- Saṁyutta Nikāya 16.11
- 1. Kassapavagga
Cīvarasutta
Ekaṁ samayaṁ āyasmā mahākassapo rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena āyasmā ānando dakkhiṇagirismiṁ cārikaṁ carati mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ.
Bản dịch
Cīvarasutta
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Mahākassapa trú ở Rājagaha (Vương Xá), Veḷuvana (Trúc Lâm) tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda đang đi du hành ở Dakkhiṇāgiri (Nam Sơn), cùng với đại chúng Tỷ-kheo.
Vi-n 3 Lúc bấy giờ có khoảng ba mươi Tỷ-kheo đệ tử của Tôn giả Ānanda, phần lớn còn trẻ tuổi, từ bỏ sự tu học và hoàn tục.
Vi-n 4 Rồi Tôn giả Ānanda, sau khi du hành ở Nam Sơn, tùy theo ý muốn, rồi đi đến Vương Xá, Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc, đi đến Tôn giả Mahākassapa, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahākassapa rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 5 Tôn giả Mahākassapa nói với Tôn giả Ānanda đang ngồi xuống một bên:
—Duyên bao nhiêu lợi ích, này Hiền giả Ānanda, Thế Tôn chế định điều luật “Chỉ ba người ăn” đối với các gia chủ?
Vi-n 6 —Duyên ba lợi ích, thưa Tôn giả Kassapa, nên Thế Tôn chế định điều luật “Chỉ ba người ăn” đối với các gia chủ, để ngăn chận các người ác giới, vì sự lạc trú của các Tỷ-kheo chánh hạnh, chớ để cho ai dựa vào những ác đảng phá hoại chúng Tăng, và vì lòng từ mẫn đối với các gia đình. Thưa Tôn giả Kassapa, do duyên ba lợi ích này nên Thế Tôn chế định điều luật “Chỉ ba người ăn” đối với các gia chủ.
Vi-n 7 —Vậy thời vì sao, này Hiền giả Ānanda, Hiền giả lại cùng du hành với những tân Tỷ-kheo này, những người không hộ trì các căn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm tỉnh giác? Ta nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ dẫm đạp ngũ cốc! Ta nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ phá hoại lương gia! Hội chúng của Hiền giả, này Hiền giả Ānanda, đang sụp đổ. Ðồ chúng niên thiếu của Hiền giả, này Hiền giả, đang tan rã! Ðứa trẻ này không biết lượng sức mình!
Vi-n 8 —Thưa Tôn giả Kassapa, trên đầu tôi, tóc bạc đã sanh, tuy vậy, hôm nay Tôn giả Mahākassapa gọi tôi là đứa trẻ, tôi không có phật lòng.
Vi-n 9 —Thật vậy, này Hiền giả Ānanda, Hiền giả du hành với những tân Tỷ-kheo này, những người không hộ trì các căn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm tỉnh giác. Ta nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ dẫm đạp ngũ cốc! Ta nghĩ Hiền giả hành động thật là kẻ phá hoại lương gia! Hội chúng của Hiền giả, này Hiền giả Ānanda, đang sụp đổ. Ðồ chúng niên thiếu của Hiền giả, này Hiền giả, đang tiêu diệt. Ðứa trẻ này không biết lượng sức mình.
Vi-n 10 Tỷ-kheo-ni Thullatissā được nghe Tôn giả Ānanda, bậc Thánh Vedeha lại bị Tôn giả Mahākassapa không hài lòng và gọi là “đứa trẻ”.
Vi-n 11 Rồi Tỷ-kheo-ni Thullatissā không hoan hỷ và thốt ra những lời không hoan hỷ: “Sao Tôn giả Mahākassapa, trước kia là người theo ngoại đạo, lại nghĩ có thể không hài lòng và gọi Tôn giả Ānanda, bậc Thánh Vedeha là đứa trẻ?”
Vi-n 12 Tôn giả Mahākassapa được nghe những lời của Tỷ-kheo-ni Thullatissā nói như vậy.
