- Saṁyutta Nikāya 2.11
- 2. Anāthapiṇḍikavagga
Bản dịch
SN 2.11 — Kinh Candimasa
Candimasasutta
Tại Sāvatthi.
Vi-n 1 Rồi Thiên tử Candimasa, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Candimasa nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Họ sẽ đi an toàn,
Như thú, vùng không muỗi,
Sau khi chứng Thiền định,
Nhứt tâm, niệm tỉnh giác,
Họ sẽ đi bờ kia,
Như cá, phá rách lưới,
Sau khi chứng Thiền định,
Tự chế, vượt lỗi lầm .
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 2.11
- 2. With Anāthapiṇḍika
With Candimasa
1. Kinh Candimasa
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho candimaso devaputto abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho candimaso devaputto bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
At Sāvatthī.
Then, late at night, the glorious godling Candimasa, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and spoke this verse in the Buddha’s presence:
92. Nhân duyên ở Sāvatthī. Bấy giờ, khi đêm đã gần tàn, thiên tử Candimasa, với dung sắc thù thắng, chiếu sáng toàn bộ tu viện Jetavana, đi đến chỗ Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng sang một bên. Đứng một bên, thiên tử Candimasa đã đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Te hi sotthiṁ gamissanti, kacchevāmakase magā; Jhānāni upasampajja, ekodi nipakā satā”ti.
“Like deer in a mosquito-free marsh, they will reach a safe place having entered the absorptions, unified, alert, and mindful.”
“Họ sẽ đạt được an ổn, như loài nai ở nơi an toàn trong hang núi. Những vị đã thành tựu các thiền, nhất tâm, thận trọng, và chánh niệm.”
“Te hi pāraṁ gamissanti, chetvā jālaṁva ambujo; Jhānāni upasampajja, appamattā raṇañjahā”ti.
“Like fish when the net is cut, they will reach the far shore having entered the absorptions, diligent, with strife discarded.”
“Họ sẽ đi đến bờ kia, như cá phá tung lưới. Những vị đã thành tựu các thiền, không phóng dật, và từ bỏ xung đột.”