- Saṁyutta Nikāya 2.26
- 3. Nānātitthiyavagga
Bản dịch
SN 2.26 — Kinh Rohitassa
Rohitassasutta
Vi-n 1 Tại Sāvatthi (Xá-vệ).
Vi-n 2 Ðứng một bên, Thiên tử Rohitassa bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, tại chỗ nào không có sanh, không có già, không có chết, không có diệt, không có khởi, làm sao, bạch Thế Tôn, với bộ hành, có thể biết được, hay thấy được, hay đạt được sự tận cùng của thế giới?
Vi-n 3 —Này Hiền giả, tại chỗ nào không có sanh, không có già, không có chết, không có diệt, không có khởi, Ta nói rằng tại chỗ ấy, không có thể với bộ hành, biết được, hay thấy được, hay đạt được sự tận cùng của thế giới.
Vi-n 4 —Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn đã nói lên điều khéo nói như vầy: “Này Hiền giả, tại chỗ nào không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi, Ta nói rằng tại chỗ ấy, không có thể với bộ hành biết được, hay thấy được, hay đạt được sự tận cùng của thế giới”.
Vi-n 5 Bạch Thế Tôn, thuở trước, con tên là Rohita con của Bhoja, có thần thông, có thể đi giữa hư không. Bạch Thế Tôn, tốc lực con mau lẹ cho đến con có thể bay, như người thợ bắn cung lão luyện, khéo tập, khéo luyện, thuần thục, thiện xảo, với một cây cung chắc mạnh không gì khó khăn, có thể bắn một mũi tên nhẹ bay vượt qua bóng tối của cây tala.
Vi-n 6 Và bạch Thế Tôn, bước đi của con dài cho đến con có thể bước từ biển phía Ðông qua biển phía Tây. Và ở nơi con, bạch Thế Tôn, khởi lên sự ước muốn như sau: “Với bộ hành, ta có thể đạt đến được sự tận cùng của thế giới”.
Vi-n 7 Và bạch Thế Tôn, dầu cho tốc lực của con mau đến như vậy, và dầu cho con có bước dài đến như vậy, và dầu cho con không có dừng để ăn, hay uống, hay nhai, hay nếm, dầu cho con không có đại tiện, tiểu tiện, dầu cho con không ngủ, không bị mệt nhọc, không trừ cấu uế, dầu cho trăm năm là tuổi thọ thường tình, dầu cho trăm năm là mạng sống thường tình, tuy con đi hơn trăm năm và bị mệnh chung, con cũng không thể đạt đến sự tận cùng của thế giới.
Vi-n 8 Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thế Tôn đã nói lên điều khéo nói như vầy: “Này Hiền giả, tại chỗ nào không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi. Ta nói rằng tại chỗ ấy, không có thể bộ hành, biết được hay thấy được sự tận cùng của thế giới. Ta nói như vậy”.
Vi-n 9 —Này Hiền giả, nhưng Ta cũng không nói rằng không đạt được sự tận cùng của thế giới thời chấm dứt cuộc khổ đau. Này Hiền giả, chính trong cái thân thể dài một tầm có tưởng, có ý này, Ta tuyên bố thế giới, nguyên nhân của thế giới, sự đoạn diệt thế giới và con đường đưa đến sự đoạn diệt của thế giới.
Bộ hành không bao giờ
Ðạt được thế giới tận,
Không đạt thế giới tận,
Không thể thoát khỏi khổ.
Do vậy, bậc Hiền thiện,
Thế gian giải, Thiện tuệ,
Ðạt đến thế giới tận,
Phạm hạnh được viên thành.
Với tâm tư định tĩnh,
Biết được thế giới tận,
Không ước vọng đời này,
Không ước vọng đời sau.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 2.26
- 3. Various Sectarians
With Rohitassa
6. Kinh Rohitassa
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ ṭhito kho rohitasso devaputto bhagavantaṁ etadavoca:
“yattha nu kho, bhante, na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati, sakkā nu kho so, bhante, gamanena lokassa anto ñātuṁ vā daṭṭhuṁ vā pāpuṇituṁ vā”ti?
