- Saṁyutta Nikāya 1.23
- 3. Sattivagga
Jaṭāsutta
“Antojaṭā bahijaṭā, Jaṭāya jaṭitā pajā; Taṁ taṁ gotama pucchāmi, Ko imaṁ vijaṭaye jaṭan”ti.
Bản dịch
Jaṭāsutta
Nội triền và ngoại triền,
(Thế Tôn):
Chúng sanh bị triền phược,
Con hỏi Gotama,
Ai thoát khỏi triền này?Người trú giới có trí,
Tu tập tâm và tuệ,
Nhiệt tâm và thận trọng,
Tỷ-kheo ấy thoát triền.
Với ai, đã từ bỏ
Tham, sân và vô minh,
Bậc Lậu tận, Ứng cúng,
Vị ấy thoát triền phược.
Chỗ nào danh và sắc,
Ðược đoạn tận, vô dư,
Ðoạn chướng ngại, sắc tưởng,
Chỗ ấy triền phược đoạn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Antojaṭā bahijaṭā, Jaṭāya jaṭitā pajā; Taṁ taṁ gotama pucchāmi, Ko imaṁ vijaṭaye jaṭan”ti.
“Tangled within, tangled without: these people are tangled in tangles. I ask you this, Gotama: who can untangle this tangle?”
"Rối ren bên trong, rối ren bên ngoài, chúng sanh bị rối ren bởi sự rối ren. Con hỏi Ngài, Gotama, ai có thể gỡ rối sự rối ren này?"
“Sīle patiṭṭhāya naro sapañño, Cittaṁ paññañca bhāvayaṁ; Ātāpī nipako bhikkhu, So imaṁ vijaṭaye jaṭaṁ.
“A wise person grounded in ethics, developing the mind and wisdom, a keen and alert mendicant—they can untangle this tangle.
"Một người có trí tuệ, an trú trong giới, phát triển tâm và tuệ; vị tỳ khưu nhiệt tâm, thận trọng, vị ấy có thể gỡ rối sự rối ren này."
Yesaṁ rāgo ca doso ca, avijjā ca virājitā; Khīṇāsavā arahanto, tesaṁ vijaṭitā jaṭā.
Those in whom greed, hate, and ignorance have faded away; the perfected ones with defilements ended—they have untangled the tangle.
"Những vị nào đã trừ bỏ tham, sân, và vô minh; các bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đối với các vị ấy, sự rối ren đã được gỡ rối."
Yattha nāmañca rūpañca, asesaṁ uparujjhati; Paṭighaṁ rūpasaññā ca, etthesā chijjate jaṭā”ti.
And where name and form cease with no residue left behind; and impingement and perception of form: it’s here this tangle is cut.”
"Nơi nào danh và sắc, cùng với tưởng về đối ngại và tưởng về sắc, chấm dứt không còn dư tàn; chính nơi đó sự rối ren này bị cắt đứt."