- Saṁyutta Nikāya 12.64
- 7. Mahāvagga
Bản dịch
SN 12.64 — Atthirāgasutta
Atthirāgasutta
Vi-n 1 Trú ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồ ăn đưa đến sự tồn tại hay sự chấp thủ tái sanh của các loài hữu tình hay các loài chúng sanh.
Vi-n 3 Thế nào là bốn? Ðoàn thực thô hoặc tế, xúc thực là thứ hai, tư niệm thực là thứ ba, thức thực là thứ tư.
Này các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay các loài chúng sanh.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực, có tham, có hỷ, có ái, thời có thức được an trú, tăng trưởng. Chỗ nào thức được an trú, tăng trưởng, chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng. Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy hữu được tái sanh trong tương lai. Chỗ nào hữu được tái sanh trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có khổ, có não.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, nếu đối với xúc thực… (như trên)…
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, nếu đối với tư niệm thực…
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, nếu đối với thức thực, có tham, có hỷ, có ái, thời có thức được an trú, tăng trưởng. Chỗ nào có thức được an trú, tăng trưởng, chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng. Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy hữu được tái sanh trong tương lai. Chỗ nào hữu được tái sanh trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có khổ, có não.
Vi-n 8 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ nhuộm hay một người thợ vẽ. Nếu có thuốc nhuộm hay sơn màu nghệ, màu xanh, hay màu đỏ, có một tấm bảng khéo đánh bóng, một bức tường hay tấm vải, có thể phác họa hình người đàn bà hay người đàn ông có đầy đủ chân tay.
Vi-n 9 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực, có tham, có hỷ, có ái, thời có thức an trú, tăng trưởng. Chỗ nào có thức an trú, tăng trưởng chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng. Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có khổ, có não.
Vi-n 10 Này các Tỷ-kheo, nếu đối với xúc thực…
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, nếu đối với niệm thực…
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, nếu đối với thức thực, có tham, có hỷ, có ái, thời có thức an trú, tăng trưởng. Chỗ nào có thức an trú, tăng trưởng, chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng. Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già, chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có khổ, có não.
Vi-n 13 Này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực không có tham, không có hỷ, không có ái, thời không có thức an trú, tăng trưởng. Chỗ nào không có thức an trú, tăng trưởng, chỗ ấy không có danh sắc sanh. Chỗ nào không có danh sắc sanh, chỗ ấy không có các hành tăng trưởng. Chỗ nào không có các hành tăng trưởng, chỗ ấy không có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào không có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy không có sanh, già, chết trong tương lai. Chỗ nào không có sanh, già, chết trong tương lai, Ta nói rằng chỗ ấy không có sầu, không có khổ, không có não.
Vi-n 14 Này các Tỷ-kheo, nếu đối với xúc thực…
Vi-n 15 Này các Tỷ-kheo, nếu đối với tư niệm thực …
Vi-n 16 Này các Tỷ-kheo, nếu đối với thức thực, không có tham, không có hỷ, không có ái, thời không có thức an trú, tăng trưởng. Chỗ nào không có thức an trú, tăng trưởng, chỗ ấy không có danh sắc sanh. Chỗ nào không có danh sắc sanh, chỗ ấy không có các hành tăng trưởng. Chỗ nào không có các hành tăng trưởng, chỗ ấy không có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào không có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy không có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào không có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói rằng chỗ ấy không có sầu, không có khổ, không có não.
Vi-n 17 Ví như, này các Tỷ-kheo, một ngôi nhà có mái hay một dãy hành lang có mái, có cửa sổ phía Bắc, phía Nam, hay phía Ðông. Khi mặt trời mọc lên, ánh sáng ngang qua cửa sổ chiếu vào, thời chiếu vào chỗ nào?
—Bạch Thế Tôn, chiếu vào tường phía Tây.
Vi-n 18 —Này các Tỷ-kheo, nếu không có tường phía Tây, thời chiếu vào chỗ nào?
—Bạch Thế Tôn, chiếu trên đất.
Vi-n 19 —Này các Tỷ-kheo, nếu không có đất, thời chiếu vào chỗ nào?
—Bạch Thế Tôn, chiếu trên nước.
Vi-n 20 —Này các Tỷ-kheo, nếu không có nước, thời chiếu vào chỗ nào?
