- Saṁyutta Nikāya 12.33
- 4. Kaḷārakhattiyavagga
Ñāṇavatthusutta
Sāvatthiyaṁ …
Bản dịch
Ñāṇavatthusutta
Vi-n 1 Ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo. Ta sẽ thuyết về bốn mươi bốn căn bản của trí cho các ông. Hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 3 Thế Tôn nói như sau:
—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bốn mươi bốn căn bản của trí?
Vi-n 4 Già chết trí, già chết tập trí, già chết diệt trí, trí về con đường đưa đến già chết diệt.
Vi-n 5 Sanh trí, sanh tập trí, sanh diệt trí, trí về con đường đưa đến sanh diệt.
Vi-n 6 Hữu trí, hữu tập trí, hữu diệt trí, trí về con đường đưa đến hữu diệt.
Vi-n 7 Thủ trí, thủ tập trí, thủ diệt trí, trí về con đường đưa đến thủ diệt.
Vi-n 8 Ái trí, ái tập trí, ái diệt trí, trí về con đường đưa đến ái diệt.
Vi-n 9 Thọ trí, thọ tập trí, thọ diệt trí, trí về con đường đưa đến thọ diệt.
Vi-n 10 Xúc trí…
Vi-n 11 Sáu xứ trí…
Vi-n 12 Danh sắc trí…
Vi-n 13 Thức trí…
Vi-n 14 Hành trí, hành tập trí, hành diệt trí, trí về con đường đưa đến hành diệt.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là bốn mươi bốn căn bản của trí.
Vi-n 15 Này các Tỷ-kheo, thế nào là già chết? Cái gì thuộc về chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay bộ loại chúng sanh khác, bị già yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ đồi bại, các căn chín muồi; đây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị hoại diệt, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn tàn lụn, thân thể hoại diệt, vất bỏ; đây gọi là chết. Như vậy là già, đây là chết. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là già chết.
Vi-n 16 Do sanh tập khởi nên già chết tập khởi. Do sanh diệt nên già chết diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa đến già chết diệt; tức là chánh tri kiến… chánh định.
Vi-n 17 Này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử biết già chết như vậy, biết già chết tập khởi như vậy, biết già chết diệt như vậy, biết con đường đưa đến già chết diệt như vậy.
Vi-n 18 Ðây là pháp trí của vị ấy. Vị ấy với pháp này được thấy, được biết, được quả tức thời, được đạt đến, được thể nhập (pariyogāḷhena) hướng dẫn thái độ (nayaṁ) của mình đối với quá khứ và tương lai.
Vi-n 19 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ đã hiểu rõ già chết, đã hiểu rõ già chết tập khởi, đã hiểu rõ già chết diệt, đã hiểu rõ con đường đưa đến già chết diệt, tất cả những vị ấy đều hiểu biết như vậy, như vậy; như hiện nay Ta vậy.
Vi-n 20 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai sẽ hiểu rõ (abhijānissanti) già chết, sẽ hiểu rõ già chết tập khởi, sẽ hiểu rõ già chết diệt, sẽ hiểu rõ con đường đưa đến già chết diệt, tất cả những vị ấy sẽ hiểu biết như vậy, như vậy; như hiện nay Ta vậy. Ðây tức là tùy trí (anvaye ñāṇaṁ) của vị ấy.
Vi-n 21 Này các Tỷ-kheo, vì rằng vị Thánh đệ tử được thanh tịnh và thuần tịnh hai loại trí, pháp trí và tùy trí; này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là Thánh đệ tử đạt tri kiến, (diṭṭhisampanno) đạt kiến, đã đi đến diệu pháp này, đã thấy diệu pháp này, đã đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ hữu học minh, đã nhập được pháp lưu, là bậc Thánh minh đạt tuệ (nibbedhikapañño), đã đứng gõ vào cửa bất tử.