“Yattha kho, āvuso, na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati, nāhaṁ taṁ gamanena lokassa antaṁ ñāteyyaṁ daṭṭheyyaṁ patteyyanti vadāmī”ti.
At Sāvatthī.
Standing to one side, the godling Rohitassa said to the Buddha:
“Sir, is it possible to know or see or reach the end of the world by traveling to a place where there’s no being born, growing old, dying, passing away, or being reborn?”
“Reverend, I say it’s not possible to know or see or reach the end of the world by traveling to a place where there’s no being born, growing old, dying, passing away, or being reborn.”
107. Nhân duyên ở Sāvatthī. Khi ấy, thiên tử Rohitassa đứng một bên, đã bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, nơi nào mà người ta không sanh, không già, không chết, không hoại, không tái sanh, bạch ngài, có thể nào bằng cách đi mà biết được, thấy được, hay đến được tận cùng của thế gian không?” “Này hiền giả, nơi nào mà người ta không sanh, không già, không chết, không hoại, không tái sanh, ta không nói rằng bằng cách đi mà có thể biết được, thấy được, hay đến được tận cùng của thế gian.”
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Yāvasubhāsitamidaṁ, bhante, bhagavatā: ‘yattha kho, āvuso, na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati, nāhaṁ taṁ gamanena lokassa antaṁ ñāteyyaṁ daṭṭheyyaṁ patteyyanti vadāmī’ti.
“It’s incredible, sir, it’s amazing, how well said this was by the Buddha.
“Bạch ngài, thật hy hữu! Bạch ngài, thật vi diệu! Bạch ngài, điều này đã được Thế Tôn khéo nói như sau: ‘Này hiền giả, nơi nào mà người ta không sanh, không già, không chết, không hoại, không tái sanh, ta không nói rằng bằng cách đi mà có thể biết được, thấy được, hay đến được tận cùng của thế gian.’”
Bhūtapubbāhaṁ, bhante, rohitasso nāma isi ahosiṁ bhojaputto iddhimā vehāsaṅgamo. Tassa mayhaṁ, bhante, evarūpo javo ahosi; seyyathāpi nāma daḷhadhammā dhanuggaho susikkhito katahattho katayoggo katūpāsano lahukena asanena appakasireneva tiriyaṁ tālacchāyaṁ atipāteyya. Tassa mayhaṁ, bhante, evarūpo padavītihāro ahosi; seyyathāpi nāma puratthimā samuddā pacchimo samuddo. Tassa mayhaṁ, bhante, evarūpaṁ icchāgataṁ uppajji: ‘ahaṁ gamanena lokassa antaṁ pāpuṇissāmī’ti. So khvāhaṁ, bhante, evarūpena javena samannāgato evarūpena ca padavītihārena, aññatreva asitapītakhāyitasāyitā aññatra uccārapassāvakammā aññatra niddākilamathapaṭivinodanā vassasatāyuko vassasatajīvī vassasataṁ gantvā appatvāva lokassa antaṁ antarāva kālaṅkato.
Once upon a time, I was a seer named Rohitassa, son of the benefactors. I was a sky-walker with psychic powers. I was as fast as a light arrow easily shot across the shadow of a palm tree by a well-trained expert archer with a strong bow. My stride was such that it could span from the eastern ocean to the western ocean. This wish came to me: ‘I will reach the end of the world by traveling.’ Having such speed and stride, I traveled for my whole lifespan of a hundred years—pausing only to eat and drink, go to the toilet, and sleep to dispel weariness—and I passed away along the way, never reaching the end of the world.
