- Saṁyutta Nikāya 2.22
- 3. Nānātitthiyavagga
Khemasutta
Ekamantaṁ ṭhito kho khemo devaputto bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:
Bản dịch
Khemasutta
Ðứng một bên, Thiên tử Khemā nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Kẻ ngu không trí tuệ,
Lấy ngã làm kẻ thù,
Tự làm các ác nghiệp,
Ðưa đến quả đắng cay.
Nghiệp nào không khéo làm,
Làm xong bị nung nấu,
Với mặt đầy nước mắt,
Khóc lóc chịu quả báo.
Và nghiệp nào khéo làm,
Làm xong, không nung nấu,
Tâm vui, ý thoải mái,
Vị ấy hưởng quả báo.
Biết điều lợi cho mình,
Làm trước điều phải làm,
Không tâm trạng đánh xe,
Kẻ trí lòng tinh tấn.
Như người chủ đánh xe,
Rời đại đạo thăng bằng,
Leo lên đường lồi lõm,
Ưu tư nạn gãy trục.
Cũng vậy bỏ Chánh pháp,
Người ngu theo phi pháp,
Rơi vào miệng tử thần,
Ưu tư như gãy trục.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Ekamantaṁ ṭhito kho khemo devaputto bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:
Standing to one side, the godling Khema recited these verses in the Buddha’s presence:
103. Thiên tử Khema, sau khi đứng một bên, đã bạch lên Đức Thế Tôn những bài kệ này tại nơi gần Ngài:
“Caranti bālā dummedhā, amitteneva attanā; Karontā pāpakaṁ kammaṁ, yaṁ hoti kaṭukapphalaṁ.
“Fools and simpletons behave like their own worst enemies, doing wicked deeds that ripen as bitter fruit.
“Kẻ ngu si, thiếu trí tuệ, đi lại như kẻ thù của chính mình, làm những nghiệp ác, mà có quả đắng cay.
Na taṁ kammaṁ kataṁ sādhu, yaṁ katvā anutappati; Yassa assumukho rodaṁ, vipākaṁ paṭisevati.
It’s not good to do a deed that plagues you later on, for which you weep and wail, as its effect stays with you.
“Hành động đã làm là không tốt, hành động mà sau khi làm phải hối hận, hành động mà quả báo của nó phải gánh chịu với mặt đẫm lệ, khóc than.
Tañca kammaṁ kataṁ sādhu, yaṁ katvā nānutappati; Yassa patīto sumano, vipākaṁ paṭisevati.
It is good to do a deed that doesn’t plague you later on, that gladdens and cheers, as its effect stays with you.”
“Và hành động đã làm là tốt đẹp, hành động mà sau khi làm không hối hận, hành động mà quả báo của nó được gánh chịu với lòng hoan hỷ, vui mừng.
Paṭikacceva taṁ kayirā, yaṁ jaññā hitamattano; Na sākaṭikacintāya, mantā dhīro parakkame.
“As a precaution, you should do what you know is for your own welfare. A thinker, an attentive one would not proceed thinking like the cart driver.
“Việc gì biết là lợi ích cho mình, nên làm ngay từ đầu. Bậc trí không nên chậm trễ, nỗ lực với suy nghĩ của người đánh xe (bị gãy trục).
Yathā sākaṭiko maṭṭhaṁ, samaṁ hitvā mahāpathaṁ; Visamaṁ maggamāruyha, akkhacchinnova jhāyati.
Suppose a cart driver leaves the highway, so even and well compacted. They enter upon a rough road, and fret as soon as their axle is broken.
“Như người đánh xe, từ bỏ con đường lớn bằng phẳng, êm ái, đi vào con đường gồ ghề, rồi bị gãy trục xe, liền ưu sầu.
Evaṁ dhammā apakkamma, adhammamanuvattiya; Mando maccumukhaṁ patto, akkhacchinnova jhāyatī”ti.
So too, a dullard leaves the good to follow what’s against the good. Fallen in the jaws of death, they fret like one whose axle is broken.”
“Cũng vậy, kẻ ngu si, từ bỏ Chánh pháp, đi theo phi pháp, khi đến miệng tử thần, liền ưu sầu như người (đánh xe) bị gãy trục.”