Vi-n 13 Rồi Tôn giả Mahākassapa nói với Tôn giả Ānanda:
—Này Hiền giả Ānanda, lời nói của Tỷ-kheo-ni Thullatissā thật là đường đột, không đắn đo suy nghĩ! Này Hiền giả, vì rằng ta là người cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, ta không chấp nhận một Ðạo Sư nào khác ngoài Thế Tôn, bậc ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác.
Vi-n 14 Này Hiền giả, trong khi ta còn là gia chủ, ý nghĩ sau đây được khởi lên: “Chật hẹp thay đời sống tại gia, đầy những bụi đời! Còn xuất gia như đời sống ngoài trời. Thật không dễ dàng ở trong gia đình có thể sống Phạm hạnh, hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
Vi-n 15 Rồi này Hiền giả, sau một thời gian ta lấy vải cắt làm áo Tăng-già-lê, và theo thông lệ các vị Ứng Cúng ở đời, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Vi-n 16 Xuất gia như vậy, ta đang đi trên đường, thấy Thế Tôn ngồi tại ngôi đền Bahaputta giữa Rājagaha và Nàlandà. Thấy vậy, ta suy nghĩ như sau: “Ôi thật thế chăng, ta có thể thấy bậc Ðạo Sư, tức là có thể thấy bậc Thế Tôn! Ôi thật thế chăng, ta có thể thấy bậc Thiện Thệ, tức là có thể thấy bậc Thế Tôn! Ôi thật thế chăng, ta có thể thấy bậc Chánh Ðẳng Giác, tức là có thể thấy bậc Thế Tôn?”
Vi-n 17 Và này Hiền giả, ngay tại chỗ ấy, ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
“—Bạch Thế Tôn, Ðạo Sư của con là Thế Tôn. Con là đệ tử”.
Vi-n 18 Khi nghe nói vậy, này Hiền giả, Thế Tôn nói với ta:
—Này Kassapa, những ai với tâm trọn vẹn đầy đủ, không biết một đệ tử mà nói rằng tôi biết, không thấy mà nói rằng tôi thấy, đầu người ấy sẽ vỡ tan. Còn Ta, này Kassapa, Ta biết thời Ta nói Ta biết, Ta thấy thời Ta nói Ta thấy.
Vi-n 19 Do vậy, này Kassapa, ông phải học tập như sau: 'Một tâm quý thật sắc sảo sẽ phải được thiết lập giữa các vị Trưởng lão, niên thiếu và trung niên'. Này Kassapa, ông phải học tập như vậy.
Vi-n 20 Do vậy, này Kassapa, ông phải học tập như sau: 'Phàm pháp gì tôi nghe, liên hệ đến thiện, sau khi đặc biệt chú ý, tác ý, tập trung tất cả tâm (lực), tất cả pháp ấy tôi đều lóng tai nghe'. Này Kassapa, ông phải học tập như vậy.
Vi-n 21 Do vậy, này Kassapa, ông phải học tập như sau: 'Phàm niệm gì thuộc về thân hành, câu hữu với hỷ, ta sẽ không bỏ niệm ấy'. Này Kassapa, ông phải học tập như vậy”.
Vi-n 22 Rồi này Hiền giả, Thế Tôn sau khi giáo giới ta với lời giáo giới ấy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Vi-n 23 Trong bảy ngày, này Hiền giả, đang còn phiền não, ta ăn món ăn của quốc độ, đến ngày thứ tám, chánh trí khởi lên.
Vi-n 24 Rồi này Hiền giả, Thế Tôn từ trên đường bước xuống và đi đến một gốc cây.
Vi-n 25 Rồi này Hiền giả, ta xấp tư tấm y Tăng-già-lê làm bằng vải cắt, rồi bạch Thế Tôn:
“—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ngồi xuống ở đây, để con được hạnh phúc an lạc lâu dài”.
Vi-n 26 Này Hiền giả, Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.
Vi-n 27 Sau khi ngồi xuống, này Hiền giả, Thế Tôn nói với ta:
“—Thật là mềm dịu, này Kassapa, là tấm y Tăng-già-lê này làm bằng vải cắt của ông”.