—Bạch Thế Tôn, không có chiếu ở đâu cả.
Vi-n 21 —Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực không có tham, không có hỷ, không có ái…
Vi-n 22 Này các Tỷ-kheo, nếu đối với xúc thực…
Vi-n 23 Này các Tỷ-kheo, nếu đối với tư niệm thực…
Vi-n 24 Này các Tỷ-kheo, nếu đối với thức thực, không có tham, không có hỷ, không có ái, thời không có thức an trú. Chỗ nào không có thức an trú, chỗ ấy không có danh sắc sanh. Chỗ nào không có danh sắc sanh, chỗ ấy không có các hành tăng trưởng. Chỗ nào không có các hành tăng trưởng, chỗ ấy không có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào không có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy không có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào không có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói rằng chỗ ấy không có sầu, không có khổ, không có não.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 12.64
- 7. The Great Chapter
If There is Desire
4. Kinh Atthi Rāga
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Cattārome, bhikkhave, āhārā bhūtānaṁ vā sattānaṁ ṭhitiyā sambhavesīnaṁ vā anuggahāya. Katame cattāro? Kabaḷīkāro āhāro oḷāriko vā sukhumo vā, phasso dutiyo, manosañcetanā tatiyā, viññāṇaṁ catutthaṁ. Ime kho, bhikkhave, cattāro āhārā bhūtānaṁ vā sattānaṁ ṭhitiyā sambhavesīnaṁ vā anuggahāya.
At Sāvatthī.
“Mendicants, these four fuels maintain sentient beings that have been born and help those about to be born. What four? Edible food, whether solid or subtle; contact is the second, mental intention the third, and consciousness the fourth. These are the four fuels that maintain sentient beings that have been born and help those about to be born.
64. Trú ở Sāvatthī... Này các Tỳ khưu, có bốn loại thực phẩm này để duy trì các chúng sanh đã sanh, hoặc để hỗ trợ các chúng sanh đang tìm cầu sự sanh. Bốn loại nào? Đoàn thực, hoặc thô hoặc tế; xúc thực là thứ hai; tư niệm thực là thứ ba; thức thực là thứ tư. Này các Tỳ khưu, chính bốn loại thực phẩm này để duy trì các chúng sanh đã sanh, hoặc để hỗ trợ các chúng sanh đang tìm cầu sự sanh.
Kabaḷīkāre ce, bhikkhave, āhāre atthi rāgo atthi nandī atthi taṇhā, patiṭṭhitaṁ tattha viññāṇaṁ virūḷhaṁ. Yattha patiṭṭhitaṁ viññāṇaṁ virūḷhaṁ, atthi tattha nāmarūpassa avakkanti. Yattha atthi nāmarūpassa avakkanti, atthi tattha saṅkhārānaṁ vuddhi. Yattha atthi saṅkhārānaṁ vuddhi, atthi tattha āyatiṁ punabbhavābhinibbatti. Yattha atthi āyatiṁ punabbhavābhinibbatti, atthi tattha āyatiṁ jātijarāmaraṇaṁ. Yattha atthi āyatiṁ jātijarāmaraṇaṁ, sasokaṁ taṁ, bhikkhave, sadaraṁ saupāyāsanti vadāmi.
If there is desire, relishing, and craving for edible food, consciousness becomes established there and grows. Where consciousness is established and grows, name and form are conceived. Where name and form are conceived, there is the growth of choices. Where choices grow, there is regeneration into a new state of existence in the future. Where there is regeneration into a new state of existence in the future, there is rebirth, old age, and death in the future. Where there is rebirth, old age, and death in the future, I say this is full of sorrow, anguish, and distress.
“Này các Tỳ khưu, nếu có tham, có hỷ, có ái đối với đoàn thực, thì thức được an trú và tăng trưởng ở đó. Nơi nào thức được an trú và tăng trưởng, nơi đó có sự đi xuống của danh sắc. Nơi nào có sự đi xuống của danh sắc, nơi đó có sự tăng trưởng của các hành. Nơi nào có sự tăng trưởng của các hành, nơi đó có sự tái sanh trong tương lai. Nơi nào có sự tái sanh trong tương lai, nơi đó có sanh, già, chết trong tương lai. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng nơi nào có sanh, già, chết trong tương lai, nơi đó có sầu, có bi, có khổ não.
