- Saṁyutta Nikāya 16.8
- 1. Kassapavagga
Bản dịch
SN 16.8 — Kinh Giáo Giới (thứ ba)
Tatiyaovādasutta
Vi-n 1 Ở Rajagaha (Vương Xá), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Mahākassapa đi đến Thế Tôn…
Vi-n 3 Thế Tôn nói với Tôn giả Mahākassapa đang ngồi một bên:
—Hãy giáo giới Tỷ-kheo, này Kassapa! Hãy thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo, này Kassapa! Ta hay ông, này Kassapa, phải giáo giới các Tỷ-kheo! ông hay Ta, này Kassapa, hãy thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo!
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn, họ không kính trọng lời giáo giới.
Vi-n 5 —Này Kassapa, thuở xưa các Trưởng lão Tỷ-kheo là những vị ở rừng như vậy và tán thán ở rừng, là những vị đi khất thực và tán thán hạnh khất thực, là những vị mang y phấn tảo và tán thán hạnh mang y phấn tảo, là những vị mang ba y và tán thán hạnh mang ba y, là những vị sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, là những vị sống tri túc và tán thán hạnh tri túc, là những vị sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly, là những vị sống không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp, là những vị sống tinh cần và tán thán hạnh tinh cần.
Vi-n 6 Ở đây, vị Tỷ-kheo nào sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng, đi khất thực và tán thán hạnh khất thực, mang y phấn tảo và tán thán hạnh mang y phấn tảo, mang ba y và tán thán hạnh mang ba y, sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, sống tri túc và tán thánh hạnh tri túc, sống viễn ly và tán thán hạnh sống viễn ly, sống không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp, sống tinh cần và tán thán hạnh tinh cần; vị Tỷ-kheo ấy được các vị Trưởng lão Tỷ-kheo mời ngồi và nói: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tên gì? Thật là hiền thiện, vị Tỷ-kheo này! Thật là muốn học, vị Tỷ-kheo này! Hãy đến Tỷ-kheo, hãy ngồi chỗ ngồi này!”
Vi-n 7 Ở đây, này Kassapa, các tân Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Tỷ-kheo nào sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng, đi khất thực… mang y phấn tảo… mang ba y… thiểu dục… tri túc… sống viễn ly… sống không giao thiệp… tinh cần và tán thán hạnh tinh cần; Tỷ-kheo ấy được các Trưởng lão Tỷ-kheo mời ngồi và nói: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tên gì? Thật là hiền thiện, Tỷ-kheo này! Thật là muốn học, Tỷ-kheo này! Hãy đến Tỷ-kheo, hãy ngồi chỗ ngồi này”. Các vị ấy thực hành đúng như vậy và như vậy các vị ấy được hạnh phúc, được an lạc trong một thời gian dài.
Vi-n 8 Nhưng này, này Kassapa, các Trưởng lão Tỷ-kheo không sống ở rừng và không tán thán hạnh sống ở rừng, không đi khất thực và không tán thán hạnh khất thực, không mang y phấn tảo và không tán thán hạnh mang y phấn tảo, không mang ba y và không tán thán hạnh mang ba y, không thiểu dục và không tán thán hạnh thiểu dục, không tri túc và không tán thán hạnh tri túc, không sống viễn ly và không tán thán hạnh viễn ly, không sống không giao thiệp và không tán thán hạnh không giao thiệp, không tinh cần và không tán thán hạnh tinh cần.
Vi-n 9 Ở đây, Tỷ-kheo nào được nhiều người biết, có danh tiếng, nhận được các loại y áo, ẩm thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, Tỷ-kheo ấy được các vị Trưởng lão Tỷ-kheo mời ngồi và nói: “Hãy đến Tỷ-kheo. Tỷ-kheo này tên gì? Thật là hiền thiện, Tỷ-kheo này! Thật là muốn sống Phạm hạnh, Tỷ-kheo này! Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy ngồi chỗ ngồi này!”
Vi-n 10 Ở đây, này Kassapa, các tân Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Tỷ-kheo nào được nhiều người biết, có danh tiếng, nhận được các loại y áo, ẩm thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; Tỷ-kheo ấy được các Trưởng lão Tỷ-kheo mời ngồi và nói: ‘Hãy đến Tỷ-kheo. Tỷ-kheo này tên gì? Thật là hiền thiện, Tỷ-kheo này! Thật là muốn sống Phạm hạnh, Tỷ-kheo này! Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy ngồi chỗ ngồi này!’”. Các vị ấy thực hành đúng như vậy và như vậy các vị ấy không được hạnh phúc, bị khổ đau trong thời gian dài.