“—Bạch Thế Tôn, mong rằng Thế Tôn nhận lấy tấm y làm bằng vải cắt này từ nơi con, vì lòng từ mẫn đối với con”.
Vi-n 28 “—Này Kassapa, ông có dùng tấm y phấn tảo làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ của Ta không?”.
“—Con sẽ dùng, bạch Thế Tôn, tấm y phấn tảo làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ của Thế Tôn”.
Vi-n 29 Như vậy, này Hiền giả, ta cúng cho Thế Tôn tấm y Tăng-già-lê làm bằng vải cắt; còn ta thời dùng tấm y phấn tảo của Thế Tôn, làm bằng vải gai thô đáng được quăng bỏ.
Vi-n 30 Và này Hiền giả, nếu ai có nói về ta một cách chơn chánh, thời ta là con ruột Thế Tôn, sanh ra từ miệng, do pháp sanh, do pháp hóa sanh, thừa tự Chánh pháp và đã nhận được tấm y phấn tảo, làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ.
Vi-n 31 Này Hiền giả, tùy theo mong muốn, ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
Vi-n 32-46 Và này Hiền giả, tùy theo mong muốn, ta… (chín thứ đệ định và năm thắng trí)…
Vi-n 47 Và này Hiền giả, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại ta tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt, và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Vi-n 48 Này Hiền giả, ai nghĩ rằng có thể che đậy sáu thắng trí của ta được, thời không khác gì nghĩ rằng có thể lấy một lá cây ta-la mà che đậy một con voi lớn đến bảy hay tám khuỷu tay rưởi bề cao.
Vi-n 49 Nhưng Tỷ-kheo-ni Thullatissā đã từ bỏ đời sống Phạm hạnh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Ekaṁ samayaṁ āyasmā mahākassapo rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena āyasmā ānando dakkhiṇagirismiṁ cārikaṁ carati mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ.
At one time Venerable Mahākassapa was staying near Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. Now at that time Venerable Ānanda was wandering in the Southern Hills together with a large Saṅgha of mendicants.
154. Một thời, Tôn giả Mahākassapa trú ở Rājagaha, tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda đang du hành ở Dakkhiṇagiri cùng với đại chúng Tỳ khưu.
Tena kho pana samayena āyasmato ānandassa tiṁsamattā saddhivihārino bhikkhū sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattā bhavanti yebhuyyena kumārabhūtā.
Atha kho āyasmā ānando dakkhiṇagirismiṁ yathābhirantaṁ cārikaṁ caritvā yena rājagahaṁ veḷuvanaṁ kalandakanivāpo yenāyasmā mahākassapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahākassapaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ āyasmā mahākassapo etadavoca:
“kati nu kho, āvuso ānanda, atthavase paṭicca bhagavatā kulesu tikabhojanaṁ paññattan”ti?
And at that time thirty of Ānanda’s mendicant protégés resigned the training and returned to a lesser life. Most of them were youths.
When Venerable Ānanda had wandered in the Southern Hills as long as he pleased, he set out for Rājagaha, to the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. He went up to Venerable Mahākassapa, bowed, and sat down to one side. Mahākassapa said to him:
“Reverend Ānanda, for how many reasons did the Buddha lay down a rule against eating in groups of more than three among families?”
Lúc bấy giờ, khoảng ba mươi vị Tỳ khưu đồng trú của Tôn giả Ānanda, phần lớn là những người trẻ tuổi, đã từ bỏ học pháp và hoàn tục. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda, sau khi du hành ở Dakkhiṇagiri tùy thích, đã đi đến Rājagaha, đến Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc, đến chỗ Tôn giả Mahākassapa; sau khi đến, đã đảnh lễ Tôn giả Mahākassapa rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Mahākassapa nói với Tôn giả Ānanda đang ngồi một bên rằng: ‘Này hiền giả Ānanda, do mấy lý do mà Thế Tôn đã chế định về việc ăn ba bữa tại các gia đình?’”
