- Parivāra
Bản dịch
Pvr 20 — Các bài kệ làm xuất mồ hôi
20. Sedamocanagāthā
Inda-bh 1~1Vị không đồng cộng trú với các tỳ khưu và các tỳ khưu ni, không đạt được một việc thọ hưởng chung nào đó ở nơi vị ấy, sao không bị phạm tội do việc không xa lìa?[a] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 2~2Không nên phân tán, không được phân chia, năm vật đã được nói đến bởi vị Đại Ẩn Sĩ. Sao không phạm tội trong lúc phân chia và trong lúc thọ dụng?[b] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 3~3Tôi không đề cập đến mười hạng cá nhân, hạng thứ mười một cũng cần phải tách ra?[c] Tại sao lại phạm tội khi đảnh lễ vị lớn?[d] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 4~4Vị không bị án treo, và cũng không phải là vị hành parivāsa, không bị chia rẽ hội chúng, và cũng không thay đổi phe nhóm, là vị tồn tại trên nền tảng, cùng chung đồng cộng trú, vì sao lại có sự riêng biệt về việc học tập?[e] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 5~5Vị đi đến Pháp tốt đẹp, có liên hệ mục đích, trong khi đang được hỏi, không sống, không phải đã chết, không phải đã Niết Bàn, chư Phật nói về nhân vật ấy thế nào?[f] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 6~6Tôi không đề cập đến phần trên của xương đòn, bỏ qua phần dưới rốn, do duyên việc đôi lứa vì sao lại phạm tội pārājika?[g] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 7~7Vị tỳ khưu tự yêu cầu rồi xây dựng cốc liêu, nền đất chưa được xác định, vượt quá kích thước, ở chỗ có sự nguy hiểm, không khoảng trống trải, không phạm tội?[h] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 8~8Vị tỳ khưu tự yêu cầu rồi xây dựng cốc liêu, nền đất được xác định, theo kích thước, không có sự nguy hiểm, có khoảng trống trải, lại phạm tội?[i] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 9~9Vị không làm hành động gì có liên quan đến thân và cũng không nói về những người khác bằng lời nói lại vi phạm tội nặng có nền tảng bị cắt rời?[a] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 10~10Người tốt không làm điều gì ác có liên quan đến thân, khẩu, luôn cả ý, vì sao vị ấy lại bị trục xuất, còn bị trục xuất hoàn toàn?[b] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 11~11Không chuyện trò với bất cứ người nào bằng lời, và không nói câu nào với những người khác lại có thể phạm tội liên quan đến khẩu, không liên quan đến thân?[c] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 12~12Các điều học được đức Phật vị cao quý ca ngợi, có bốn điều saṅghādisesa, có thể phạm tất cả chỉ do một hành động?[d] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 13~13Cả hai (vị ni) đã được tu lên bậc trên từ một hội chúng, vị thọ nhận y từ tay của cả hai, các tội vi phạm có thể khác nhau?[e] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 14~14Bốn người sau khi hẹn hò trước đã lấy trộm trọng vật, ba vị phạm pārājika, còn một vị không phạm pārājika?[f] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 15~15Người nữ ở bên trong, và vị tỳ khưu là ở bên ngoài, không có lỗ hỗng ở ngôi nhà, vì sao lại vi phạm tội pārājika do duyên việc đôi lứa?[g] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 16~16Dầu ăn, mật ong, và cả đường, bơ lỏng, sau khi tự mình thọ lãnh rồi để riêng, khi bảy ngày chưa trải qua đối với vị thọ dụng khi có duyên cớ lại có tội?[h] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 17~17Tội nissaggiya, tội pācittiya thuần túy là cùng một lần cho vị đang vi phạm?[i] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 18~18Hai mươi vị tỳ khưu tụ hội làm hành sự tưởng rằng có hợp nhất, có vị tỳ khưu đứng xa mười hai do-tuần làm hỏng hành sự ấy vì lý do phe nhóm?[a] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 19~19Và với vị đã nói lên bằng lời, dầu chỉ truyền đạt giữa khoảng cách của bước chân, có thể vi phạm cùng một lượt sáu mươi bốn tội, tất cả đều là tội nặng có sự sửa chữa được?[b] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 20~20Vị đã quấn vào với y nội, đã trùm lên y saṅghāṭi hai lớp, tất cả các y ấy là phạm tội nissaggiya?[c] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 21~21Không có lời đề nghị, cũng không có tuyên ngôn hành sự, và đấng Chiến Thắng đã không nói: ‘Hãy đến, này tỳ khưu, ‘ vị ấy cũng chẳng có sự đi đến nương tựa (Tam Quy), mà đã được tu lên bậc trên, và sự tu lên bậc trên là bền vững cho vị ấy?[d] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 22~22Giết người nữ không phải là mẹ, và (giết) người nam không phải là cha, kẻ ngu giết người không phải là vị Thánh, và do điều ấy phạm vào nghiệp vô gián?