- Saṁyutta Nikāya 1.7
- 1. Naḷavagga
Bản dịch
SN 1.7 — Kinh Không Thâm Nhập
Appaṭividitasutta
… Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Những ai với các pháp,
(Thế Tôn):
Không liễu tri thấu suốt,
Bị hướng dẫn lầm lạc,
Vòng quanh các dị giáo.
Họ mê ngủ triền miên,
Họ không có tỉnh giác,
Nay thật đã đến thời,
Họ cần phải thức tỉnh.Những ai với các pháp,
Khéo liễu tri sáng suốt,
Không bị dẫn lầm lạc,
Vòng quanh các dị giáo,
Họ chứng Chánh đẳng giác.
Họ liễu tri viên mãn,
Trên đường không thăng bằng,
Họ bước thật thăng bằng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 1.7
- 1. A Reed
Undeciphered
7. Kinh Không Thâm Nhập
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ ṭhitā kho sā devatā bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
At Sāvatthī.
Standing to one side, that deity spoke this verse in the Buddha’s presence:
7. Nhân duyên ở Sāvatthī. Rồi vị thiên ấy, sau khi đứng một bên, đã nói lên kệ ngôn này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Yesaṁ dhammā appaṭividitā, Paravādesu nīyare; Suttā te nappabujjhanti, Kālo tesaṁ pabujjhitun”ti.
“Those have not deciphered the teachings may be led astray by the doctrines of others. Asleep, they have not woken up: it is time for them to wake!”
Những ai các pháp chưa thâm nhập, bị dẫn dắt theo ngoại luận; họ ngủ say, không tỉnh thức, đã đến lúc họ phải tỉnh thức.
“Yesaṁ dhammā suppaṭividitā, Paravādesu na nīyare; Te sambuddhā sammadaññā, Caranti visame saman”ti.
“Those who have well deciphered the teachings won’t be led astray by the doctrines of others. They have woken up, they rightly know, smoothly they walk in the rough.”
Những ai các pháp đã khéo thâm nhập, không bị dẫn dắt theo ngoại luận; họ là bậc Chánh Giác, đã chánh trí, sống bình thản giữa bất bình.