“Tayo kho, bhante kassapa, atthavase paṭicca bhagavatā kulesu tikabhojanaṁ paññattaṁ—dummaṅkūnaṁ puggalānaṁ niggahāya pesalānaṁ bhikkhūnaṁ phāsuvihārāya, mā pāpicchā pakkhaṁ nissāya saṅghaṁ bhindeyyuṁ, kulānuddayatāya ca. Ime kho, bhante kassapa, tayo atthavase paṭicca bhagavatā kulesu tikabhojanaṁ paññattan”ti.
“Sir, the Buddha laid down that rule for three reasons. For keeping difficult individuals in check and for the comfort of good-hearted mendicants. To prevent those of corrupt wishes from taking sides and dividing the Saṅgha. And out of consideration for families. These are the three reasons why the Buddha laid down that rule.”
“Thưa Tôn giả Kassapa, do ba lý do mà Thế Tôn đã chế định về việc ăn ba bữa tại các gia đình: để kiềm chế những người khó dạy, để các Tỳ khưu có giới hạnh được an trú thoải mái, để những người có ác dục không dựa vào phe đảng mà chia rẽ Tăng chúng, và vì lòng thương tưởng đến các gia đình. Thưa Tôn giả Kassapa, chính vì ba lý do này mà Thế Tôn đã chế định về việc ăn ba bữa tại các gia đình.”
“Atha kiñcarahi tvaṁ, āvuso ānanda, imehi navehi bhikkhūhi indriyesu aguttadvārehi bhojane amattaññūhi jāgariyaṁ ananuyuttehi saddhiṁ cārikaṁ carasi? Sassaghātaṁ maññe carasi, kulūpaghātaṁ maññe carasi.
“So what then are you doing, wandering together with these junior mendicants? They don’t guard their sense doors, they eat too much, and they’re not committed to wakefulness. It’s like you’re wandering about wrecking crops and ruining families!
“Vậy thì tại sao, này hiền giả Ānanda, hiền giả lại du hành cùng với những Tỳ khưu mới tu này, những người không phòng hộ các căn, không biết tiết độ trong ăn uống, không chuyên tâm tỉnh giác? Tôi nghĩ rằng hiền giả đang đi như kẻ phá hoại mùa màng, tôi nghĩ rằng hiền giả đang đi như kẻ phá hoại gia đình. Này hiền giả Ānanda, hội chúng của hiền giả đang tan rã; này hiền giả, những người mới tu của hiền giả đang tan rã. Cậu bé này không biết chừng mực.”
“Api me, bhante kassapa, sirasmiṁ palitāni jātāni. Atha ca pana mayaṁ ajjāpi āyasmato mahākassapassa kumārakavādā na muccāmā”ti.
“Tathā hi pana tvaṁ, āvuso ānanda, imehi navehi bhikkhūhi indriyesu aguttadvārehi bhojane amattaññūhi jāgariyaṁ ananuyuttehi saddhiṁ cārikaṁ carasi, sassaghātaṁ maññe carasi, kulūpaghātaṁ maññe carasi. Olujjati kho te, āvuso ānanda, parisā; palujjanti kho te, āvuso, navappāyā. Na vāyaṁ kumārako mattamaññāsī”ti.
“Though there are grey hairs on my head, I still can’t escape being called a boy by Venerable Mahākassapa.”
“It’s because you wander with these junior mendicants. … Your following is falling away, Reverend Ānanda, and those just getting started are falling apart. Yet this boy knows no limit!”
“Thưa Tôn giả Kassapa, tóc trên đầu con đã bạc rồi. Thế mà cho đến nay, chúng con vẫn chưa thoát khỏi cách gọi là ‘cậu bé’ của Tôn giả Mahākassapa.” “Đúng vậy, này hiền giả Ānanda, hiền giả lại du hành cùng với những Tỳ khưu mới tu này, những người không phòng hộ các căn, không biết tiết độ trong ăn uống, không chuyên tâm tỉnh giác. Tôi nghĩ rằng hiền giả đang đi như kẻ phá hoại mùa màng, tôi nghĩ rằng hiền giả đang đi như kẻ phá hoại gia đình. Này hiền giả Ānanda, hội chúng của hiền giả đang tan rã; này hiền giả, những người mới tu của hiền giả đang tan rã. Cậu bé này không biết chừng mực.”