[e] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 23~23Và giết người nữ là mẹ, và giết người nam là cha, sau khi giết cả cha lẫn mẹ, do điều ấy lại không phạm nghiệp vô gián?[f] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 24~24Sau khi không cáo tội, sau khi không nhắc nhở, rồi thực hiện hành sự đến vị không hiện diện. Hành sự đã được thực hiện, đã được thực hiện hoàn hảo mà vị tiến hành và hội chúng là không phạm tội?[g] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 25~25Sau khi đã cáo tội, sau khi đã nhắc nhở, rồi thực hiện hành sự đến vị đang hiện diện, và hành sự đã được thực hiện lại trở thành chưa được thực hiện, vị tiến hành và hội chúng là phạm tội?[h] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 26~26Vị chặt đứt phạm tội, vị chặt đứt không phạm tội, vị che đậy phạm tội, vị che đậy không phạm tội?[i] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 27~27Trong khi nói sự thật lại tội nặng, và đối với vị nói lời dối trá là tội nhẹ, trong khi nói lời dối trá là tội nặng, và đối với vị nói sự thật lại tội nhẹ?[j] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 28~28Vật đã được chú nguyện để dùng riêng, đã được nhuộm bằng thuốc nhuộm, là vật đã được làm thành đúng phép, đối với vị sử dụng lại có tội?[k] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 29~29Khi mặt trời đã lặn, vị tỳ khưu nhai các miếng thịt, không phải là vị bị điên, và cũng không có tâm bị rối loạn, vị ấy cũng không bị thọ khổ hành hạ, tuy nhiên vị ấy không có tội, và điều ấy đã được đức Thiện Thệ giảng giải.[a] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 30~30Không có tâm nhiễm dục, hơn nữa không có ý trộm cắp, và vị ấy cũng đã không nghĩ đến việc giết hại người khác, đối với vị trao thẻ thì bị cắt đứt, đối với vị nhận lấy (thẻ) thì tội thullaccaya?[b] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 31~31Và cũng không phải là chỗ ở rừng được xác định có nguy hiểm, cũng không có sự đồng ý đã được hội chúng ban cho, và Kaṭhina của vị ấy đã không được thành tựu ở ngay chỗ ấy, (vị ấy) sau khi xa lìa y rồi đi nửa do-tuần, khi rạng đông đã đến ở ngay tại nơi ấy, vẫn không phạm tội.[c] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 32~32Có liên quan đến thân, không liên quan đến khẩu, tất cả có sự việc khác biệt, có thể vi phạm chung một lượt không trước không sau?[d] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 33~33Có liên quan đến khẩu, không liên quan đến thân, tất cả có sự việc khác biệt, có thể vi phạm chung một lượt không trước không sau?[e] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 34~34Không thực hiện việc đôi lứa ấy nơi ba hạng người nữ, nơi ba hạng người nam, và nơi ba hạng không phải Thánh hay là kẻ vô căn, và không hành việc đôi lứa ở người lưỡng căn, sao lại bị cắt đứt do duyên việc đôi lứa?[f] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 35~35Vị xin y cho mẹ, và không phải là y được dành riêng dâng đến hội chúng, do điều ấy vị ấy phạm tội, và không tội (nếu xin) ở thân quyến?[g] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 36~36Bị giận dữ lại hài lòng, bị giận dữ là đáng chê bai. Vậy điều ấy có tên là gì khiến nổi giận lại nên cười, ?[h] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 37~37Được hoan hỷ rồi hài lòng, hoan hỷ là đáng chê bai. vậy điều ấy có tên là gì khiến hoan hỷ lại đáng chê bai? Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 38~38Vị phạm chung một lượt tội saṅghādisesa, tội thullaccaya, tội pācittiya, tội pāṭidesanīya, và tội dukkaṭa?[i] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 39~39Cả hai đều tròn đủ hai mươi tuổi, cả hai có chung vị thầy tế độ, chung thầy giáo thọ, chung tuyên ngôn hành sự, một vị được tu lên bậc trên, một vị không được tu lên bậc trên?[a] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 40~40Chưa làm thành được phép, cũng chưa được nhuộm với thuốc nhuộm, được quấn vào với y ấy rồi có thể đi theo ý thích, không tội cho vị ấy,[b] và điều ấy đã được đức Thiện Thệ giảng giải. Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 41~41Không cho, không thọ nhận, việc thọ nhận vì thế không được biết đến. Và do duyên thọ dụng vật ấy vi phạm tội nặng không phải nhẹ?[c] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 42~42Không cho, không thọ nhận, việc thọ nhận vì thế không được biết đến. Và do duyên thọ dụng vật ấy vi phạm tội nhẹ không nặng?[d] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Inda-bh 43~43Vi phạm tội nặng còn dư sót rồi che giấu bởi vì không tôn trọng, tỳ khưu ni không phạm và không đưa đến tội?[e] Câu hỏi này đã được nghĩ ra bởi các vị thiện xảo.
