- Saṁyutta Nikāya 17.38–43
- 4. Catutthavagga
Bản dịch
SN 17.38-43 — Pitusuttādichakka
Pitusuttādichakka
Vi-n 1 … Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 —Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật tà đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp cho sự chứng đắc vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
Vi-n 3 Ở đây, này các Tỷ-kheo, với tâm của Ta, Ta biết được tâm của một người như sau:
“Dầu cho vì người cha đáng kính … ”.
“Dầu cho vì người anh … ”.
“Dầu cho vì người chị … ”.
“Dầu cho vì con trai … ”.
“Dầu cho vì con gái … ”.
“Dầu cho vì người vợ, cũng không cố ý nói láo”. Nhưng trong một thời gian khác, Ta thấy người ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm đã cố ý nói láo.
Vi-n 4 Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp do sự chứng đắc vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
Vi-n 5 Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Ðối với các lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta hãy từ bỏ chúng. Ðối với các lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú”.
Vi-n 6 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh and Aminah Borg-Luck.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 17.38–43
- Chapter Four
Father, Etc.
8-13. Sáu Kinh Bắt Đầu Bằng Kinh Người Cha
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Dāruṇo, bhikkhave, lābhasakkārasiloko kaṭuko pharuso antarāyiko anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya. Idhāhaṁ, bhikkhave, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘na cāyamāyasmā pitupi hetu …pe…
(vitthāretabbaṁ) …
bhātupi hetu …
bhaginiyāpi hetu …
puttassapi hetu …
dhītuyāpi hetu …
pajāpatiyāpi hetu sampajānamusā bhāseyyā’ti. Tamenaṁ passāmi aparena samayena lābhasakkārasilokena abhibhūtaṁ pariyādiṇṇacittaṁ sampajānamusā bhāsantaṁ.
Evaṁ dāruṇo kho, bhikkhave, lābhasakkārasiloko kaṭuko pharuso antarāyiko anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘uppannaṁ lābhasakkārasilokaṁ pajahissāma, na ca no uppanno lābhasakkārasiloko cittaṁ pariyādāya ṭhassatī’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Terasamaṁ.
At Sāvatthī.
“Possessions, honor, and popularity are grim, bitter, and harsh. They’re an obstacle to reaching the supreme sanctuary from the yoke. When I’ve comprehended the mind of a certain individual, I understand: ‘This venerable would not tell a deliberate lie even for the sake of their father.’ …”
(Tell in full as in SN 17.37.)
“‘… brother.’ …”
“‘… sister.’ …”
“‘… son.’ …”
“‘… daughter.’ …”
“‘… wife.’ But some time later I see them tell a deliberate lie because their mind is overcome and overwhelmed by possessions, honor, and popularity.
So grim are possessions, honor, and popularity—bitter and harsh, an obstacle to reaching the supreme sanctuary from the yoke.
So you should train like this: ‘We will give up arisen possessions, honor, and popularity, and we won’t let them occupy our minds.’ That’s how you should train.”
187. Trú tại Sāvatthī... vân vân... “Này các Tỳ khưu, lợi lộc, cung kính, và danh vọng là ghê gớm, cay đắng, thô bạo, là chướng ngại cho việc chứng đắc an ổn vô thượng khỏi các ách缚. Này các Tỳ khưu, ở đây, Ta với tâm của mình, thấu suốt tâm của một hạng người và biết rằng: ‘Vị tôn giả này sẽ không nói lời dối trá có chủ ý ngay cả vì lý do người cha... vân vân... vì lý do người anh... vì lý do người chị... vì lý do người con trai... vì lý do người con gái... vì lý do người vợ.’ Rồi vào một lúc khác, Ta thấy vị ấy, bị lợi lộc, cung kính, và danh vọng chinh phục, tâm bị chiếm đoạt, đang nói lời dối trá có chủ ý. Này các Tỳ khưu, lợi lộc, cung kính, và danh vọng thật là ghê gớm, cay đắng, thô bạo, là chướng ngại cho việc chứng đắc an ổn vô thượng khỏi các ách缚. Vì vậy, này các Tỳ khưu, ở đây các ngươi phải học tập như vầy: ‘Chúng ta sẽ từ bỏ lợi lộc, cung kính, và danh vọng đã sanh khởi, và lợi lộc, cung kính, và danh vọng đã sanh khởi sẽ không chiếm đoạt và tồn tại trong tâm của chúng ta.’ Này các Tỳ khưu, các ngươi phải học tập như vậy.” (Kinh thứ) mười ba.
Catuttho vaggo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Thứ Tư.
Bhindi mūlaṁ duve dhammā, pakkantaṁ ratha mātari; Pitā bhātā ca bhaginī, putto dhītā pajāpatīti.
Chia rẽ, Cội rễ, hai Pháp, Ra đi, Cỗ xe, Người mẹ; Người cha, người anh, và người chị, Con trai, con gái, và người vợ.
Lābhasakkārasaṁyuttaṁ samattaṁ.
The Linked Discourses on possessions, honor, and popularity are complete.
Tương Ưng Lợi Lộc và Cung Kính đã hoàn tất.