- Saṁyutta Nikāya 11.22
- 3. Tatiyavagga
Bản dịch
SN 11.22 — Dubbaṇṇiyasutta
Dubbaṇṇiyasutta
Vi-n 1 Tại Sāvatthi, Jetavana.
Vi-n 2 Tại đây … Thế Tôn nói như sau:
Vi-n 3 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có một Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to (Okotimako), đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka.
Vi-n 4 Ở đây, này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên bực tức, chán ghét, phẫn uất: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Tên Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to lại đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka!”.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên càng bực tức, chán ghét, phẫn uất bao nhiêu, thời Dạ-xoa ấy càng đẹp hơn, càng dễ nhìn, càng dễ thương bấy nhiêu.
Vi-n 6 Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên đi đến Thiên chủ Sakka; sau khi đến, nói với Thiên chủ Sakka:
Vi-n 7 “—Ở đây, này Tôn giả, có một Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to đến ngồi trên chỗ ngồi của Ngài. Ở đây, này Tôn giả, chư Thiên ở Tam thập tam thiên, bực tức, chán ghét, phẫn uất: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Dạ-xoa này xấu xí, thấp lùn, bụng to lại đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka!”. Nhưng này Tôn giả, chư Thiên ở Tam thập tam thiên càng bực tức, chán ghét, phẫn uất bao nhiêu, thời Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to ấy càng tốt đẹp, càng dễ nhìn và càng dễ thương bấy nhiêu. Thưa Tôn giả, có phải Dạ-xoa ấy sẽ trở thành Dạ-xoa nuôi dưỡng với phẫn nộ?”
Vi-n 8 Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka đi đến Dạ-xoa nuôi dưỡng bằng phẫn nộ ấy; sau khi đến đắp thượng y vào một bên vai, đầu gối phải quỳ trên đất, chấp tay vái Dạ-xoa nuôi dưỡng với phẫn nộ và nói lên tên của mình ba lần: “Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka! Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka!”.
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka càng nói lên tên của mình bao nhiêu thời Dạ-xoa ấy càng trở thành xấu xí, thấp lùn, bụng to bấy nhiêu; và sau khi trở thành càng xấu xí, càng thấp lùn, bụng to hơn, vị ấy biến mất tại chỗ ấy.
Vi-n 10 Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka, sau khi ngồi xuống trên chỗ ngồi của mình, làm cho hòa dịu chư Thiên ở Tam thập tam thiên, ngay lúc ấy, nói lên những bài kệ này:
Tâm ta không dễ dàng,
Ðể cho bị thất trận,
Không dễ bị lôi kéo,
Trong xoáy nước dục tình.
Người biết đã từ lâu,
Ta không còn phẫn nộ,
Phẫn nộ không chân đứng
Một chỗ nào trong ta.
Ta không nói ác ngữ,
Vì phẫn nộ giận hờn,
Và không có khen tặng,
Những đức tánh của ta.
Thấy được lợi ích mình,
Ta tự thân chế ngự.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 11.22
- Chapter Three
Ugly
267. Kinh Về Người Xấu Xí
Sāvatthiyaṁ jetavane. Tatra kho …pe… etadavoca:
“bhūtapubbaṁ, bhikkhave, aññataro yakkho dubbaṇṇo okoṭimako sakkassa devānamindassa āsane nisinno ahosi.
Tatra sudaṁ, bhikkhave, devā tāvatiṁsā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti: ‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho. Ayaṁ yakkho dubbaṇṇo okoṭimako sakkassa devānamindassa āsane nisinno’ti. Yathā yathā kho, bhikkhave, devā tāvatiṁsā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti tathā tathā so yakkho abhirūpataro ceva hoti dassanīyataro ca pāsādikataro ca.
Near Sāvatthī in Jeta’s Grove.
“Once upon a time, mendicants, there was a native spirit who was ugly and deformed. He sat on the throne of Sakka, lord of gods.
But the gods of the thirty-three complained, grumbled, and objected, ‘Oh lord, how incredible, how amazing! This ugly and deformed spirit is sitting on the throne of Sakka, the lord of gods.’ But the more the gods complained, the more attractive, good-looking, and lovely that spirit became.
Tại Sāvatthī, trong vườn Jetavana. …bạch rằng: —Này các Tỳ khưu, thuở xưa, có một dạ-xoa xấu xí, lùn tịt, ngồi trên ghế của Sakka, vua các vị trời. Khi ấy, này các Tỳ khưu, chư thiên cõi Ba Mươi Ba phàn nàn, chê bai, chỉ trích: ‘Thật kỳ diệu thay, chư vị! Thật hy hữu thay, chư vị! Dạ-xoa xấu xí, lùn tịt này lại ngồi trên ghế của Sakka, vua các vị trời!’ Này các Tỳ khưu, chư thiên cõi Ba Mươi Ba càng phàn nàn, chê bai, chỉ trích, thì dạ-xoa ấy lại càng trở nên đẹp hơn, dễ nhìn hơn, và khả ái hơn.
