line with the teaching’.
If they’re freed by not grasping by disillusionment, dispassion, and cessation regarding form, they’re qualified to be called ‘a mendicant who has attained extinguishment in this very life’.
If a mendicant teaches Dhamma for disillusionment with feeling … perception … choices … consciousness, for its fading away and cessation, they’re qualified to be called ‘a mendicant who speaks on Dhamma’.
If they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding consciousness, they’re qualified to be called ‘a mendicant who practices in line with the teaching’.
If they’re freed by not grasping by disillusionment, dispassion, and cessation regarding consciousness, they’re qualified to be called ‘a mendicant who has attained extinguishment in this very life’.”
115. Nhân duyên ở Sāvatthī. Vị tỳ khưu ấy ngồi xuống một bên, bạch với Đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, được gọi là ‘vị thuyết pháp, vị thuyết pháp’. Bạch ngài, với mức độ nào thì được gọi là vị thuyết pháp?” “Này tỳ khưu, nếu vị ấy thuyết pháp về sắc để nhàm chán, để ly tham, để đoạn diệt, thì vị ấy xứng đáng được gọi là ‘tỳ khưu thuyết pháp’. Này tỳ khưu, nếu vị ấy thực hành về sắc để nhàm chán, để ly tham, để đoạn diệt, thì vị ấy xứng đáng được gọi là ‘tỳ khưu thực hành pháp và tùy pháp’. Này tỳ khưu, nếu vị ấy do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc, được giải thoát không còn chấp thủ, thì vị ấy xứng đáng được gọi là ‘tỳ khưu đã chứng đạt Niết-bàn trong hiện tại’. Này tỳ khưu, đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… Này tỳ khưu, nếu vị ấy thuyết pháp về thức để nhàm chán, để ly tham, để đoạn diệt, thì vị ấy xứng đáng được gọi là ‘tỳ khưu thuyết pháp’. Này tỳ khưu, nếu vị ấy thực hành về thức để nhàm chán, để ly tham, để đoạn diệt, thì vị ấy xứng đáng được gọi là ‘tỳ khưu thực hành pháp và tùy pháp’. Này tỳ khưu, nếu vị ấy do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức, được giải thoát không còn chấp thủ, thì vị ấy xứng đáng được gọi là ‘tỳ khưu đã chứng đạt Niết-bàn trong hiện tại’.” Kinh thứ ba.