- Saṁyutta Nikāya 15.1
- 1. Paṭhamavagga
Tiṇakaṭṭhasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Tiṇakaṭṭhasutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 3 Thế Tôn nói như sau:
—Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
Vi-n 4 Ví như, này các Tỷ-kheo, có người chặt các cành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá, trong cõi Diêm-phù-đề này, chất chúng thành một đống, làm chúng thành những que đặt theo hình các ô vuông, cầm từng que đặt xuống và nói: “Ðây là mẹ tôi, đây là mẹ của mẹ tôi”. Và không thể cùng tận, này các Tỷ-kheo, là các bà mẹ, mẹ của người ấy. Nhưng nhành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá trong cõi Diêm-phù-đề này có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt.
Vi-n 5 Vì sao? Vô thỉ là luân hồi, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
Vi-n 6 Cũng vậy, đã lâu ngày, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên.
Vi-n 7 Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Cỏ và Củi.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
124. Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Tại đó, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: 'Này các Tỳ khưu'. 'Bạch Thế Tôn', các Tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:
“Anamataggoyaṁ, bhikkhave, saṁsāro. Pubbā koṭi na paññāyati avijjānīvaraṇānaṁ sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ sandhāvataṁ saṁsarataṁ. Seyyathāpi, bhikkhave, puriso yaṁ imasmiṁ jambudīpe tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ taṁ chetvā ekajjhaṁ saṁharitvā caturaṅgulaṁ caturaṅgulaṁ ghaṭikaṁ katvā nikkhipeyya: ‘ayaṁ me mātā, tassā me mātu ayaṁ mātā’ti, apariyādinnāva, bhikkhave, tassa purisassa mātumātaro assu, atha imasmiṁ jambudīpe tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ parikkhayaṁ pariyādānaṁ gaccheyya.
Taṁ kissa hetu? Anamataggoyaṁ, bhikkhave, saṁsāro. Pubbā koṭi na paññāyati avijjānīvaraṇānaṁ sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ sandhāvataṁ saṁsarataṁ. Evaṁ dīgharattaṁ vo, bhikkhave, dukkhaṁ paccanubhūtaṁ tibbaṁ paccanubhūtaṁ byasanaṁ paccanubhūtaṁ, kaṭasī vaḍḍhitā. Yāvañcidaṁ, bhikkhave, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṁ alaṁ virajjituṁ alaṁ vimuccitun”ti.
Paṭhamaṁ.
“Mendicants, this transmigration has no known beginning. No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving. Suppose a person was to strip all the grass, sticks, branches, and leaves in the Black Plum Tree Land, gather them together into one pile, and chop them each into four inch pieces. They’d lay them down, saying: ‘This is my mother, this is my grandmother.’ The grass, sticks, branches, and leaves of the Black Plum Tree Land would run out before that person’s mothers and grandmothers.
Why is that? This transmigration has no known beginning. No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving. For such a long time you have undergone suffering, agony, and disaster, swelling the cemeteries. This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.”
Này các Tỳ khưu, vòng luân hồi này là vô thỉ. Điểm khởi đầu không thể nhận biết đối với các chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái trói buộc, đang lang thang, lưu chuyển. Này các Tỳ khưu, ví như một người đàn ông, sau khi chặt tất cả cỏ, củi, cành, lá ở cõi Jambudīpa này, gom lại một chỗ, làm thành những khúc nhỏ dài bốn ngón tay rồi đặt xuống và nói: 'Đây là mẹ của ta, đây là mẹ của mẹ ta', này các Tỳ khưu, các bà mẹ của mẹ người đàn ông ấy vẫn chưa hết, trong khi cỏ, củi, cành, lá ở cõi Jambudīpa này đã đi đến chỗ tận diệt, cạn kiệt. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, vì vòng luân hồi này là vô thỉ. Điểm khởi đầu không thể nhận biết đối với các chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái trói buộc, đang lang thang, lưu chuyển. Này các Tỳ khưu, trong một thời gian dài như vậy, các con đã trải qua khổ, đã trải qua sự đau đớn, đã trải qua tai họa, đã làm cho nghĩa địa lớn thêm. Này các Tỳ khưu, chừng ấy là đủ để nhàm chán đối với tất cả các pháp hữu vi, đủ để ly tham, đủ để giải thoát. (Kinh) thứ nhất.