Này Kassapa, ai nói một cách chơn chánh như sau: “Người sống Phạm hạnh phải chịu đựng những hiểm nạn của Phạm hạnh. Người sống Phạm hạnh phải bị bức não bởi những áp bức của Phạm hạnh”. Nói như vậy, này Kassapa, là nói một cách chơn chánh. Người sống Phạm hạnh phải chịu đựng những hiểm nạn của Phạm hạnh. Người sống Phạm hạnh phải bị bức não bởi những áp bức của Phạm hạnh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 16.8
- 1. Kassapa
Advice (3rd)
8. Kinh Giáo Giới (thứ ba)
Rājagahe kalandakanivāpe. Atha kho āyasmā mahākassapo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ mahākassapaṁ bhagavā etadavoca:
“ovada, kassapa, bhikkhū; karohi, kassapa, bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ. Ahaṁ vā, kassapa, bhikkhūnaṁ ovadeyyaṁ tvaṁ vā; ahaṁ vā bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ kareyyaṁ tvaṁ vā”ti.
Near Rājagaha, in the squirrels’ feeding ground. Then Venerable Mahākassapa went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
“Kassapa, advise the mendicants! Give them a Dhamma talk! Either you or I should advise the mendicants and give them a Dhamma talk.”
151. Tại Rājagaha, ở Kalandakanivāpa. Bấy giờ, trưởng lão Mahākassapa đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã nói điều này với trưởng lão Mahākassapa đang ngồi một bên: ‘Này Kassapa, hãy giáo giới các vị tỳ khưu; này Kassapa, hãy thuyết pháp cho các vị tỳ khưu. Này Kassapa, hoặc là ta hoặc là ông nên giáo giới các vị tỳ khưu; hoặc là ta hoặc là ông nên thuyết pháp cho các vị tỳ khưu.’
“Dubbacā kho, bhante, etarahi bhikkhū, dovacassakaraṇehi dhammehi samannāgatā, akkhamā, appadakkhiṇaggāhino anusāsanin”ti.
“Tathā hi pana, kassapa, pubbe therā bhikkhū āraññikā ceva ahesuṁ āraññikattassa ca vaṇṇavādino, piṇḍapātikā ceva ahesuṁ piṇḍapātikattassa ca vaṇṇavādino, paṁsukūlikā ceva ahesuṁ paṁsukūlikattassa ca vaṇṇavādino, tecīvarikā ceva ahesuṁ tecīvarikattassa ca vaṇṇavādino, appicchā ceva ahesuṁ appicchatāya ca vaṇṇavādino, santuṭṭhā ceva ahesuṁ santuṭṭhiyā ca vaṇṇavādino, pavivittā ceva ahesuṁ pavivekassa ca vaṇṇavādino, asaṁsaṭṭhā ceva ahesuṁ asaṁsaggassa ca vaṇṇavādino, āraddhavīriyā ceva ahesuṁ vīriyārambhassa ca vaṇṇavādino.
“Sir, the mendicants these days are hard to admonish, having qualities that make them hard to admonish. They’re impatient, and don’t take instruction respectfully.”
“Kassapa, that’s because formerly the senior mendicants lived in the wilderness, ate only almsfood, wore rag robes, and owned just three robes; and they praised these things. They were of few wishes, content, secluded, aloof, and energetic; and they praised these things.
Bạch ngài, hiện nay các vị tỳ khưu thật khó dạy bảo, sở hữu những pháp khiến cho khó dạy bảo, không kham nhẫn, không tiếp thu lời giáo huấn một cách trân trọng. Này Kassapa, quả thật là như vậy. Trước đây, các vị trưởng lão tỳ khưu vừa là những vị sống ở rừng và vừa là những vị tán thán việc sống ở rừng; vừa là những vị đi khất thực và vừa là những vị tán thán việc đi khất thực; vừa là những vị mặc y phấn tảo và vừa là những vị tán thán việc mặc y phấn tảo; vừa là những vị chỉ dùng ba y và vừa là những vị tán thán việc chỉ dùng ba y; vừa là những vị thiểu dục và vừa là những vị tán thán sự thiểu dục; vừa là những vị biết đủ và vừa là những vị tán thán sự biết đủ; vừa là những vị sống độc cư và vừa là những vị tán thán việc sống độc cư; vừa là những vị không giao du và vừa là những vị tán thán việc không giao du; vừa là những vị có tinh tấn được khởi xướng và vừa là những vị tán thán sự khởi xướng tinh tấn.
