- Saṁyutta Nikāya 20.11
- 1. Opammavagga
Bản dịch
SN 20.11 — Kinh Con Chó Rừng
Siṅgālasutta
Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Các Ông có nghe chăng, này các Tỷ-kheo, trong ban đêm khi trời gần sáng, con giả-can đang tru lớn tiếng?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 3 —Ðó là con giả-can, này các Tỷ-kheo, bị mắc bệnh ghẻ lở. Chỗ nào nó muốn đi, chỗ nào nó muốn đứng, chỗ nào nó muốn ngồi, chỗ nào nó muốn nằm, gió lạnh buốt thổi lên trên nó.
Vi-n 4 Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu ở đây có người nào, tự cho là Thích tử, lại có thể cảm thọ được một trạng huống tự ngã như vậy.
Vi-n 5 Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ không phóng dật”.
Vi-n 6 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 20.11
- 1. Similes
A Jackal
11. Kinh Con Chó Rừng
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Assuttha no tumhe, bhikkhave, rattiyā paccūsasamayaṁ jarasiṅgālassa vassamānassā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Eso kho, bhikkhave, jarasiṅgālo ukkaṇḍakena nāma rogajātena phuṭṭho. So yena yena icchati tena tena gacchati; yattha yattha icchati tattha tattha tiṭṭhati; yattha yattha icchati tattha tattha nisīdati; yattha yattha icchati tattha tattha nipajjati; sītakopi naṁ vāto upavāyati. Sādhu khvassa, bhikkhave, yaṁ idhekacco sakyaputtiyapaṭiñño evarūpampi attabhāvapaṭilābhaṁ paṭisaṁvediyetha.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘appamattā viharissāmā’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Ekādasamaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, did you hear an old jackal howling at the crack of dawn?”
“Yes, sir.”
“That old jackal has the disease called mange. Yet it still goes where it wants, stands where it wants, sits where it wants, and lies down where it wants. And the cool breeze still blows on it. A certain person here who claims to follow the Sakyan would be lucky to experience even such an incarnation.
So you should train like this: ‘We will stay diligent.’ That’s how you should train.”
233. Trú ở Sāvatthī… Này các Tỳ khưu, vào lúc rạng đông, các ngươi có nghe tiếng con chó rừng già đang tru không? — Bạch Thế Tôn, có ạ. — Này các Tỳ khưu, con chó rừng già ấy bị mắc một chứng bệnh gọi là ukkaṇḍaka. Nó muốn đi đâu thì đi, muốn đứng đâu thì đứng, muốn ngồi đâu thì ngồi, muốn nằm đâu thì nằm. Và một cơn gió lạnh thổi đến nó. Này các Tỳ khưu, một người tự xưng là Thích tử trong giáo pháp này, không nên phải chịu đựng một sự tái sanh có thân phận như vậy. Vì vậy, này các Tỳ khưu, ở đây, các ngươi phải học tập như sau: ‘Chúng ta sẽ sống không phóng dật’. Này các Tỳ khưu, các ngươi phải học tập như vậy. Kinh thứ mười một.