Assosi kho thullanandā bhikkhunī: “ayyena kira mahākassapena ayyo ānando vedehamuni kumārakavādena apasādito”ti.
The nun Thullanandā heard a rumor that the venerable Mahākassapa had rebuked the venerable Ānanda the Videhan sage by calling him a boy.
Tỳ khưu ni Thullanandā đã nghe rằng: “Tôn giả Mahākassapa đã khiển trách Tôn giả Ānanda, bậc thánh nhân xứ Videha, bằng cách gọi ngài là ‘cậu bé’.”
Atha kho thullanandā bhikkhunī anattamanā anattamanavācaṁ nicchāresi: “kiṁ pana ayyo mahākassapo aññatitthiyapubbo samāno ayyaṁ ānandaṁ vedehamuniṁ kumārakavādena apasādetabbaṁ maññatī”ti.
Assosi kho āyasmā mahākassapo thullanandāya bhikkhuniyā imaṁ vācaṁ bhāsamānāya.
She was upset and blurted out, “How can the venerable Mahākassapa, who formerly followed another religion, presume to rebuke the venerable Ānanda the Videhan sage by calling him a boy?”
Mahākassapa heard Thullanandā say these words,
Bấy giờ, Tỳ khưu ni Thullanandā không hài lòng và đã thốt ra những lời không hài lòng: “Tại sao Tôn giả Mahākassapa, một người trước đây từng là ngoại đạo, lại nghĩ rằng có thể khiển trách Tôn giả Ānanda, bậc thánh nhân xứ Videha, bằng cách gọi ngài là ‘cậu bé’ chứ!” Tôn giả Mahākassapa đã nghe được những lời này do Tỳ khưu ni Thullanandā nói.
Yatvāhaṁ, āvuso, kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito, nābhijānāmi aññaṁ satthāraṁ uddisitā, aññatra tena bhagavatā arahatā sammāsambuddhena.
Pubbe me, āvuso, agārikabhūtassa sato etadahosi: ‘sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā. Nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti. So khvāhaṁ, āvuso, aparena samayena paṭapilotikānaṁ saṅghāṭiṁ kāretvā ye loke arahanto te uddissa kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajiṁ.
Since I shaved off my hair and beard, dressed in ocher robes, and went forth from the lay life to homelessness, I don’t recall acknowledging any other teacher apart from the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha.
Formerly when I was still a layman, I thought: ‘Life at home is cramped and dirty, life gone forth is wide open. It’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell. Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness?’ After some time I made an outer robe of patches and, in the name of the perfected ones in the world, I shaved off my hair and beard, dressed in ocher robes, and went forth from the lay life to homelessness.
Bấy giờ, Tôn giả Mahākassapa nói với Tôn giả Ānanda điều này: Này hiền giả Ānanda, thật vậy, Tỳ-kheo-ni Thullanandā đã nói lời vội vàng, không suy xét. Này hiền giả, kể từ khi tôi cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, tôi không biết đã chỉ định một vị thầy nào khác, ngoại trừ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy. Này hiền giả, trước kia, khi còn là người tại gia, tôi đã có suy nghĩ thế này: ‘Đời sống tại gia thật chật hẹp, là con đường của bụi bặm; đời sống xuất gia như khoảng trời quang đãng. Thật không dễ dàng cho người sống tại gia có thể thực hành phạm hạnh một cách hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, được gọt giũa như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình’. Này hiền giả, sau một thời gian, tôi đã làm một y tăng-già-lê bằng những mảnh vải vụn, hướng đến các bậc A-la-hán trên đời, rồi cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
So evaṁ pabbajito samāno addhānamaggappaṭipanno addasaṁ bhagavantaṁ antarā ca rājagahaṁ antarā ca nāḷandaṁ bahuputte cetiye nisinnaṁ. Disvāna me etadahosi: ‘satthārañca vatāhaṁ passeyyaṁ, bhagavantameva passeyyaṁ; sugatañca vatāhaṁ passeyyaṁ, bhagavantameva passeyyaṁ; sammāsambuddhañca vatāhaṁ passeyyaṁ; bhagavantameva passeyyan’ti.