Vi-n 22 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sanh?…
Vi-n 23 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu?…
Vi-n 24 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thủ?…
Vi-n 25 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ái?…
Vi-n 26 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ?…
Vi-n 27 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xúc?…
Vi-n 28 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu xứ?…
Vi-n 29 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là danh sắc?…
Vi-n 30 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức?…
Vi-n 31 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Có ba hành này, này các Tỷ-kheo, thân hành, khẩu hành, ý hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hành.
Vi-n 32 Do vô minh tập khởi, hành tập khởi. Do vô minh diệt, hành diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành, con đường đưa đến hành diệt; tức là chánh tri kiến… chánh định.
Vi-n 33 Vì rằng này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử biết hành như vậy, biết hành tập khởi như vậy, biết hành diệt như vậy, biết con đường đưa đến hành diệt như vậy. Ðây là pháp trí của vị ấy, vị ấy với pháp này được thấy, được biết, được quả tức thời, được đạt đến, được thể nhập, hướng dẫn thái độ (nayaṁ) của mình đối với quá khứ, tương lai.
Vi-n 34 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ đã hiểu rõ các hành, đã hiểu rõ hành tập khởi, đã hiểu rõ hành diệt, đã hiểu rõ con đường đưa đến hành diệt; tất cả những vị ấy đều hiểu biết như vậy, như vậy; như hiện nay Ta vậy.
Vi-n 35 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai sẽ hiểu rõ các hành, sẽ hiểu rõ hành tập khởi, sẽ hiểu rõ hành diệt, sẽ hiểu rõ con đường đưa đến hành diệt, tất cả những vị ấy sẽ hiểu biết như vậy; như vậy, như hiện nay Ta vậy. Ðây tức là tùy trí của vị ấy.
Vi-n 36 Này các Tỷ-kheo, vì rằng vị Thánh đệ tử được thanh tịnh, thuần tịnh hai loại trí, pháp trí và tùy trí; này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là vị Thánh đệ tử đạt tri kiến, đạt kiến, đã đi đến diệu pháp này, thấy diệu pháp này, đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ hữu học minh, đã nhập được pháp lưu, là bậc Thánh minh đạt tuệ, đã đứng gõ vào cửa bất tử.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sāvatthiyaṁ …
At Sāvatthī.
3. Bài kinh về các Cơ Sở của Trí Tuệ
“Catucattārīsaṁ vo, bhikkhave, ñāṇavatthūni desessāmi, taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Mendicants, I will teach forty-four grounds for knowledge. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
33. Tại Sāvatthī... (như trên)... “Này các Tỳ khưu, Như Lai sẽ thuyết giảng cho các ngươi bốn mươi bốn cơ sở của trí tuệ. Các ngươi hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý; Như Lai sẽ nói.” “Vâng, bạch Thế Tôn.” các Tỳ khưu ấy đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này:
“Katamāni, bhikkhave, catucattārīsaṁ ñāṇavatthūni? Jarāmaraṇe ñāṇaṁ, jarāmaraṇasamudaye ñāṇaṁ, jarāmaraṇanirodhe ñāṇaṁ, jarāmaraṇanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ; jātiyā ñāṇaṁ, jātisamudaye ñāṇaṁ, jātinirodhe ñāṇaṁ, jātinirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ; bhave ñāṇaṁ, bhavasamudaye ñāṇaṁ, bhavanirodhe ñāṇaṁ, bhavanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ; upādāne ñāṇaṁ, upādānasamudaye ñāṇaṁ, upādānanirodhe ñāṇaṁ, upādānanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ; taṇhāya ñāṇaṁ, taṇhāsamudaye ñāṇaṁ, taṇhānirodhe ñāṇaṁ, taṇhānirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ; vedanāya ñāṇaṁ, vedanāsamudaye ñāṇaṁ, vedanānirodhe ñāṇaṁ, vedanānirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ; phasse ñāṇaṁ …pe… saḷāyatane ñāṇaṁ … nāmarūpe ñāṇaṁ … viññāṇe ñāṇaṁ … saṅkhāresu ñāṇaṁ, saṅkhārasamudaye ñāṇaṁ, saṅkhāranirodhe ñāṇaṁ, saṅkhāranirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ. Imāni vuccanti, bhikkhave, catucattārīsaṁ ñāṇavatthūni.