Phasse ce, bhikkhave, āhāre …pe… manosañcetanāya ce, bhikkhave, āhāre … viññāṇe ce, bhikkhave, āhāre atthi rāgo atthi nandī atthi taṇhā, patiṭṭhitaṁ tattha viññāṇaṁ virūḷhaṁ. Yattha patiṭṭhitaṁ viññāṇaṁ virūḷhaṁ, atthi tattha nāmarūpassa avakkanti. Yattha atthi nāmarūpassa avakkanti, atthi tattha saṅkhārānaṁ vuddhi. Yattha atthi saṅkhārānaṁ vuddhi, atthi tattha āyatiṁ punabbhavābhinibbatti. Yattha atthi āyatiṁ punabbhavābhinibbatti, atthi tattha āyatiṁ jātijarāmaraṇaṁ. Yattha atthi āyatiṁ jātijarāmaraṇaṁ, sasokaṁ taṁ, bhikkhave, sadaraṁ saupāyāsanti vadāmi.
If there is desire, relishing, and craving for contact as fuel … If there is desire, relishing, and craving for mental intention as fuel … If there is desire, relishing, and craving for consciousness as fuel, consciousness becomes established there and grows. Where consciousness is established and grows, name and form are conceived. Where name and form are conceived, there is the growth of choices. Where choices grow, there is regeneration into a new state of existence in the future. Where there is regeneration into a new state of existence in the future, there is rebirth, old age, and death in the future. Where there is rebirth, old age, and death in the future, I say this is full of sorrow, anguish, and distress.
“Này các Tỳ khưu, nếu có ... đối với xúc thực ... Này các Tỳ khưu, nếu có ... đối với tư niệm thực ... Này các Tỳ khưu, nếu có tham, có hỷ, có ái đối với thức thực, thì thức được an trú và tăng trưởng ở đó. Nơi nào thức được an trú và tăng trưởng, nơi đó có sự đi xuống của danh sắc. Nơi nào có sự đi xuống của danh sắc, nơi đó có sự tăng trưởng của các hành. Nơi nào có sự tăng trưởng của các hành, nơi đó có sự tái sanh trong tương lai. Nơi nào có sự tái sanh trong tương lai, nơi đó có sanh, già, chết trong tương lai. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng nơi nào có sanh, già, chết trong tương lai, nơi đó có sầu, có bi, có khổ não.
Seyyathāpi, bhikkhave, rajako vā cittakārako vā sati rajanāya vā lākhāya vā haliddiyā vā nīliyā vā mañjiṭṭhāya vā suparimaṭṭhe vā phalake bhittiyā vā dussapaṭṭe vā itthirūpaṁ vā purisarūpaṁ vā abhinimmineyya sabbaṅgapaccaṅgaṁ;
evameva kho, bhikkhave, kabaḷīkāre ce āhāre atthi rāgo atthi nandī atthi taṇhā, patiṭṭhitaṁ tattha viññāṇaṁ virūḷhaṁ. Yattha patiṭṭhitaṁ viññāṇaṁ virūḷhaṁ, atthi tattha nāmarūpassa avakkanti. Yattha atthi nāmarūpassa avakkanti, atthi tattha saṅkhārānaṁ vuddhi. Yattha atthi saṅkhārānaṁ vuddhi, atthi tattha āyatiṁ punabbhavābhinibbatti. Yattha atthi āyatiṁ punabbhavābhinibbatti, atthi tattha āyatiṁ jātijarāmaraṇaṁ. Yattha atthi āyatiṁ jātijarāmaraṇaṁ, sasokaṁ taṁ, bhikkhave, sadaraṁ saupāyāsanti vadāmi.
Suppose an artist or painter had some dye, red lac, turmeric, indigo, or rose madder. And on a polished plank or a wall or a canvas they’d create the form of a woman or a man, whole in its major and minor limbs.
In the same way, if there is desire, relishing, and craving for edible food, consciousness becomes established there and grows. Where consciousness is established and grows, name and form are conceived. Where name and form are conceived, there is the growth of choices. Where choices grow, there is regeneration into a new state of existence in the future. Where there is regeneration into a new state of existence in the future, there is rebirth, old age, and death in the future. Where there is rebirth, old age, and death in the future, I say this is full of sorrow, anguish, and distress.