Tatra yo hoti bhikkhu āraññiko ceva āraññikattassa ca vaṇṇavādī, piṇḍapātiko ceva piṇḍapātikattassa ca vaṇṇavādī, paṁsukūliko ceva paṁsukūlikattassa ca vaṇṇavādī, tecīvariko ceva tecīvarikattassa ca vaṇṇavādī, appiccho ceva appicchatāya ca vaṇṇavādī, santuṭṭho ceva santuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī, pavivitto ceva pavivekassa ca vaṇṇavādī, asaṁsaṭṭho ceva asaṁsaggassa ca vaṇṇavādī, āraddhavīriyo ceva vīriyārambhassa ca vaṇṇavādī, taṁ therā bhikkhū āsanena nimantenti: ‘ehi, bhikkhu, ko nāmāyaṁ bhikkhu, bhaddako vatāyaṁ bhikkhu, sikkhākāmo vatāyaṁ bhikkhu; ehi, bhikkhu, idaṁ āsanaṁ nisīdāhī’ti.
The senior mendicants invite such a mendicant to a seat, saying: ‘Welcome, mendicant! What is this mendicant’s name? This mendicant is good-natured; he really wants to train. Please, mendicant, here, take a seat.’
“Trong số ấy, vị tỳ khưu nào vừa là người sống ở rừng, vừa là người tán thán hạnh sống ở rừng; vừa là người đi khất thực, vừa là người tán thán hạnh đi khất thực; vừa là người mặc y phấn tảo, vừa là người tán thán hạnh mặc y phấn tảo; vừa là người chỉ dùng ba y, vừa là người tán thán hạnh chỉ dùng ba y; vừa là người ít ham muốn, vừa là người tán thán hạnh ít ham muốn; vừa là người biết đủ, vừa là người tán thán hạnh biết đủ; vừa là người sống độc cư, vừa là người tán thán hạnh sống độc cư; vừa là người không giao du, vừa là người tán thán hạnh không giao du; vừa là người tinh cần, vừa là người tán thán sự tinh cần, thì các vị tỳ khưu trưởng lão mời vị ấy bằng chỗ ngồi: ‘Hãy đến đây, tỳ khưu, vị tỳ khưu này tên là gì? Vị tỳ khưu này thật là hiền thiện! Vị tỳ khưu này thật là ham học! Hãy đến đây, tỳ khưu, đây là chỗ ngồi, mời ngài ngồi xuống.’”
Tatra, kassapa, navānaṁ bhikkhūnaṁ evaṁ hoti: ‘yo kira so hoti bhikkhu āraññiko ceva āraññikattassa ca vaṇṇavādī, piṇḍapātiko ceva …pe… paṁsukūliko ceva … tecīvariko ceva … appiccho ceva … santuṭṭho ceva … pavivitto ceva … asaṁsaṭṭho ceva … āraddhavīriyo ceva vīriyārambhassa ca vaṇṇavādī, taṁ therā bhikkhū āsanena nimantenti—ehi, bhikkhu, ko nāmāyaṁ bhikkhu, bhaddako vatāyaṁ bhikkhu, sikkhākāmo vatāyaṁ bhikkhu; ehi, bhikkhu, idaṁ āsanaṁ nisīdāhī’ti. Te tathattāya paṭipajjanti; tesaṁ taṁ hoti dīgharattaṁ hitāya sukhāya.
Then the junior mendicants think: ‘It seems that when a mendicant lives in the wilderness … and is energetic, and praises these things, senior mendicants invite them to a seat …’ They practice accordingly. That is for their lasting welfare and happiness.
“Này Kassapa, trong trường hợp ấy, các vị tỳ khưu trẻ tuổi khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Vị tỳ khưu nào là người sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng, là người đi khất thực... (vân vân)... là người tinh cần và tán thán sự tinh cần, thì được các vị tỳ khưu trưởng lão mời bằng chỗ ngồi: ‘Hãy đến đây, tỳ khưu, vị tỳ khưu này tên là gì? Vị tỳ khưu này thật là hiền thiện! Vị tỳ khưu này thật là ham học! Hãy đến đây, tỳ khưu, đây là chỗ ngồi, mời ngài ngồi xuống.’ Rồi họ thực hành để được như vậy; và điều đó mang lại lợi ích, hạnh phúc cho họ trong một thời gian dài.
Etarahi pana, kassapa, therā bhikkhū na ceva āraññikā na ca āraññikattassa vaṇṇavādino, na ceva piṇḍapātikā na ca piṇḍapātikattassa vaṇṇavādino, na ceva paṁsukūlikā na ca paṁsukūlikattassa vaṇṇavādino, na ceva tecīvarikā na ca tecīvarikattassa vaṇṇavādino, na ceva appicchā na ca appicchatāya vaṇṇavādino, na ceva santuṭṭhā na ca santuṭṭhiyā vaṇṇavādino, na ceva pavivittā na ca pavivekassa vaṇṇavādino, na ceva asaṁsaṭṭhā na ca asaṁsaggassa vaṇṇavādino, na ceva āraddhavīriyā na ca vīriyārambhassa vaṇṇavādino.
But these days, Kassapa, the senior mendicants don’t live in the wilderness … and aren’t energetic; and they don’t praise these things.