“And what are the forty-four grounds for knowledge? Knowledge of old age and death, knowledge of the origin of old age and death, knowledge of the cessation of old age and death, and knowledge of the practice that leads to the cessation of old age and death. Knowledge of rebirth … Knowledge of continued existence … Knowledge of grasping … Knowledge of craving … Knowledge of feeling … Knowledge of contact … Knowledge of the six sense fields … Knowledge of name and form … Knowledge of consciousness … Knowledge of choices, knowledge of the origin of choices, knowledge of the cessation of choices, and knowledge of the practice that leads to the cessation of choices. These are called the forty-four grounds for knowledge.
“Này các Tỳ khưu, bốn mươi bốn cơ sở của trí tuệ là những gì? Trí tuệ về già-chết, trí tuệ về sự sanh khởi của già-chết, trí tuệ về sự đoạn diệt của già-chết, trí tuệ về con đường đưa đến sự đoạn diệt của già-chết; trí tuệ về sanh, trí tuệ về sự sanh khởi của sanh, trí tuệ về sự đoạn diệt của sanh, trí tuệ về con đường đưa đến sự đoạn diệt của sanh; trí tuệ về hữu, trí tuệ về sự sanh khởi của hữu, trí tuệ về sự đoạn diệt của hữu, trí tuệ về con đường đưa đến sự đoạn diệt của hữu; trí tuệ về thủ, trí tuệ về sự sanh khởi của thủ, trí tuệ về sự đoạn diệt của thủ, trí tuệ về con đường đưa đến sự đoạn diệt của thủ; trí tuệ về ái, trí tuệ về sự sanh khởi của ái, trí tuệ về sự đoạn diệt của ái, trí tuệ về con đường đưa đến sự đoạn diệt của ái; trí tuệ về thọ, trí tuệ về sự sanh khởi của thọ, trí tuệ về sự đoạn diệt của thọ, trí tuệ về con đường đưa đến sự đoạn diệt của thọ; trí tuệ về xúc... (như trên)... trí tuệ về sáu xứ... trí tuệ về danh-sắc... trí tuệ về thức... trí tuệ về các hành, trí tuệ về sự sanh khởi của các hành, trí tuệ về sự đoạn diệt của các hành, trí tuệ về con đường đưa đến sự đoạn diệt của các hành. Này các Tỳ khưu, những điều này được gọi là bốn mươi bốn cơ sở của trí tuệ.
Katamañca, bhikkhave, jarāmaraṇaṁ? Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhi tamhi sattanikāye jarā jīraṇatā khaṇḍiccaṁ pāliccaṁ valittacatā āyuno saṁhāni indriyānaṁ paripāko, ayaṁ vuccati jarā. Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhā tamhā sattanikāyā cuti cavanatā bhedo antaradhānaṁ maccu maraṇaṁ kālakiriyā khandhānaṁ bhedo kaḷevarassa nikkhepo. Idaṁ vuccati maraṇaṁ. Iti ayañca jarā, idañca maraṇaṁ; idaṁ vuccati, bhikkhave, jarāmaraṇaṁ.
And what is old age and death? The old age, decrepitude, broken teeth, grey hair, wrinkly skin, diminished vitality, and failing faculties of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called old age. The passing away, passing on, disintegration, demise, mortality, death, decease, breaking up of the aggregates, and laying to rest of the corpse of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called death. Such is old age, and such is death. This is called old age and death.