Dứt Các Bài Kệ Làm Xuất Mồ Hôi.
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
Inda-bh 1~44Sự không đồng cộng trú, không được phân tán, mười (hạng), và vị không bị án treo, vị đi đến với Pháp, phần trên của xương đòn, sau đó hai điều tự mình yêu cầu.
Inda-bh 2~45Và không liên quan đến thân, tội nặng, liên quan đến thân, được khéo giảng, trong khi không nói, và điều học, cả hai, và bốn vị.
Inda-bh 3~46Người nữ, và dầu ăn, tội nissaggiya, và các vị tỳ khưu, với khoảng cách bước dài, và đã quấn y, và không điều quy định, không giết mẹ cha.
Inda-bh 4~47Sau khi không cáo tội, sau khi đã cáo tội, trong khi chặt đứt, và luôn cả sự thật, và đã được chú nguyện, khi mặt trời đã lặn, không có tâm nhiễm dục, và không phải chỗ ở rừng.
Inda-bh 5~48Liên quan đến thân và liên quan đến khẩu, ba người nữ, và luôn cả người mẹ, giận dữ, hài lòng, được hoan hỷ, tội saṅghādisesa, và cả hai.
Inda-bh 6~49Chưa làm thành được phép, vị không cho, vị không cho, vị phạm tội nặng, những bài kệ làm xuất mồ hôi, là những câu hỏi, đã được giải rõ nhờ các bậc trí.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- The Compendium
The sudorific verses
Những câu kệ làm toát mồ hôi
1. Avippavāsapañhā
1. Question on staying apart
1. Câu hỏi về việc không xa cách
Asaṁvāso bhikkhūhi ca bhikkhunīhi ca, Sambhogo ekacco tahiṁ na labbhati; Avippavāsena anāpatti, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
For one excluded from the community of the monks and the nuns, Some interactions are unallowable—How, then, is there no offense for one who is not staying apart? This question was thought out by those with skill.
Không có sự chung sống với các tỳ khưu và tỳ khưu ni; ở nơi ấy, một vài sự chung hưởng không được phép. Do không xa cách, không có tội. Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Avissajjiyaṁ avebhaṅgiyaṁ, Pañca vuttā mahesinā; Vissajjantassa paribhuñjantassa anāpatti, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
Of things not to be given away, nor to be shared out, Five are mentioned by the Great Sage—How, then, is there no offense for using what has been given away? This question was thought out by those with skill.
Không được từ bỏ, không được phân chia; năm thứ đã được bậc Đại Sĩ thuyết giảng. Đối với người từ bỏ, người thọ dụng, không có tội. Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Dasa puggale na vadāmi, Ekādasa vivajjiya; Vuḍḍhaṁ vandantassa āpatti, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
I do not say the ten people, Or the eleven to be avoided—How, then, is there an offense for paying respect to one who is senior? This question was thought out by those with skill.
Ta không nói về mười hạng người, và tránh xa mười một hạng. Đối với người đảnh lễ vị trưởng lão, có tội. Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Na ukkhittako na ca pana pārivāsiko, Na saṅghabhinno na ca pana pakkhasaṅkanto; Samānasaṁvāsakabhūmiyā ṭhito, Kathaṁ nu sikkhāya asādhāraṇo siyā; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
One who has not been ejected, nor is on probation, Who has not caused a schism in the Sangha, or joined another religion or sect; Who belongs to the same Buddhist sect—How, then, could they not share in the training? This question was thought out by those with skill.