So khvāhaṁ, āvuso, tattheva bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavocaṁ: ‘satthā me, bhante, bhagavā, sāvakohamasmi; satthā me, bhante, bhagavā, sāvakohamasmī’ti.
Evaṁ vutte, maṁ, āvuso, bhagavā etadavoca: ‘yo kho, kassapa, evaṁ sabbacetasā samannāgataṁ sāvakaṁ ajānaññeva vadeyya jānāmīti, apassaññeva vadeyya passāmīti, muddhāpi tassa vipateyya. Ahaṁ kho pana, kassapa, jānaññeva vadāmi jānāmīti, passaññeva vadāmi passāmīti.
When I had gone forth, I traveled along the road between Rājagaha and Nāḷandā, where I saw the Buddha sitting at the Many Sons Shrine. Seeing him, I thought: ‘Were I ever to see a Teacher, it would be this Blessed One! Were I ever to see a Holy One, it would be this Blessed One! Were I ever to see a fully awakened Buddha, it would be this Blessed One!’
Then I bowed with my head to the Buddha’s feet and said: ‘Sir, the Buddha is my Teacher, I am his disciple! The Buddha is my Teacher, I am his disciple!’
The Buddha said to me, ‘Kassapa, if anyone was to say to such a wholehearted disciple that they know when they don’t know, or that they see when they don’t see, their head would explode. But Kassapa, when I say that I know I really do know; and when I say that I see I really do see.
Khi đã xuất gia như vậy, trong lúc đang đi trên một con đường dài, tôi đã thấy Đức Thế Tôn đang ngồi tại bảo tháp Bahuputta, giữa thành Rājagaha và thành Nāḷandā. Sau khi thấy Ngài, tôi đã có suy nghĩ thế này: ‘Nếu ta muốn thấy một vị Đạo Sư, ta chỉ nên thấy chính Đức Thế Tôn; nếu ta muốn thấy một bậc Thiện Thệ, ta chỉ nên thấy chính Đức Thế Tôn; nếu ta muốn thấy một bậc Chánh Đẳng Giác, ta chỉ nên thấy chính Đức Thế Tôn’. Này hiền giả, ngay tại nơi đó, tôi đã cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn và bạch với Ngài rằng: ‘Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là Đạo Sư của con, con là đệ tử của Ngài; bạch Thế Tôn, Thế Tôn là Đạo Sư của con, con là đệ tử của Ngài’. Này hiền giả, khi tôi nói vậy, Đức Thế Tôn đã nói với tôi điều này: ‘Này Kassapa, người nào đối với một đệ tử có tâm trọn vẹn như vậy, mà không biết lại nói “Ta biết”, không thấy lại nói “Ta thấy”, thì đầu của người ấy sẽ vỡ ra. Nhưng này Kassapa, Ta biết nên Ta nói “Ta biết”, Ta thấy nên Ta nói “Ta thấy”’.
Tasmātiha te, kassapa, evaṁ sikkhitabbaṁ: “tibbaṁ me hirottappaṁ paccupaṭṭhitaṁ bhavissati theresu navesu majjhimesū”ti. Evañhi te, kassapa, sikkhitabbaṁ.
So you should train like this: “I will set up a keen sense of conscience and prudence for seniors, juniors, and those in the middle.” That’s how you should train.
Vì vậy, này Kassapa, ở đây con phải học tập như sau: ‘Lòng tàm quý mãnh liệt của ta sẽ được thiết lập đối với các vị trưởng lão, các vị tân tỳ-kheo, và các vị trung niên’. Này Kassapa, con phải học tập như vậy.
Tasmātiha te, kassapa, evaṁ sikkhitabbaṁ: “yaṁ kiñci dhammaṁ suṇissāmi kusalūpasaṁhitaṁ sabbaṁ taṁ aṭṭhiṁ katvā manasi karitvā sabbacetasā samannāharitvā ohitasoto dhammaṁ suṇissāmī”ti. Evañhi te, kassapa, sikkhitabbaṁ.
And you should train like this: “Whenever I hear a teaching connected with what’s skillful, I will pay attention, apply the mind, concentrate wholeheartedly, and actively listen to that teaching.” That’s how you should train.
