- Saṁyutta Nikāya 12.39
- 4. Kaḷārakhattiyavagga
Bản dịch
SN 12.39 — Kinh Tác Ý Thứ Hai
Dutiyacetanāsutta
Vi-n 1 Trú ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, cái gì chúng ta tư niệm, chúng ta tư lường, chúng ta có thầm ý, cái ấy trở thành (sở duyên) cho thức an trú. Do sở duyên có mặt nên thức có an trú. Do thức ấy an trú và tăng trưởng nên có sự hạ sanh danh sắc.
Vi-n 3 Do duyên danh sắc nên có sáu xứ. Do duyên sáu xứ nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ… ái… thủ… hữu… sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, nếu chúng ta không tư niệm, không tư lường nhưng có thầm ý, thời cái ấy trở thành sở duyên cho thức an trú. Do sở duyên có mặt nên thức có an trú. Do thức ấy an trú và tăng trưởng nên có sự hạ sanh danh sắc.
Vi-n 5 Do duyên danh sắc nên có sáu xứ… như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, nếu chúng ta không tư niệm, không tư lường, không có thầm ý, thời không có sở duyên cho thức an trú. Do sở duyên không có mặt nên thức không an trú. Do thức ấy không an trú và không tăng trưởng nên danh sắc không hạ sanh. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt… như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 12.39
- 4. Kaḷāra the Aristocrat
Intention (2nd)
9. Kinh Tác Ý Thứ Hai
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Yañca, bhikkhave, ceteti yañca pakappeti yañca anuseti, ārammaṇametaṁ hoti viññāṇassa ṭhitiyā. Ārammaṇe sati patiṭṭhā viññāṇassa hoti. Tasmiṁ patiṭṭhite viññāṇe virūḷhe nāmarūpassa avakkanti hoti. Nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ; saḷāyatanapaccayā phasso; phassapaccayā vedanā …pe… taṇhā … upādānaṁ … bhavo … jāti … jarāmaraṇaṁ … sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
At Sāvatthī.
“Mendicants, what you intend or plan, and what you have underlying tendencies for become a support for the continuation of consciousness. When this support exists, consciousness becomes established. When consciousness is established and grows, name and form are conceived. Name and form are requirements for the six sense fields. The six sense fields are requirements for contact. Contact is a requirement for feeling. … craving … grasping … continued existence … rebirth … old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress come to be. That is how this entire mass of suffering originates.
39. Trú ở Sāvatthī... Này các Tỳ khưu, điều gì được tác ý, điều gì được toan tính, và điều gì có tùy miên, thì đây là đối tượng cho sự an trú của thức. Khi có đối tượng, có sự an trú của thức. Khi thức được an trú, được tăng trưởng, thì có sự nhập vào của danh sắc. Do duyên danh sắc, có sáu xứ; do duyên sáu xứ, có xúc; do duyên xúc, có thọ... tham ái... chấp thủ... hữu... sanh... già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não phát sanh. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này.
No ce, bhikkhave, ceteti no ce pakappeti, atha ce anuseti, ārammaṇametaṁ hoti viññāṇassa ṭhitiyā. Ārammaṇe sati patiṭṭhā viññāṇassa hoti. Tasmiṁ patiṭṭhite viññāṇe virūḷhe nāmarūpassa avakkanti hoti. Nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
If you don’t intend or plan, but still have underlying tendencies, this becomes a support for the continuation of consciousness. When this support exists, consciousness becomes established. When consciousness is established and grows, name and form are conceived. Name and form are requirements for the six sense fields. … That is how this entire mass of suffering originates.
Này các Tỳ khưu, nếu không có tác ý, nếu không có toan tính, nhưng lại có tùy miên, thì đây là đối tượng cho sự an trú của thức. Khi có đối tượng, có sự an trú của thức. Khi thức được an trú, được tăng trưởng, thì có sự nhập vào của danh sắc. Do duyên danh sắc, có sáu xứ... Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này.
Yato ca kho, bhikkhave, no ceva ceteti no ca pakappeti no ca anuseti, ārammaṇametaṁ na hoti viññāṇassa ṭhitiyā. Ārammaṇe asati patiṭṭhā viññāṇassa na hoti. Tadappatiṭṭhite viññāṇe avirūḷhe nāmarūpassa avakkanti na hoti. Nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī”ti.
Navamaṁ.
If you don’t intend or plan or have underlying tendencies, this doesn’t become a support for the continuation of consciousness. With no support, consciousness is not established. When consciousness is not established and doesn’t grow, name and form are not conceived. When name and form cease, the six sense fields cease. … That is how this entire mass of suffering ceases.”
Này các Tỳ khưu, khi nào không có tác ý, không có toan tính, và không có tùy miên, thì đây không phải là đối tượng cho sự an trú của thức. Khi không có đối tượng, không có sự an trú của thức. Khi thức không được an trú, không được tăng trưởng, thì không có sự nhập vào của danh sắc. Do danh sắc diệt, sáu xứ diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này. (Kinh) thứ chín.