- Saṁyutta Nikāya 22.108
- 11. Antavagga
Bản dịch
SN 22.108 — Kinh Sa Môn thứ hai
Dutiyasamaṇasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
Vi-n 4-5. Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của năm thủ uẩn này … biết rõ…; tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.108
- 11. Ends
Ascetics (2nd)
6. Kinh Sa Môn thứ hai
Sāvatthinidānaṁ.
“Pañcime, bhikkhave, upādānakkhandhā. Katame pañca? Seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho.
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā imesaṁ pañcannaṁ upādānakkhandhānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānanti …pe…
pajānanti, sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, there are these five grasping aggregates. What five? That is, the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness.
There are ascetics and brahmins who don’t truly understand these five grasping aggregates’ origin, disappearance, gratification, drawback, and escape … Those venerables don’t realize the goal of life as an ascetic or brahmin …
There are ascetics and brahmins who do truly understand … Those venerables realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and live having realized it with their own insight.”
108. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các Tỳ khưu, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Tức là: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không tuệ tri như thật về sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của năm thủ uẩn này... cho đến... tuệ tri, họ tự mình chứng ngộ với thắng trí, thành tựu và an trú.” (Kinh) thứ sáu.