- Saṁyutta Nikāya 1.10
- 1. Naḷavagga
Araññasutta
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ ṭhitā kho sā devatā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
Bản dịch
Araññasutta
… Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Thường sống trong rừng núi,
(Thế Tôn):
Bậc Thánh sống Phạm hạnh,
Một ngày ăn một buổi,
Sao sắc họ thù diệu?Không than việc đã qua,
Không mong việc sắp tới,
Sống ngay với hiện tại,
Do vậy, sắc thù diệu.Do mong việc sắp tới,
Do than việc đã qua,
Nên kẻ ngu héo mòn,
Như lau xanh rời cành.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ ṭhitā kho sā devatā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
At Sāvatthī.
Standing to one side, that deity addressed the Buddha in verse:
10. Nhân duyên ở Sāvatthī. Rồi vị thiên ấy, sau khi đứng một bên, đã bạch với Thế Tôn bằng kệ ngôn:
“Araññe viharantānaṁ, santānaṁ brahmacārinaṁ; Ekabhattaṁ bhuñjamānānaṁ, kena vaṇṇo pasīdatī”ti.
“Living in the wilderness, peaceful spiritual practitioners eat just one meal a day: so why is their complexion so clear?”
Các vị sống trong rừng, tịch tịnh, phạm hạnh, chỉ ăn một bữa mỗi ngày, do đâu dung sắc lại trong sáng?
“Atītaṁ nānusocanti, nappajappanti nāgataṁ; Paccuppannena yāpenti, tena vaṇṇo pasīdati.
“They don’t grieve for the past, nor do they pray for the future; they feed on whatever comes that day, that’s why their complexion’s so clear.
Không sầu muộn việc đã qua, không mong cầu việc chưa đến, sống với những gì hiện tại, nhờ vậy dung sắc trong sáng.
Anāgatappajappāya, atītassānusocanā; Etena bālā sussanti, naḷova harito luto”ti.
Because they pray for the future, and grieve for the past, fools wither away, like a green reed mowed down.”
Do mong cầu việc chưa đến, và sầu muộn việc đã qua, bởi vậy kẻ ngu phu bị héo mòn, như cây sậy xanh bị cắt lìa.
Naḷavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Cây Sậy, Phẩm Thứ Nhất.
Oghaṁ nimokkhaṁ upaneyyaṁ, Accenti katichindi ca; Jāgaraṁ appaṭividitā, Susammuṭṭhā mānakāminā; Araññe dasamo vutto, Vaggo tena pavuccati.
Bộc Lưu, Giải Thoát, Dẫn Đến, Thời Gian Trôi, Cắt Bao Nhiêu, và Tỉnh Thức, Không Thâm Nhập, Hoàn Toàn Lãng Quên, Ưa Thích Mạn, và Rừng Sâu là kinh thứ mười. Do đó phẩm này được gọi như vậy.