- Saṁyutta Nikāya 19.17
- 2. Dutiyavagga
Bản dịch
SN 19.17 — Kinh Tỳ Khưu Ác
Pāpabhikkhusutta
Vi-n 1 Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một Tỷ-kheo đi giữa hư không.
Vi-n 2 Y tăng-già-lê (thượng y) của vị ấy bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái bát cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái nịt cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Thân cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Và vị ấy thốt lên những tiếng kêu đau đớn.
Vi-n 3 Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, là một ác Tỷ-kheo trong thời bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa thuyết pháp.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 19.17
- Chapter Two
A Bad Monk
7. Kinh Tỳ Khưu Ác
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ bhikkhuṁ vehāsaṁ gacchantaṁ.
“Just now, reverend, as I was descending from Vulture’s Peak Mountain I saw a monk flying through the air.
218. “Này hiền hữu, ở đây, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tôi đã nhìn thấy một vị tỳ khưu đang đi trên hư không. Tăng-già-lê của vị ấy bị bốc cháy, bừng cháy, rực lửa; bình bát cũng bị bốc cháy, bừng cháy, rực lửa; dây thắt lưng cũng bị bốc cháy, bừng cháy, rực lửa; thân thể cũng bị bốc cháy, bừng cháy, rực lửa. Vị ấy đã cất lên tiếng kêu đau đớn... Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này đã từng là một tỳ khưu ác trong giáo pháp của đức Chánh Đẳng Giác Kassapa... Kinh thứ bảy.”
222. “Này hiền giả, ở đây, khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu), tôi đã trông thấy một vị sa-di-ni đang đi trên hư không. Y tăng-già-lê của vị ấy đang bốc cháy, rực lửa, sáng chói; cái bát của vị ấy đang bốc cháy, rực lửa, sáng chói; dây thắt lưng của vị ấy đang bốc cháy, rực lửa, sáng chói; thân thể của vị ấy đang bốc cháy, rực lửa, sáng chói. Vị ấy đang la hét đau đớn. Này hiền giả, tôi đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Chư vị ơi, thật là kỳ diệu thay! Chư vị ơi, thật là hy hữu thay! Lại có một chúng sanh như thế này! Lại có một dạ-xoa như thế này! Lại có sự thành tựu thân mạng như thế này!’”
eso, bhikkhave, bhikkhu kassapassa sammāsambuddhassa pāvacane pāpabhikkhu ahosi …pe….
Sattamaṁ.
“That monk used to be a bad monk in the time of Buddha Kassapa’s dispensation. …”
Khi ấy, Thế Tôn gọi các tỳ khưu và dạy: “Này các tỳ khưu, các vị thinh văn đang sống với con mắt (pháp nhãn) đã được sanh khởi! Này các tỳ khưu, các vị thinh văn đang sống với trí tuệ đã được sanh khởi! Do đó, một vị thinh văn có thể biết, có thể thấy, hoặc có thể làm chứng cho một cảnh tượng như vậy. Này các tỳ khưu, trước đây Như Lai cũng đã từng thấy vị sa-di-ni ấy, nhưng Như Lai đã không tuyên bố. Nếu Như Lai tuyên bố điều ấy, những người khác có thể không tin Như Lai. Đối với những ai không tin Như Lai, điều ấy sẽ dẫn đến sự bất hạnh và đau khổ lâu dài cho họ. Này các tỳ khưu, vị sa-di-ni này đã là một sa-di-ni ác hạnh trong giáo pháp của đức Chánh Đẳng Giác Kassapa. Do kết quả của nghiệp ấy, vị ấy đã bị nấu trong địa ngục trong nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm. Và do quả báo còn sót lại của chính nghiệp ấy, vị ấy đang phải trải nghiệm sự thành tựu thân mạng như thế này.”