“Và này các Tỳ khưu, già-chết là gì? Đối với các chúng sanh này hay chúng sanh khác trong loài chúng sanh này hay loài chúng sanh khác, sự già, sự suy yếu, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ suy giảm, các căn chín muồi, đây được gọi là già. Đối với các chúng sanh này hay chúng sanh khác từ loài chúng sanh này hay loài chúng sanh khác, sự chết, sự từ bỏ, sự tan rã, sự biến mất, cái chết, sự chết, sự làm ra thời gian, sự tan rã của các uẩn, sự vứt bỏ thân xác. Đây được gọi là chết. Như vậy, đây là già, và đây là chết; Này các Tỳ khưu, đây được gọi là già-chết.
Jātisamudayā jarāmaraṇasamudayo; jātinirodhā jarāmaraṇanirodho; ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo jarāmaraṇanirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
Rebirth is the origin of old age and death. When rebirth ceases, old age and death cease. The practice that leads to the cessation of old age and death is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
“Do sanh khởi lên nên già-chết khởi lên; do sanh diệt nên già-chết diệt; chính con đường Thánh đạo Tám ngành này là con đường đưa đến sự đoạn diệt của già-chết, tức là: chánh kiến... (như trên)... chánh định.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako evaṁ jarāmaraṇaṁ pajānāti, evaṁ jarāmaraṇasamudayaṁ pajānāti, evaṁ jarāmaraṇanirodhaṁ pajānāti, evaṁ jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, idamassa dhamme ñāṇaṁ. So iminā dhammena diṭṭhena viditena akālikena pattena pariyogāḷhena atītānāgate nayaṁ neti.
A noble disciple understands old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. This is their knowledge of the teaching. With this teaching that is seen, understood, immediately attained, and fathomed, they apply the method to the past and future.
“Này các Tỳ khưu, khi nào vị Thánh đệ tử biết rõ già-chết như vậy, biết rõ sự sanh khởi của già-chết như vậy, biết rõ sự đoạn diệt của già-chết như vậy, biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của già-chết như vậy, đây là trí tuệ về Pháp của vị ấy. Vị ấy, với pháp này đã được thấy, được biết, không có thời gian, đã đạt được, đã thâm nhập, dẫn đến (sự suy luận) về quá khứ và vị lai.
Ye kho keci atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā jarāmaraṇaṁ abbhaññaṁsu, jarāmaraṇasamudayaṁ abbhaññaṁsu, jarāmaraṇanirodhaṁ abbhaññaṁsu, jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abbhaññaṁsu, sabbete evameva abbhaññaṁsu, seyyathāpāhaṁ etarahi.
Whatever ascetics and brahmins in the past directly knew old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation, all of them directly knew these things in exactly the same way that I do now.
“Bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ đã thắng tri già-chết, đã thắng tri sự sanh khởi của già-chết, đã thắng tri sự đoạn diệt của già-chết, đã thắng tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của già-chết, tất cả các vị ấy đã thắng tri đúng như vậy, giống như Như Lai (thắng tri) bây giờ.
Yepi hi keci anāgatamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā jarāmaraṇaṁ abhijānissanti, jarāmaraṇasamudayaṁ abhijānissanti, jarāmaraṇanirodhaṁ abhijānissanti, jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abhijānissanti, sabbete evameva abhijānissanti, seyyathāpāhaṁ etarahīti. Idamassa anvaye ñāṇaṁ.
Whatever ascetics and brahmins in the future will directly know old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation, all of them will directly know these things in exactly the same way that I do now. This is their inferential knowledge.
“Và bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời vị lai sẽ thắng tri già-chết, sẽ thắng tri sự sanh khởi của già-chết, sẽ thắng tri sự đoạn diệt của già-chết, sẽ thắng tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của già-chết, tất cả các vị ấy sẽ thắng tri đúng như vậy, giống như Như Lai (thắng tri) bây giờ. Đây là trí tuệ tùy ứng của vị ấy.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvakassa imāni dve ñāṇāni parisuddhāni honti pariyodātāni—dhamme ñāṇañca anvaye ñāṇañca. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako diṭṭhisampanno itipi, dassanasampanno itipi, āgato imaṁ saddhammaṁ itipi, passati imaṁ saddhammaṁ itipi, sekkhena ñāṇena samannāgato itipi, sekkhāya vijjāya samannāgato itipi, dhammasotaṁ samāpanno itipi, ariyo nibbedhikapañño itipi, amatadvāraṁ āhacca tiṭṭhati itipīti.
