- Saṁyutta Nikāya 14.31
- 4. Catutthavagga
Bản dịch
SN 14.31 — Kinh Trước Khi Giác Ngộ
Pubbesambodhasutta
Vi-n 1 Trú ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa thành Chánh Ðẳng Giác, khi Ta còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau:
Vi-n 3 “Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của địa giới? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của thủy giới? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của hỏa giới? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của phong giới?”
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau:
Vi-n 5 “Lạc gì, hỷ gì khởi lên do duyên địa giới, đó là vị ngọt của địa giới. Cái gì vô thường, khổ, biến hoại của địa giới, đó là nguy hiểm của địa giới. Sự nhiếp phục dục và tham (chandaràga), sự đoạn tận dục và tham là sự xuất ly của địa giới”.
Vi-n 6 “Lạc gì, hỷ gì khởi lên do duyên thủy giới…”.
Vi-n 7 “Lạc gì, hỷ gì khởi lên do duyên hỏa giới…”.
Vi-n 8 “Lạc gì, hỷ gì khởi lên do duyên phong giới, đó là vị ngọt của phong giới. Cái gì vô thường, khổ, biến hoại của phong giới, đó là nguy hiểm của phong giới. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham là sự xuất ly của phong giới”.
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào đối với bốn giới này Ta chưa như thực thắng tri (abbhannàsim) như vậy vị ngọt là vị ngọt, như vậy nguy hiểm là nguy hiểm, như vậy xuất ly là xuất ly; thời cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta chưa được chứng ngộ, chưa chứng tri vô thượng Chánh Ðẳng Giác, đối với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới và đối với chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người.
Vi-n 10 Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào đối với bốn giới này, Ta như thật thắng tri như vậy vị ngọt là vị ngọt, như vậy nguy hiểm là nguy hiểm, như vậy xuất ly là xuất ly; thời này các Tỷ-kheo, Ta đã chứng ngộ, đã chứng tri vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới và đối với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người.
Vi-n 11 Tri và kiến đã khởi lên ở nơi Ta: “Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðời sống này là tối hậu, nay không còn tái sanh nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 14.31
- 4. Chapter Four
Before Awakening
2. 2. Kinh Trước Khi Giác Ngộ
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Pubbeva me, bhikkhave, sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato etadahosi: ‘ko nu kho pathavīdhātuyā assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇaṁ; ko āpodhātuyā assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇaṁ; ko tejodhātuyā assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇaṁ; ko vāyodhātuyā assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇan’ti?
At Sāvatthī.
“Mendicants, before my awakening—when I was still unawakened but intent on awakening—I thought: ‘What’s the gratification, the drawback, and the escape when it comes to the earth element … the water element … the fire element … and the air element?’
115. Tại Sāvatthī... Này các Tỷ kheo, trước khi giác ngộ, khi chưa chứng ngộ, trong khi còn là Bồ-tát, Ta đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Vị ngọt của địa giới là gì, sự nguy hại là gì, sự xuất ly là gì? Vị ngọt của thủy giới là gì, sự nguy hại là gì, sự xuất ly là gì? Vị ngọt của hỏa giới là gì, sự nguy hại là gì, sự xuất ly là gì? Vị ngọt của phong giới là gì, sự nguy hại là gì, sự xuất ly là gì?’
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘yaṁ kho pathavīdhātuṁ paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ, ayaṁ pathavīdhātuyā assādo; yaṁ pathavīdhātu aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā, ayaṁ pathavīdhātuyā ādīnavo; yo pathavīdhātuyā chandarāgavinayo chandarāgappahānaṁ, idaṁ pathavīdhātuyā nissaraṇaṁ. Yaṁ āpodhātuṁ paṭicca …pe… yaṁ tejodhātuṁ paṭicca …pe… yaṁ vāyodhātuṁ paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ, ayaṁ vāyodhātuyā assādo; yaṁ vāyodhātu aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā, ayaṁ vāyodhātuyā ādīnavo; yo vāyodhātuyā chandarāgavinayo chandarāgappahānaṁ, idaṁ vāyodhātuyā nissaraṇaṁ’.
Then it occurred to me: ‘The pleasure and happiness that arise from the earth element: this is its gratification. That the earth element is impermanent, suffering, and perishable: this is its drawback. Removing and giving up desire and greed for the earth element: this is its escape. The pleasure and happiness that arise from the water element … The pleasure and happiness that arise from the fire element … The pleasure and happiness that arise from the air element: this is its gratification. That the air element is impermanent, suffering, and perishable: this is its drawback. Removing and giving up desire and greed for the air element: this is its escape.’
“Này các Tỳ khưu, Ta đã có suy nghĩ này: ‘Do duyên địa đại mà lạc và hỷ sanh khởi, đây là vị ngọt của địa đại; địa đại là vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, đây là sự nguy hại của địa đại; sự điều phục dục tham, sự đoạn trừ dục tham đối với địa đại, đây là sự xuất ly khỏi địa đại. Do duyên thủy đại... ... Do duyên hỏa đại... ... Do duyên phong đại mà lạc và hỷ sanh khởi, đây là vị ngọt của phong đại; phong đại là vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, đây là sự nguy hại của phong đại; sự điều phục dục tham, sự đoạn trừ dục tham đối với phong đại, đây là sự xuất ly khỏi phong đại’.”
Yāvakīvañcāhaṁ, bhikkhave, imāsaṁ catunnaṁ dhātūnaṁ evaṁ assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṁ na abbhaññāsiṁ, neva tāvāhaṁ, bhikkhave, sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddhoti paccaññāsiṁ.
As long as I didn’t truly understand these four elements’ gratification, drawback, and escape in this way for what they are, I didn’t announce my supreme perfect awakening in this world with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans.
“Này các Tỳ khưu, chừng nào Ta chưa thắng tri như thật về bốn đại này như vầy: vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, sự xuất ly là sự xuất ly, thì chừng ấy, này các Tỳ khưu, trong thế giới cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, trong chúng sanh cùng với Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, Ta chưa xác nhận đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Giác.
Yato ca khvāhaṁ, bhikkhave, imāsaṁ catunnaṁ dhātūnaṁ evaṁ assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, athāhaṁ, bhikkhave, sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddhoti paccaññāsiṁ.
Ñāṇañca pana me dassanaṁ udapādi:
But when I did truly understand these four elements’ gratification, drawback, and escape in this way for what they are, I announced my supreme perfect awakening in this world with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans.
Knowledge and vision arose in me:
“Và khi nào, này các Tỳ khưu, Ta đã thắng tri như thật về bốn đại này như vầy: vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, sự xuất ly là sự xuất ly, bấy giờ, này các Tỳ khưu, trong thế giới cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, trong chúng sanh cùng với Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, Ta xác nhận đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Và tri kiến đã sanh khởi nơi Ta: ‘Tâm giải thoát của Ta là bất động, đây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa.’” (Kinh thứ hai).
Dutiyaṁ.
“Và khi nào, này các Tỳ khưu, Ta đã thắng tri như thật về bốn đại này: vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, sự xuất ly là sự xuất ly, bấy giờ, này các Tỳ khưu, trong thế giới cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, trong chúng sanh cùng với Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, Ta xác nhận đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Và tri kiến đã sanh khởi nơi Ta: ‘Tâm giải thoát của Ta là bất động, đây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa.’” (Kinh thứ ba).