Không phải là người bị cử tội, cũng không phải là người đang chịu biệt trú; không phải là người phá hòa hợp Tăng, cũng không phải là người theo phe phái khác; đang đứng trên nền tảng chung sống hòa hợp. Làm thế nào vị ấy lại có thể không chung học giới? Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Upeti dhammaṁ paripucchamāno, Kusalaṁ atthūpasañhitaṁ; Na jīvati na mato na nibbuto, Taṁ puggalaṁ katamaṁ vadanti buddhā; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
Questioning, one arrives at the Teaching, At what is wholesome and beneficial; One who is not alive, nor dead or extinguished—What kind of person is that, say the Buddhas? This question was thought out by those with skill.
Vị ấy đến hỏi về pháp thiện, liên quan đến lợi ích; không sống, không chết, không tịch diệt. Chư Phật gọi hạng người ấy là gì? Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Ubbhakkhake na vadāmi, Adho nābhiṁ vivajjiya; Methunadhammapaccayā, Kathaṁ pārājiko siyā; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
I do not say above the collar bone, Having abandoned what is below the navel; Because of sexual intercourse, How might there be an offense entailing expulsion? This question was thought out by those with skill.
Ta không nói về việc ở trên xương đòn, và tránh việc ở dưới rốn. Do duyên của pháp dâm, làm thế nào có thể phạm tội ba-la-di? Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Bhikkhu saññācikāya kuṭiṁ karoti, Adesitavatthukaṁ pamāṇātikkantaṁ; Sārambhaṁ aparikkamanaṁ anāpatti, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
A monk, by means of begging, builds a hut, Whose site has not been approved, which exceeds the right size, where harm will be done, and which lacks a space on all sides; How, then, does he not commit an offense? This question was thought out by those with skill.
Vị tỳ khưu làm cái cốc do việc xin cho mình; nền đất chưa được chỉ định, vượt quá kích thước; có sinh vật, không có khoảng trống xung quanh, không có tội. Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Bhikkhu saññācikāya kuṭiṁ karoti, Desitavatthukaṁ pamāṇikaṁ; Anārambhaṁ saparikkamanaṁ āpatti, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
A monk, by means of begging, builds a hut, Whose site has been approved, which is the right size, where no harm will be done, and which has a space on all sides. How, then, does he commit an offense? This question was thought out by those with skill.
Vị tỳ khưu làm cái cốc do việc xin cho mình; nền đất đã được chỉ định, đúng kích thước; không có sinh vật, có khoảng trống xung quanh, có tội. Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Na kāyikaṁ kiñci payogamācare, Na cāpi vācāya pare bhaṇeyya; Āpajjeyya garukaṁ chejjavatthuṁ, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
One does not do anything by body, Nor does one say anything to another; How, then, does one commit a heavy offense, a ground for cutting off? This question was thought out by those with skill.
Không thực hiện bất cứ sự cố gắng nào về thân; cũng không nói với người khác bằng lời nói; có thể phạm tội nặng, tội bị cắt đứt. Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Na kāyikaṁ vācasikañca kiñci, Manasāpi santo na kareyya pāpaṁ; So nāsito kinti sunāsito bhave, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
Nothing bad by body, speech, or mind Would a good person do; How, then, when he is expelled, would it be right? This question was thought out by those with skill.
Không làm bất cứ điều ác nào về thân và lời; là người hiền thiện, cũng không làm điều ác bằng ý. Người ấy bị hủy hoại, làm sao có thể bị hủy hoại tốt đẹp? Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Anālapanto manujena kenaci, Vācāgiraṁ no ca pare bhaṇeyya; Āpajjeyya vācasikaṁ na kāyikaṁ, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
Not speaking with any human, Nor saying anything to others; How, then, does one commit an offense of speech, not one of body? This question was thought out by those with skill.
Không nói chuyện với bất cứ người nào; cũng không nói lời nào với người khác; có thể phạm tội về lời nói, không phải tội về thân. Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Sikkhāpadā buddhavarena vaṇṇitā, Saṅghādisesā caturo bhaveyyuṁ; Āpajjeyya ekapayogena sabbe, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
The training rules praised by the splendid Buddha Include which four offenses entailing suspension; All committed through a single effort? This question was thought out by those with skill.
Các học giới đã được đức Phật cao quý tán thán; có bốn tội Tăng Tàn. Có thể phạm tất cả bằng một hành động không? Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Ubho ekato upasampannā, Ubhinnaṁ hatthato cīvaraṁ paṭiggaṇheyya; Siyā āpattiyo nānā, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
Two nuns were ordained together, And one receives a robe directly from both; Might the offenses be different? This question was thought out by those with skill.