Vì vậy, này Kassapa, ở đây con phải học tập như sau: ‘Bất cứ pháp nào liên hệ đến điều thiện mà ta sẽ nghe, ta sẽ lắng nghe tất cả pháp ấy, chú tâm, tác ý, hướng tâm trọn vẹn, lắng tai nghe pháp’. Này Kassapa, con phải học tập như vậy.
Tasmātiha te, kassapa, evaṁ sikkhitabbaṁ: “sātasahagatā ca me kāyagatāsati na vijahissatī”ti. Evañhi te, kassapa, sikkhitabbanti’.
And you should train like this: “I will never neglect mindfulness of the body that is full of pleasure.” That’s how you should train.’
Vì vậy, này Kassapa, ở đây con phải học tập như sau: ‘Niệm thân đi kèm với sự an lạc sẽ không bị ta từ bỏ’. Này Kassapa, con phải học tập như vậy.
Atha kho maṁ, āvuso, bhagavā iminā ovādena ovaditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi. Sattāhameva khvāhaṁ, āvuso, saraṇo raṭṭhapiṇḍaṁ bhuñjiṁ aṭṭhamiyā aññā udapādi.
And when the Buddha had given me this advice he rose from his seat and left. For seven days I ate the nation’s almsfood as a debtor. On the eighth day I became enlightened.
Này hiền giả, bấy giờ, sau khi giáo huấn tôi bằng lời giáo huấn này, Đức Thế Tôn đã đứng dậy từ chỗ ngồi và ra đi. Này hiền giả, trong bảy ngày, tôi đã dùng vật thực khất thực của quốc độ mà vẫn còn phiền não. Vào ngày thứ tám, trí tuệ tối hậu đã khởi lên.
Atha kho, āvuso, bhagavā maggā okkamma yena aññataraṁ rukkhamūlaṁ tenupasaṅkami. Atha khvāhaṁ, āvuso, paṭapilotikānaṁ saṅghāṭiṁ catugguṇaṁ paññapetvā bhagavantaṁ etadavocaṁ: ‘idha, bhante, bhagavā nisīdatu, yaṁ mamassa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā’ti.
Nisīdi kho, āvuso, bhagavā paññatte āsane. Nisajja kho maṁ, āvuso, bhagavā etadavoca: ‘mudukā kho tyāyaṁ, kassapa, paṭapilotikānaṁ saṅghāṭī’ti.
‘Paṭiggaṇhātu me, bhante, bhagavā paṭapilotikānaṁ saṅghāṭiṁ anukampaṁ upādāyā’ti.
‘Dhāressasi pana me tvaṁ, kassapa, sāṇāni paṁsukūlāni nibbasanānī’ti.
‘Dhāressāmahaṁ, bhante, bhagavato sāṇāni paṁsukūlāni nibbasanānī’ti.
So khvāhaṁ, āvuso, paṭapilotikānaṁ saṅghāṭiṁ bhagavato pādāsiṁ. Ahaṁ pana bhagavato sāṇāni paṁsukūlāni nibbasanāni paṭipajjiṁ.
And then the Buddha left the road and went to the root of a certain tree. So I spread out my outer robe of patches folded in four and said to him, ‘Sir, sit here. That would be for my lasting welfare and happiness.’
The Buddha sat down on the seat spread out and said to me, ‘Kassapa, this outer robe of patches is soft.’
‘Sir, please accept my outer robe of patches out of sympathy.’
‘In that case, Kassapa, will you wear my worn-out hempen rag robe?’
‘I will wear it, sir.’
And so I presented my outer robe of patches to the Buddha, and the Buddha presented me with his worn-out hempen rag robe.
