- Saṁyutta Nikāya 17.35
- 4. Catutthavagga
Bản dịch
SN 17.35 — Kinh Vừa Mới Ra Đi (Acirapakkanta)
Acirapakkantasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Ràjàgaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại núi Gujjhakuuta (Linh Thứu), sau khi Devadatta (Ðề-bà-đạt-đa) bỏ đi không bao lâu.
Vi-n 2 Rồi Thế Tôn nhân vì Devadatta, bảo các Tỷ-kheo:
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
Vi-n 4 Ví như cây chuối, này các Tỷ-kheo, sanh quả đưa đến tự hại, sanh quả đưa đến diệt vong. Cũng như vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
Vi-n 5 Ví như cây tre, này các Tỷ-kheo, sanh quả đưa đến tự hại, sanh quả đưa đến diệt vong. Cũng như vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
Vi-n 6 Ví như cây lau, này các Tỷ-kheo, sanh quả đưa đến tự hại, sanh quả đưa đến diệt vong. Cũng như vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
Vi-n 7 Ví như con lừa có thai đưa đến tự hại, có thai đưa đến diệt vong. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
Vi-n 8 Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng …
Vi-n 9 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Vi-n 10 Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói vậy xong, bậc Ðạo Sư nói như sau:
Như cây chuối sanh quả,
Sanh quả đem tự hại,
Cũng vậy, quả cây tre,
Cũng vậy, quả cây lau,
Cũng vậy với kẻ ngu,
Cung kính đem tự hại,
Như con lừa mang thai,
Mang thai đem tự hại.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 17.35
- Chapter Four
Shortly After He Left
5. Kinh Vừa Mới Ra Đi (Acirapakkanta)
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate acirapakkante devadatte. Tatra kho bhagavā devadattaṁ ārabbha bhikkhū āmantesi:
“attavadhāya, bhikkhave, devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi, parābhavāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain, not long after Devadatta had left. There the Buddha spoke to the mendicants about Devadatta:
“Possessions, honor, and popularity came to Devadatta for his own ruin and downfall.
184. Một thời, Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại núi Gijjhakūṭa, không bao lâu sau khi Devadatta ra đi. Tại đấy, Thế Tôn đã nhân Devadatta mà gọi các Tỳ khưu: ‘Này các Tỳ khưu, lợi dưỡng, cung kính, danh vọng đã sanh khởi cho Devadatta để tự hủy hoại, lợi dưỡng, cung kính, danh vọng đã sanh khởi cho Devadatta để bị suy vong.’
Seyyathāpi, bhikkhave, kadalī attavadhāya phalaṁ deti, parābhavāya phalaṁ deti; evameva kho, bhikkhave, attavadhāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi, parābhavāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi.
It’s like a banana plant …
Ví như, này các Tỳ khưu, cây chuối trổ quả để tự hủy hoại, trổ quả để bị suy vong; cũng thế ấy, này các Tỳ khưu, lợi dưỡng, cung kính, danh vọng đã sanh khởi cho Devadatta để tự hủy hoại, lợi dưỡng, cung kính, danh vọng đã sanh khởi cho Devadatta để bị suy vong.
Ví như, này các Tỳ khưu, cây tre trổ quả để tự hủy hoại, trổ quả để bị suy vong; cũng thế ấy, này các Tỳ khưu, lợi dưỡng, cung kính, danh vọng đã sanh khởi cho Devadatta để tự hủy hoại, lợi dưỡng, cung kính, danh vọng đã sanh khởi cho Devadatta để bị suy vong.
“Này các Tỳ khưu, ví như cây lau ra trái để tự hủy hoại, ra trái để bị tàn lụi; cũng vậy, này các Tỳ khưu, lợi lộc, cung kính, và danh vọng đã sanh khởi cho Devadatta để tự hủy hoại, để bị tàn lụi.”
Seyyathāpi, bhikkhave, assatarī attavadhāya gabbhaṁ gaṇhāti, parābhavāya gabbhaṁ gaṇhāti; evameva kho, bhikkhave, attavadhāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi, parābhavāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi.
Evaṁ dāruṇo kho, bhikkhave, lābhasakkārasiloko. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
It’s like a mule, which becomes pregnant to its own ruin and downfall. In the same way, possessions, honor, and popularity came to Devadatta for his own ruin and downfall.
So grim are possessions, honor, and popularity. That’s how you should train.”
“Này các Tỳ khưu, ví như con la cái mang thai để tự hủy hoại, mang thai để bị tàn lụi; cũng vậy, này các Tỳ khưu, lợi lộc, cung kính, và danh vọng đã sanh khởi cho Devadatta để tự hủy hoại, để bị tàn lụi. Này các Tỳ khưu, lợi lộc, cung kính, và danh vọng thật là ghê gớm. Này các Tỳ khưu, các ngươi phải học tập như vậy.”
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này nữa:
“Phalaṁ ve kadaliṁ hanti, phalaṁ veḷuṁ phalaṁ naḷaṁ; Sakkāro kāpurisaṁ hanti, gabbho assatariṁ yathā”ti.
Pañcamaṁ.
“The banana plant is destroyed by its own fruit, as are the bamboo and the reed. Honor destroys a reprobate, as pregnancy destroys a mule.”
“Quả thật, quả chuối giết cây chuối, quả tre giết cây tre, quả lau giết cây lau; sự cung kính giết kẻ ác nhân, như bào thai giết con la cái.” (Kinh thứ) năm.