“Nhưng này Kassapa, ngày nay các vị tỳ khưu trưởng lão không phải là người sống ở rừng, cũng không tán thán hạnh sống ở rừng; không phải là người đi khất thực, cũng không tán thán hạnh đi khất thực; không phải là người mặc y phấn tảo, cũng không tán thán hạnh mặc y phấn tảo; không phải là người chỉ dùng ba y, cũng không tán thán hạnh chỉ dùng ba y; không phải là người ít ham muốn, cũng không tán thán hạnh ít ham muốn; không phải là người biết đủ, cũng không tán thán hạnh biết đủ; không phải là người sống độc cư, cũng không tán thán hạnh sống độc cư; không phải là người không giao du, cũng không tán thán hạnh không giao du; không phải là người tinh cần, cũng không tán thán sự tinh cần.
Tatra yo hoti bhikkhu ñāto yasassī lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ taṁ therā bhikkhū āsanena nimantenti: ‘ehi, bhikkhu, ko nāmāyaṁ bhikkhu, bhaddako vatāyaṁ bhikkhu, sabrahmacārikāmo vatāyaṁ bhikkhu; ehi, bhikkhu, idaṁ āsanaṁ nisīdāhī’ti.
When a mendicant is well-known and famous, a recipient of robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick, senior mendicants invite them to a seat: ‘Welcome, mendicant! What is this mendicant’s name? This mendicant is good-natured; he’s fond of his fellow monks. Please, mendicant, here, take a seat.’
“Trong số ấy, vị tỳ khưu nào nổi tiếng, có danh vọng, nhận được các vật dụng là y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh, thì các vị tỳ khưu trưởng lão mời vị ấy bằng chỗ ngồi: ‘Hãy đến đây, tỳ khưu, vị tỳ khưu này tên là gì? Vị tỳ khưu này thật là hiền thiện! Vị tỳ khưu này thật được các bạn đồng phạm hạnh quý mến! Hãy đến đây, tỳ khưu, đây là chỗ ngồi, mời ngài ngồi xuống.’”
Tatra, kassapa, navānaṁ bhikkhūnaṁ evaṁ hoti: ‘yo kira so hoti bhikkhu ñāto yasassī lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ taṁ therā bhikkhū āsanena nimantenti—ehi, bhikkhu, ko nāmāyaṁ bhikkhu, bhaddako vatāyaṁ bhikkhu, sabrahmacārikāmo vatāyaṁ bhikkhu; ehi, bhikkhu, idaṁ āsanaṁ nisīdāhī’ti. Te tathattāya paṭipajjanti. Tesaṁ taṁ hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya. Yañhi taṁ, kassapa, sammā vadamāno vadeyya: ‘upaddutā brahmacārī brahmacārūpaddavena abhipatthanā brahmacārī brahmacāriabhipatthanenā’ti, etarahi taṁ, kassapa, sammā vadamāno vadeyya: ‘upaddutā brahmacārī brahmacārūpaddavena abhipatthanā brahmacārī brahmacāriabhipatthanenā’”ti.
Aṭṭhamaṁ.
Then the junior mendicants think: ‘It seems that when a mendicant is well-known and famous, a recipient of robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick, senior mendicants invite them to a seat …’ They practice accordingly. That is for their lasting harm and suffering. And if it could ever be rightly said that spiritual practitioners have been imperiled by the peril of a spiritual practitioner, and vanquished by the vanquishing of a spiritual practitioner, it is these days that this could be rightly said.”
“Này Kassapa, trong trường hợp ấy, các vị tỳ khưu trẻ tuổi khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Vị tỳ khưu nào nổi tiếng, có danh vọng, nhận được các vật dụng là y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh, thì được các vị tỳ khưu trưởng lão mời bằng chỗ ngồi: ‘Hãy đến đây, tỳ khưu, vị tỳ khưu này tên là gì? Vị tỳ khưu này thật là hiền thiện! Vị tỳ khưu này thật được các bạn đồng phạm hạnh quý mến! Hãy đến đây, tỳ khưu, đây là chỗ ngồi, mời ngài ngồi xuống.’ Rồi họ thực hành để được như vậy. Và điều đó mang lại sự không lợi ích, sự đau khổ cho họ trong một thời gian dài. Này Kassapa, nếu có người nói đúng, người ấy sẽ nói rằng: ‘Những người tu phạm hạnh bị tai họa bởi tai họa của đời sống phạm hạnh; những người tu phạm hạnh bị khao khát bởi sự khao khát của đời sống phạm hạnh.’ Này Kassapa, ngày nay, nếu có người nói đúng, người ấy sẽ nói rằng: ‘Những người tu phạm hạnh bị tai họa bởi tai họa của đời sống phạm hạnh; những người tu phạm hạnh bị khao khát bởi sự khao khát của đời sống phạm hạnh.’”