Này hiền giả, bấy giờ, Đức Thế Tôn rời khỏi con đường và đi đến gốc của một cây nọ. Này hiền giả, bấy giờ, tôi đã gấp y tăng-già-lê bằng vải vụn làm bốn, trải ra và bạch với Đức Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy ngồi nơi đây, điều đó sẽ mang lại lợi ích và an lạc lâu dài cho con’. Này hiền giả, Đức Thế Tôn đã ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Sau khi ngồi, này hiền giả, Đức Thế Tôn đã nói với tôi điều này: ‘Này Kassapa, y tăng-già-lê bằng vải vụn này của con thật mềm mại’. ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn vì lòng bi mẫn mà nhận lấy y tăng-già-lê bằng vải vụn của con’. ‘Nhưng này Kassapa, con có thể mặc y phấn tảo bằng vải gai đã cũ của ta không?’. ‘Bạch Thế Tôn, con sẽ mặc y phấn tảo bằng vải gai đã cũ của Đức Thế Tôn’. Này hiền giả, tôi đã dâng y tăng-già-lê bằng vải vụn lên Đức Thế Tôn, và tôi đã nhận lấy để mặc y phấn tảo bằng vải gai đã cũ của Đức Thế Tôn.
Yañhi taṁ, āvuso, sammā vadamāno vadeyya: ‘bhagavato putto oraso mukhato jāto dhammajo dhammanimmito dhammadāyādo, paṭiggahitāni sāṇāni paṁsukūlāni nibbasanānī’ti, mamaṁ taṁ sammā vadamāno vadeyya: ‘bhagavato putto oraso mukhato jāto dhammajo dhammanimmito dhammadāyādo, paṭiggahitāni sāṇāni paṁsukūlāni nibbasanānī’ti.
For if anyone should be rightly called the Buddha’s bosom son, born from his mouth, born of the teaching, created by the teaching, heir to the teaching, and receiver of his worn-out hempen rag robes, it’s me.
Này hiền giả, nếu có người muốn nói một cách đúng đắn, người ấy nên nói rằng: ‘Là người con của Đức Thế Tôn, sinh ra từ ngực, sinh ra từ miệng, do Pháp sinh, do Pháp tạo, là người thừa tự Pháp, đã nhận lấy y phấn tảo bằng vải gai đã cũ’. Nếu muốn nói một cách đúng đắn về tôi, người ấy nên nói như vậy: ‘Là người con của Đức Thế Tôn, sinh ra từ ngực, sinh ra từ miệng, do Pháp sinh, do Pháp tạo, là người thừa tự Pháp, đã nhận lấy y phấn tảo bằng vải gai đã cũ’.
Ahaṁ kho, āvuso, yāvade ākaṅkhāmi vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi. Ahaṁ kho, āvuso, yāvade ākaṅkhāmi …pe…
(navannaṁ anupubbavihārasamāpattīnaṁ pañcannañca abhiññānaṁ evaṁ vitthāro veditabbo.)
Whenever I want, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, I enter and remain in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. …
(The nine progressive meditations and the five insights should be told in full.)
Này hiền giả, khi nào tôi muốn, tôi ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh, có tầm có tứ. Này hiền giả, khi nào tôi muốn... (phần lược bỏ nên được hiểu là sự trình bày chi tiết về chín bậc thiền chứng tuần tự và năm loại thắng trí).
Ahaṁ kho, āvuso, āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmi;
sattaratanaṁ vā, āvuso, nāgaṁ aḍḍhaṭṭhamaratanaṁ vā tālapattikāya chādetabbaṁ maññeyya, yo me cha abhiññā chādetabbaṁ maññeyyā”ti.
I have realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And I live having realized it with my own insight in this very life due to the ending of defilements.
Reverend, you might as well think to hide a bull elephant that’s three or three and a half meters tall behind a palm leaf as to hide my six insights.”
Này hiền giả, do đoạn tận các lậu hoặc, tôi đã tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đắc và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu. Này hiền giả, người nào nghĩ rằng có thể che giấu sáu thắng trí của tôi, thì cũng giống như người nghĩ rằng có thể dùng một chiếc lá cọ để che giấu một con voi cao bảy hoặc bảy rưỡi ratana.
Cavittha ca pana thullanandā bhikkhunī brahmacariyamhāti.
Ekādasamaṁ.
But the nun Thullanandā fell from the spiritual life.
Và Tỳ-kheo-ni Thullanandā đã từ bỏ phạm hạnh. (Kinh) thứ mười một.