- Saṁyutta Nikāya 20.12
- 1. Opammavagga
Bản dịch
SN 20.12 — Kinh Con Chó Rừng Thứ Hai
Dutiyasiṅgālasutta
Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Các Ông có nghe chăng, này các Tỷ-kheo, trong ban đêm lúc gần sáng, có con giả-can già tru lớn tiếng?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 3 —Rất có thể, này các Tỷ-kheo, trong con giả-can già ấy, có nhiều biết ơn, có nhiều cảm tạ, hơn là ở đây trong một người tự xưng là Thích tử về biết ơn và về cảm tạ!
Vi-n 4 Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ biết ơn, cảm tạ. Dầu cho có chút ít gì làm giữa chúng tôi, chúng tôi cũng không để cho mất đi”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 20.12
- 1. Similes
A Jackal (2nd)
12. Kinh Con Chó Rừng Thứ Hai
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Assuttha no tumhe, bhikkhave, rattiyā paccūsasamayaṁ jarasiṅgālassa vassamānassā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Siyā kho, bhikkhave, tasmiṁ jarasiṅgāle yā kāci kataññutā kataveditā, na tveva idhekacce sakyaputtiyapaṭiññe siyā yā kāci kataññutā kataveditā.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘kataññuno bhavissāma katavedino; na ca no amhesu appakampi kataṁ nassissatī’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Dvādasamaṁ.
Opammavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
At Sāvatthī.
“Mendicants, did you hear an old jackal howling at the crack of dawn?”
“Yes, sir.”
“There might be some gratitude and thankfulness in that old jackal, but there is none in a certain person here who claims to follow the Sakyan.
So you should train like this: ‘We will be grateful and thankful. We won’t forget even a small thing done for us.’ That’s how you should train.”
234. Trú ở Sāvatthī… Này các Tỳ khưu, vào lúc rạng đông, các ngươi có nghe tiếng con chó rừng già đang tru không? — Bạch Thế Tôn, có ạ. — Này các Tỳ khưu, nơi con chó rừng già ấy, có thể có chút lòng biết ơn, nhớ ơn nào đó; nhưng ở đây, nơi một người tự xưng là Thích tử, lại có thể không có chút lòng biết ơn, nhớ ơn nào cả. Vì vậy, này các Tỳ khưu, ở đây, các ngươi phải học tập như sau: ‘Chúng ta sẽ là người biết ơn, nhớ ơn; và đối với chúng ta, dù là việc nhỏ được làm cũng sẽ không bị mất đi’. Này các Tỳ khưu, các ngươi phải học tập như vậy. Kinh thứ mười hai.
Kūṭaṁ nakhasikhaṁ kulaṁ, okkhā satti dhanuggaho; Āṇi kaliṅgaro nāgo, biḷāro dve siṅgālakāti.
Kinh Kūṭa, kinh Nakhasikha, kinh Kula, kinh Okkhā, kinh Satti, kinh Dhanuggaha; kinh Āṇi, kinh Kaliṅgara, kinh Nāga, kinh Biḷāra, và hai kinh Siṅgālaka.
Opammasaṁyuttaṁ samattaṁ.
The Linked Discourses with similes are complete.
Tương Ưng Ví Dụ đến đây là kết thúc.