Atha kho, bhikkhave, devā tāvatiṁsā yena sakko devānamindo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sakkaṁ devānamindaṁ etadavocuṁ: ‘idha te, mārisa, aññataro yakkho dubbaṇṇo okoṭimako sakkassa devānamindassa āsane nisinno. Tatra sudaṁ, mārisa, devā tāvatiṁsā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti: “acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho. Ayaṁ yakkho dubbaṇṇo okoṭimako sakkassa devānamindassa āsane nisinno”ti. Yathā yathā kho, mārisa, devā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti tathā tathā so yakkho abhirūpataro ceva hoti dassanīyataro ca pāsādikataro cāti. So hi nūna, mārisa, kodhabhakkho yakkho bhavissatī’ti.
So the gods went up to Sakka and told him what had happened. He replied, ‘Surely, good fellow, that must be the anger-eating spirit!’
Khi ấy, này các Tỳ khưu, chư thiên cõi Ba Mươi Ba đi đến nơi Sakka, vua các vị trời, ở; sau khi đến gần, họ bạch với Sakka, vua các vị trời, rằng: ‘Thưa ngài, ở đây có một dạ-xoa xấu xí, lùn tịt, đang ngồi trên ghế của Sakka, vua các vị trời. Khi ấy, thưa ngài, chư thiên cõi Ba Mươi Ba phàn nàn, chê bai, chỉ trích: ‘Thật kỳ diệu thay, chư vị! Thật hy hữu thay, chư vị! Dạ-xoa xấu xí, lùn tịt này lại ngồi trên ghế của Sakka, vua các vị trời!’ Thưa ngài, chư thiên càng phàn nàn, chê bai, chỉ trích, thì dạ-xoa ấy lại càng trở nên đẹp hơn, dễ nhìn hơn, và khả ái hơn.’ (Sakka nói:) ‘Thưa các ngài, chắc chắn dạ-xoa ấy phải là dạ-xoa Kodhabhakkha (kẻ ăn sân hận).’
Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo yena so kodhabhakkho yakkho tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā dakkhiṇajāṇumaṇḍalaṁ pathaviyaṁ nihantvā yena so kodhabhakkho yakkho tenañjaliṁ paṇāmetvā tikkhattuṁ nāmaṁ sāveti: ‘sakkohaṁ, mārisa, devānamindo, sakkohaṁ, mārisa, devānamindo’ti. Yathā yathā kho, bhikkhave, sakko devānamindo nāmaṁ sāvesi tathā tathā so yakkho dubbaṇṇataro ceva ahosi okoṭimakataro ca. Dubbaṇṇataro ceva hutvā okoṭimakataro ca tatthevantaradhāyīti.
Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo sake āsane nisīditvā deve tāvatiṁse anunayamāno tāyaṁ velāyaṁ imā gāthāyo abhāsi:
Then Sakka went up to that spirit, arranged his robe over one shoulder, knelt on his right knee, raised his joined palms toward the anger-eating spirit, and pronounced his name three times: ‘Good fellow, I am Sakka, lord of gods! Good fellow, I am Sakka, the lord of gods!’ But the more Sakka pronounced his name, the uglier and more deformed the spirit became, until eventually it vanished right there.
Then Sakka, lord of gods, guiding the gods of the thirty-three, spoke this verse:
2. Khi ấy, này các Tỳ khưu, Sakka, vua các vị trời, đi đến nơi dạ-xoa Kodhabhakkha ở; sau khi đến gần, ngài vắt thượng y qua một bên vai, đặt đầu gối phải xuống đất, chắp tay hướng về dạ-xoa Kodhabhakkha và xướng tên ba lần: ‘Thưa ngài, tôi là Sakka, vua các vị trời. Thưa ngài, tôi là Sakka, vua các vị trời.’ Này các Tỳ khưu, Sakka, vua các vị trời, càng xướng tên, thì dạ-xoa ấy lại càng trở nên xấu xí hơn và lùn tịt hơn. Trở nên xấu xí hơn và lùn tịt hơn, nó biến mất ngay tại đó. Khi ấy, này các Tỳ khưu, Sakka, vua các vị trời, ngồi trên ghế của mình, khuyên bảo chư thiên cõi Ba Mươi Ba, và vào lúc đó đã nói lên những kệ ngôn này:
‘Na sūpahatacittomhi, nāvattena suvānayo; Na vo cirāhaṁ kujjhāmi, kodho mayi nāvatiṭṭhati.
‘My mind isn’t easily upset; I’m not easily drawn into the maelstrom. I don’t get angry for long, anger doesn’t last in me.
268. ‘Ta không có tâm bị sân hận chi phối, không dễ bị nó lôi kéo. Ta không giận lâu, sân hận không tồn tại trong ta.
Kuddhāhaṁ na pharusaṁ brūmi, Na ca dhammāni kittaye; Sanniggaṇhāmi attānaṁ, Sampassaṁ atthamattano’”ti.
When I do get angry I don’t speak harshly, nor do I advertise my own virtues. I carefully restrain myself out of regard for my own welfare.’”
‘Khi giận, ta không nói lời thô ác, và không kể lể (lỗi lầm). Thấy rõ lợi ích của mình, ta tự chế ngự bản thân.’