A noble disciple has purified and cleansed these two knowledges—knowledge of the teaching and inferential knowledge. When a noble disciple has done this, they’re one who is called ‘one accomplished in view’, ‘one accomplished in vision’, ‘one who has come to the true teaching’, ‘one who sees this true teaching’, ‘one endowed with a trainee’s insight’, ‘one endowed with a trainee’s knowledge’, ‘one who has entered the stream of the teaching’, ‘a noble one with penetrative wisdom’, and also ‘one who stands pressing against the door to freedom from death’.
“Này các Tỳ khưu, khi nào vị Thánh đệ tử có hai loại trí này được thanh tịnh, được trong sạch – đó là trí về Pháp và trí tùy theo. Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử này được gọi là: người thành tựu chánh kiến, người thành tựu tri kiến, người đã đến với Chánh pháp này, người thấy được Chánh pháp này, người thành tựu trí của bậc hữu học, người thành tựu minh của bậc hữu học, người đã nhập vào dòng Pháp, bậc Thánh có trí tuệ thể nhập, người đã đến và đứng ở ngưỡng cửa bất tử.”
Katamā ca, bhikkhave, jāti … katamo ca, bhikkhave, bhavo … katamañca, bhikkhave, upādānaṁ … katamā ca, bhikkhave, taṇhā … katamā ca, bhikkhave, vedanā … katamo ca, bhikkhave, phasso … katamañca, bhikkhave, saḷāyatanaṁ … katamañca, bhikkhave, nāmarūpaṁ … katamañca, bhikkhave, viññāṇaṁ … katame ca, bhikkhave, saṅkhārā? Tayome, bhikkhave, saṅkhārā—kāyasaṅkhāro, vacīsaṅkhāro, cittasaṅkhāroti. Ime vuccanti, bhikkhave, saṅkhārā.
And what is rebirth? … And what is continued existence? … And what is grasping? … And what is craving? … And what is feeling? … And what is contact? … And what are the six sense fields? … And what are name and form? … And what is consciousness? … And what are choices? There are three kinds of choices. Choices by way of body, speech, and mind. These are called choices.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là sanh? ... Này các Tỳ khưu, thế nào là hữu? ... Này các Tỳ khưu, thế nào là thủ? ... Này các Tỳ khưu, thế nào là ái? ... Này các Tỳ khưu, thế nào là thọ? ... Này các Tỳ khưu, thế nào là xúc? ... Này các Tỳ khưu, thế nào là sáu xứ? ... Này các Tỳ khưu, thế nào là danh sắc? ... Này các Tỳ khưu, thế nào là thức? ... Này các Tỳ khưu, thế nào là các hành? Này các Tỳ khưu, có ba loại hành này: thân hành, khẩu hành, và tâm hành. Này các Tỳ khưu, những pháp này được gọi là các hành.”
Avijjāsamudayā saṅkhārasamudayo; avijjānirodhā saṅkhāranirodho; ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo saṅkhāranirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
Ignorance is the origin of choices. When ignorance ceases, choices cease. The practice that leads to the cessation of choices is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
“Do vô minh tập khởi nên các hành tập khởi; do vô minh đoạn diệt nên các hành đoạn diệt; Thánh đạo Tám ngành này chính là con đường đưa đến sự đoạn diệt của các hành, tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định.”
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako evaṁ saṅkhāre pajānāti, evaṁ saṅkhārasamudayaṁ pajānāti, evaṁ saṅkhāranirodhaṁ pajānāti, evaṁ saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, idamassa dhamme ñāṇaṁ. So iminā dhammena diṭṭhena viditena akālikena pattena pariyogāḷhena atītānāgate nayaṁ neti.