“Này các Tỳ khưu, ví như một người thợ nhuộm hoặc một họa sĩ, khi có thuốc nhuộm, hoặc cánh kiến, hoặc nghệ, hoặc chàm, hoặc màu đỏ son, có thể tạo ra hình một người nữ hoặc hình một người nam với đầy đủ các chi phần lớn nhỏ trên một tấm bảng được đánh bóng kỹ, hoặc trên tường, hoặc trên một tấm vải; cũng vậy, này các Tỳ khưu, nếu có tham, có hỷ, có ái đối với đoàn thực, thì thức được an trú và tăng trưởng ở đó. Nơi nào thức được an trú và tăng trưởng, nơi đó có sự đi xuống của danh sắc. Nơi nào có sự đi xuống của danh sắc, nơi đó có sự tăng trưởng của các hành. Nơi nào có sự tăng trưởng của các hành, nơi đó có sự tái sanh trong tương lai. Nơi nào có sự tái sanh trong tương lai, nơi đó có sanh, già, chết trong tương lai. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng nơi nào có sanh, già, chết trong tương lai, nơi đó có sầu, có bi, có khổ não.
Phasse ce, bhikkhave, āhāre …pe… manosañcetanāya ce, bhikkhave, āhāre … viññāṇe ce, bhikkhave, āhāre atthi rāgo atthi nandī atthi taṇhā, patiṭṭhitaṁ tattha viññāṇaṁ virūḷhaṁ. Yattha patiṭṭhitaṁ viññāṇaṁ virūḷhaṁ, atthi tattha nāmarūpassa avakkanti. Yattha atthi nāmarūpassa avakkanti, atthi tattha saṅkhārānaṁ vuddhi. Yattha atthi saṅkhārānaṁ vuddhi, atthi tattha āyatiṁ punabbhavābhinibbatti. Yattha atthi āyatiṁ punabbhavābhinibbatti, atthi tattha āyatiṁ jātijarāmaraṇaṁ. Yattha atthi āyatiṁ jātijarāmaraṇaṁ, sasokaṁ taṁ, bhikkhave, sadaraṁ saupāyāsanti vadāmi.
If there is desire, relishing, and craving for contact as fuel … If there is desire, relishing, and craving for mental intention as fuel … If there is desire, relishing, and craving for consciousness as fuel, consciousness becomes established there and grows. Where consciousness is established and grows, name and form are conceived. Where name and form are conceived, there is the growth of choices. Where choices grow, there is regeneration into a new state of existence in the future. Where there is regeneration into a new state of existence in the future, there is rebirth, old age, and death in the future. Where there is rebirth, old age, and death in the future, I say this is full of sorrow, anguish, and distress.
“Này các Tỳ khưu, nếu có ... đối với xúc thực ... Này các Tỳ khưu, nếu có ... đối với tư niệm thực ... Này các Tỳ khưu, nếu có tham, có hỷ, có ái đối với thức thực, thì thức được an trú và tăng trưởng ở đó. Nơi nào thức được an trú và tăng trưởng, nơi đó có sự đi xuống của danh sắc. Nơi nào có sự đi xuống của danh sắc, nơi đó có sự tăng trưởng của các hành. Nơi nào có sự tăng trưởng của các hành, nơi đó có sự tái sanh trong tương lai. Nơi nào có sự tái sanh trong tương lai, nơi đó có sanh, già, chết trong tương lai. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng nơi nào có sanh, già, chết trong tương lai, nơi đó có sầu, có bi, có khổ não.
Kabaḷīkāre ce, bhikkhave, āhāre natthi rāgo natthi nandī natthi taṇhā, appatiṭṭhitaṁ tattha viññāṇaṁ avirūḷhaṁ. Yattha appatiṭṭhitaṁ viññāṇaṁ avirūḷhaṁ, natthi tattha nāmarūpassa avakkanti. Yattha natthi nāmarūpassa avakkanti, natthi tattha saṅkhārānaṁ vuddhi. Yattha natthi saṅkhārānaṁ vuddhi, natthi tattha āyatiṁ punabbhavābhinibbatti. Yattha natthi āyatiṁ punabbhavābhinibbatti, natthi tattha āyatiṁ jātijarāmaraṇaṁ. Yattha natthi āyatiṁ jātijarāmaraṇaṁ, asokaṁ taṁ, bhikkhave, adaraṁ anupāyāsanti vadāmi.