“Bạch ngài, thuở quá khứ, con đã từng là vị ẩn sĩ tên Rohitassa, con của vị lãnh chúa, có thần thông, đi được trên hư không. Bạch ngài, tốc độ của con khi ấy là như thế này; ví như một cung thủ có cây cung chắc chắn, được huấn luyện kỹ càng, thiện nghệ, thực hành thành thục, đã được chỉ dạy, có thể bắn mũi tên nhẹ đi ngang qua bóng cây thốt nốt một cách không khó khăn. Bạch ngài, sải bước của con khi ấy là như thế này; ví như khoảng cách từ biển đông đến biển tây. Bạch ngài, con đã khởi lên ước muốn như thế này: ‘Ta sẽ đi đến tận cùng của thế gian bằng sự đi lại.’ Bạch ngài, con ấy, được trang bị tốc độ như vậy và sải bước như vậy, ngoại trừ việc ăn, uống, nhai, nếm, ngoại trừ việc đại tiện, tiểu tiện, ngoại trừ việc ngủ nghỉ và xua tan mệt mỏi, đã sống một trăm năm, có tuổi thọ một trăm năm, đã đi suốt một trăm năm, nhưng vẫn chưa đến được tận cùng của thế gian mà đã mệnh chung giữa đường.”
Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Yāvasubhāsitamidaṁ, bhante, bhagavatā: ‘yattha kho, āvuso, na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati, nāhaṁ taṁ gamanena lokassa antaṁ ñāteyyaṁ daṭṭheyyaṁ patteyyanti vadāmī’”ti.
It’s incredible, sir, it’s amazing, how well said this was by the Buddha. ‘Reverend, I say it’s not possible to know or see or reach the end of the world by traveling to a place where there’s no being born, growing old, dying, passing away, or being reborn.’”
“Bạch ngài, thật vi diệu! Bạch ngài, thật hy hữu! Bạch ngài, điều này đã được Thế Tôn khéo thuyết giảng biết bao: ‘Này hiền hữu, nơi nào không có sanh, không có già, không có chết, không có chuyển dịch, không có tái sanh, Ta không tuyên bố rằng có thể biết, thấy, hay đạt đến tận cùng của thế gian ấy bằng sự đi lại.’”
“Na kho panāhaṁ, āvuso, appatvā lokassa antaṁ dukkhassa antakiriyaṁ vadāmi. Api ca khvāhaṁ, āvuso, imasmiṁyeva byāmamatte kaḷevare sasaññimhi samanake lokañca paññapemi lokasamudayañca lokanirodhañca lokanirodhagāminiñca paṭipadanti.
“But Reverend, I also say there’s no making an end of suffering without reaching the end of the world. For it is in this fathom-long carcass with its perception and mind that I describe the world, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation.
“Này hiền hữu, Ta không tuyên bố rằng có thể chấm dứt khổ đau mà không đạt đến tận cùng của thế gian. Tuy nhiên, này hiền hữu, chính trong tấm thân dài một sải tay này, có tưởng và có tâm, Ta tuyên bố về thế gian, về thế gian tập, về thế gian diệt, và về con đường đưa đến thế gian diệt.”
Gamanena na pattabbo, lokassanto kudācanaṁ; Na ca appatvā lokantaṁ, dukkhā atthi pamocanaṁ.
The end of the world can never be reached by traveling. But without reaching the end of the world, there’s no release from suffering.
“Không thể nào đạt đến, tận cùng của thế gian, bằng cách đi lại; và không đạt đến tận cùng thế gian, thì không có sự giải thoát khỏi khổ đau.”
Tasmā have lokavidū sumedho, Lokantagū vusitabrahmacariyo; Lokassa antaṁ samitāvi ñatvā, Nāsīsati lokamimaṁ parañcā”ti.
So an intelligent person, understanding the world, has completed the spiritual journey <j>and gone to the end of the world. Assuaged, knowing the end of the world, they do not hope for this world or the next.”
“Vì vậy, bậc trí tuệ, người thông hiểu thế gian, đã đến tận cùng thế gian, đã sống đời phạm hạnh; sau khi biết tận cùng của thế gian, vị ấy đã được an tịnh, không còn mong cầu thế gian này hay thế gian khác.”