A noble disciple understands choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. This is their knowledge of the teaching. With this teaching that is seen, understood, immediately attained, and fathomed, they apply the method to the past and future.
“Này các Tỳ khưu, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri các hành như vậy, tuệ tri sự tập khởi của các hành như vậy, tuệ tri sự đoạn diệt của các hành như vậy, tuệ tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của các hành như vậy, đây là trí về Pháp của vị ấy. Vị ấy, với pháp này đã được thấy, được biết, không có thời gian, đã đạt được, đã thâm nhập, suy diễn đến quá khứ và vị lai.”
Ye kho keci atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā saṅkhāre abbhaññaṁsu, saṅkhārasamudayaṁ abbhaññaṁsu, saṅkhāranirodhaṁ abbhaññaṁsu, saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abbhaññaṁsu, sabbete evameva abbhaññaṁsu, seyyathāpāhaṁ etarahi.
Whatever ascetics and brahmins in the past directly knew choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation, all of them directly knew these things in exactly the same way that I do now.
“Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ đã thắng tri các hành, đã thắng tri sự tập khởi của các hành, đã thắng tri sự đoạn diệt của các hành, đã thắng tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của các hành, tất cả các vị ấy đã thắng tri đúng như vậy, giống như Ta bây giờ.”
Ye hipi keci anāgatamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā saṅkhāre abhijānissanti, saṅkhārasamudayaṁ abhijānissanti, saṅkhāranirodhaṁ abhijānissanti, saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abhijānissanti, sabbete evameva abhijānissanti, seyyathāpāhaṁ etarahi. Idamassa anvaye ñāṇaṁ.
Whatever ascetics and brahmins in the future will directly know choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation, all of them will directly know these things in exactly the same way that I do now. This is their inferential knowledge.
“Và những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời vị lai sẽ thắng tri các hành, sẽ thắng tri sự tập khởi của các hành, sẽ thắng tri sự đoạn diệt của các hành, sẽ thắng tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của các hành, tất cả các vị ấy sẽ thắng tri đúng như vậy, giống như Ta bây giờ. Đây là trí tùy theo của vị ấy.”
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvakassa imāni dve ñāṇāni parisuddhāni honti pariyodātāni—dhamme ñāṇañca anvaye ñāṇañca. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako diṭṭhisampanno itipi, dassanasampanno itipi, āgato imaṁ saddhammaṁ itipi, passati imaṁ saddhammaṁ itipi, sekkhena ñāṇena samannāgato itipi, sekkhāya vijjāya samannāgato itipi, dhammasotaṁ samāpanno itipi, ariyo nibbedhikapañño itipi, amatadvāraṁ āhacca tiṭṭhati itipī”ti.
Tatiyaṁ.
A noble disciple has purified and cleansed these two knowledges—knowledge of the teaching and inferential knowledge. When a noble disciple has done this, they’re one who is called ‘one accomplished in view’, ‘one accomplished in vision’, ‘one who has come to the true teaching’, ‘one who sees this true teaching’, ‘one endowed with a trainee’s insight’, ‘one endowed with a trainee’s knowledge’, ‘one who has entered the stream of the teaching’, ‘a noble one with penetrative wisdom’, and also ‘one who stands pressing against the door to freedom from death’.”
“Này các Tỳ khưu, khi nào vị Thánh đệ tử có hai loại trí này được thanh tịnh, được trong sạch – đó là trí về Pháp và trí tùy theo. Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử này được gọi là: người thành tựu chánh kiến, người thành tựu tri kiến, người đã đến với Chánh pháp này, người thấy được Chánh pháp này, người thành tựu trí của bậc hữu học, người thành tựu minh của bậc hữu học, người đã nhập vào dòng Pháp, bậc Thánh có trí tuệ thể nhập, người đã đến và đứng ở ngưỡng cửa bất tử.” (Kinh) thứ ba.