If there is no desire, relishing, and craving for edible food, consciousness does not become established there and doesn’t grow. Where consciousness is not established and doesn’t grow, name and form are not conceived. Where name and form are not conceived, there is no growth of choices. Where choices don’t grow, there is no regeneration into a new state of existence in the future. Where there is no regeneration into a new state of existence in the future, there is no rebirth, old age, and death in the future. Where there is no rebirth, old age, and death in the future, I say there’s no sorrow, anguish, and distress.
Này các tỳ khưu, nếu đối với đoàn thực không có tham, không có hỷ, không có ái, thì ở đó thức không được an trú, không được tăng trưởng. Nơi nào thức không được an trú, không được tăng trưởng, thì ở đó không có sự đi vào của danh sắc. Nơi nào không có sự đi vào của danh sắc, thì ở đó không có sự tăng trưởng của các hành. Nơi nào không có sự tăng trưởng của các hành, thì ở đó không có sự tái sanh trong đời sau. Nơi nào không có sự tái sanh trong đời sau, thì ở đó không có sanh, già, chết trong đời sau. Này các tỳ khưu, nơi nào không có sanh, già, chết trong đời sau, Ta nói rằng nơi ấy không sầu, không muộn, không phiền.
Phasse ce, bhikkhave, āhāre …pe… manosañcetanāya ce, bhikkhave, āhāre … viññāṇe ce, bhikkhave, āhāre natthi rāgo natthi nandī natthi taṇhā, appatiṭṭhitaṁ tattha viññāṇaṁ avirūḷhaṁ. Yattha appatiṭṭhitaṁ viññāṇaṁ avirūḷhaṁ, natthi tattha nāmarūpassa avakkanti. Yattha natthi nāmarūpassa avakkanti, natthi tattha saṅkhārānaṁ vuddhi. Yattha natthi saṅkhārānaṁ vuddhi, natthi tattha āyatiṁ punabbhavābhinibbatti. Yattha natthi āyatiṁ punabbhavābhinibbatti, natthi tattha āyatiṁ jātijarāmaraṇaṁ. Yattha natthi āyatiṁ jātijarāmaraṇaṁ, asokaṁ taṁ, bhikkhave, adaraṁ anupāyāsanti vadāmi.
If there is no desire, relishing, and craving for contact as fuel … If there is no desire, relishing, and craving for mental intention as fuel … If there is no desire, relishing, and craving for consciousness as fuel, consciousness doesn’t become established there and doesn’t grow. Where consciousness is not established and doesn’t grow, name and form are not conceived. Where name and form are not conceived, there is no growth of choices. Where choices don’t grow, there is no regeneration into a new state of existence in the future. Where there is no regeneration into a new state of existence in the future, there is no rebirth, old age, and death in the future. Where there is no rebirth, old age, and death in the future, I say there’s no sorrow, anguish, and distress.
Này các tỳ khưu, nếu đối với xúc thực... v.v... Này các tỳ khưu, nếu đối với tư niệm thực... Này các tỳ khưu, nếu đối với thức thực không có tham, không có hỷ, không có ái, thì ở đó thức không được an trú, không được tăng trưởng. Nơi nào thức không được an trú, không được tăng trưởng, thì ở đó không có sự đi vào của danh sắc. Nơi nào không có sự đi vào của danh sắc, thì ở đó không có sự tăng trưởng của các hành. Nơi nào không có sự tăng trưởng của các hành, thì ở đó không có sự tái sanh trong đời sau. Nơi nào không có sự tái sanh trong đời sau, thì ở đó không có sanh, già, chết trong đời sau. Nơi nào không có sanh, già, chết trong đời sau, Ta nói rằng nơi ấy không sầu, không muộn, không phiền.
Seyyathāpi, bhikkhave, kūṭāgāraṁ vā kūṭāgārasālaṁ vā uttarāya vā dakkhiṇāya vā pācīnāya vā vātapānā sūriye uggacchante vātapānena rasmi pavisitvā kvāssa patiṭṭhitā”ti?
“Pacchimāyaṁ, bhante, bhittiyan”ti.
“Pacchimā ce, bhikkhave, bhitti nāssa kvāssa patiṭṭhitā”ti?
“Pathaviyaṁ, bhante”ti.
“Pathavī ce, bhikkhave, nāssa kvāssa patiṭṭhitā”ti?
“Āpasmiṁ, bhante”ti.
“Āpo ce, bhikkhave, nāssa kvāssa patiṭṭhitā”ti?
“Appatiṭṭhitā, bhante”ti.
“Evameva kho, bhikkhave, kabaḷīkāre ce āhāre natthi rāgo natthi nandī natthi taṇhā …pe….
Suppose there was a bungalow or a hall with a peaked roof, with windows on the northern, southern, or eastern side. When the sun rises and a ray of light enters through a window, where would it land?”
“On the western wall, sir.”
“If there was no western wall, where would it land?”
“On the ground, sir.”
“If there was no ground, where would it land?”
“In water, sir.”
“If there was no water, where would it land?”
“It wouldn’t land, sir.”
“In the same way, if there is no desire, relishing, and craving for edible food, consciousness does not become established there and doesn’t grow. …
Này các tỳ khưu, ví như một ngôi nhà có nóc nhọn hoặc một gian sảnh có nóc nhọn, có cửa sổ ở phía bắc, hoặc phía nam, hoặc phía đông. Khi mặt trời mọc, tia sáng đi vào qua cửa sổ sẽ được an trú ở đâu? – Bạch Thế Tôn, nó sẽ được an trú ở bức tường phía tây. – Này các tỳ khưu, nếu không có bức tường phía tây, nó sẽ được an trú ở đâu? – Bạch Thế Tôn, nó sẽ được an trú ở trên đất. – Này các tỳ khưu, nếu không có đất, nó sẽ được an trú ở đâu? – Bạch Thế Tôn, nó sẽ được an trú ở trong nước. – Này các tỳ khưu, nếu không có nước, nó sẽ được an trú ở đâu? – Bạch Thế Tôn, nó sẽ không có chỗ an trú. – Cũng vậy, này các tỳ khưu, nếu đối với đoàn thực không có tham, không có hỷ, không có ái... v.v...
Phasse ce, bhikkhave, āhāre … manosañcetanāya ce, bhikkhave, āhāre … viññāṇe ce, bhikkhave, āhāre natthi rāgo natthi nandī natthi taṇhā, appatiṭṭhitaṁ tattha viññāṇaṁ avirūḷhaṁ. Yattha appatiṭṭhitaṁ viññāṇaṁ avirūḷhaṁ, natthi tattha nāmarūpassa avakkanti. Yattha natthi nāmarūpassa avakkanti, natthi tattha saṅkhārānaṁ vuddhi. Yattha natthi saṅkhārānaṁ vuddhi, natthi tattha āyatiṁ punabbhavābhinibbatti. Yattha natthi āyatiṁ punabbhavābhinibbatti, natthi tattha āyatiṁ jātijarāmaraṇaṁ. Yattha natthi āyatiṁ jātijarāmaraṇaṁ asokaṁ taṁ, bhikkhave, adaraṁ anupāyāsanti vadāmī”ti.
Catutthaṁ.
If there is no desire, relishing, and craving for contact as fuel … If there is no desire, relishing, and craving for mental intention as fuel … If there is no desire, relishing, and craving for consciousness as fuel, consciousness doesn’t become established there and doesn’t grow. Where consciousness is not established and doesn’t grow, name and form are not conceived. Where name and form are not conceived, there is no growth of choices. Where choices don’t grow, there is no regeneration into a new state of existence in the future. Where there is no regeneration into a new state of existence in the future, there is no rebirth, old age, and death in the future. Where there is no rebirth, old age, and death in the future, I say there’s no sorrow, anguish, and distress.”
Này các tỳ khưu, nếu đối với xúc thực... Này các tỳ khưu, nếu đối với tư niệm thực... Này các tỳ khưu, nếu đối với thức thực không có tham, không có hỷ, không có ái, thì ở đó thức không được an trú, không được tăng trưởng. Nơi nào thức không được an trú, không được tăng trưởng, thì ở đó không có sự đi vào của danh sắc. Nơi nào không có sự đi vào của danh sắc, thì ở đó không có sự tăng trưởng của các hành. Nơi nào không có sự tăng trưởng của các hành, thì ở đó không có sự tái sanh trong đời sau. Nơi nào không có sự tái sanh trong đời sau, thì ở đó không có sanh, già, chết trong đời sau. Nơi nào không có sanh, già, chết trong đời sau, Ta nói rằng nơi ấy không sầu, không muộn, không phiền. (Kinh) thứ tư.