Cả hai được thọ cụ túc giới từ một bên. Vị ấy nhận y từ tay của cả hai. Có thể có nhiều tội khác nhau. Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Caturo janā saṁvidhāya, Garubhaṇḍaṁ avāharuṁ; Tayo pārājikā eko na pārājiko, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
Four people having made an arrangement, Took valuable goods; How, then, did three commit an offense entailing expulsion, but one did not? This question was thought out by those with skill.
Bốn người sau khi bàn bạc đã lấy trộm vật nặng. Ba người phạm tội ba-la-di, một người không phạm tội ba-la-di. Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
2. Pārājikādipañhā
2. Questions on the offenses entailing expulsion, etc.
2. Các câu hỏi về ba-la-di, v.v.
Itthī ca abbhantare siyā, Bhikkhu ca bahiddhā siyā; Chiddaṁ tasmiṁ ghare natthi, Methunadhammapaccayā; Kathaṁ pārājiko siyā, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
The woman is within, And the monk is outside; In that house there is no hole—Then, because of sexual intercourse; How could there be an offense entailing expulsion? This question was thought out by those with skill.
Người nữ có thể ở bên trong, và tỳ khưu ở bên ngoài. Trong ngôi nhà ấy không có lỗ hổng. Do duyên của pháp dâm, làm thế nào có thể phạm tội ba-la-di? Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Telaṁ madhuṁ phāṇitañcāpi sappiṁ, Sāmaṁ gahetvāna nikkhipeyya; Avītivatte sattāhe, Sati paccaye paribhuñjantassa āpatti; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
Oil, honey, syrup, and ghee, Having received it oneself, one stores it; Not exceeding seven days. Then if one uses it, even when there is a reason, how is there an offense? This question was thought out by those with skill.
Dầu, mật ong, đường phèn, và cả bơ sữa; sau khi tự mình nhận, nên cất giữ. Trong vòng bảy ngày chưa trôi qua, khi có duyên, đối với người thọ dụng, có tội. Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Nissaggiyena āpatti, Suddhakena pācittiyaṁ; Āpajjantassa ekato, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
How is there an offense entailing relinquishment, And an ordinary offense entailing confession; Both together, for one who commits it? This question was thought out by those with skill.
Có tội với pháp Ưng Xả; tội Ba-dật-đề đơn thuần; đối với người phạm cùng một lúc. Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Bhikkhū siyā vīsatiyā samāgatā, Kammaṁ kareyyuṁ samaggasaññino; Bhikkhu siyā dvādasayojane ṭhito, Kammañca taṁ kuppeyya vaggapaccayā; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
Twenty monks have come together, Perceiving unity, they do a legal procedure; If a monk is 150 km away, How is that procedure reversible because the assembly is incomplete? This question was thought out by those with skill.
Có thể có hai mươi vị tỳ khưu đã tụ họp; các vị ấy có thể làm yết-ma với tưởng là hòa hợp. Một vị tỳ khưu có thể đang ở cách mười hai do-tuần; và yết-ma ấy có thể bị hỏng do duyên không hợp lệ. Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Padavītihāramattena vācāya bhaṇitena ca, Sabbāni garukāni sappaṭikammāni; Catusaṭṭhi āpattiyo āpajjeyya ekato, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
When, after speaking, one merely takes a single step, How would one, all at once, commit sixty-four heavy offenses; All to be made amends for? This question was thought out by those with skill.
Chỉ bằng việc đi một bước và bằng lời nói ra; tất cả các tội nặng có thể sửa chữa; có thể phạm sáu mươi bốn tội cùng một lúc. Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Nivattho antaravāsakena, Diguṇaṁ saṅghāṭiṁ pāruto; Sabbāni tāni nissaggiyāni honti, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
Dressed in a sarong, And a double-layered upper robe—How could they all be subject to relinquishment? This question was thought out by those with skill.
Đã mặc y nội; đã đắp y tăng-già-lê hai lớp; tất cả những y ấy đều trở thành vật phải xả. Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Na cāpi ñatti na ca pana kammavācā, Na cehi bhikkhūti jino avoca; Saraṇagamanampi na tassa atthi, Upasampadā cassa akuppā; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
There was no motion, nor announcement, Nor had the Victor said, “Come, monk”; Nor had he gone for refuge—How, then, was the ordination irreversible? This question was thought out by those with skill.
Cũng không có bạch, cũng không có yết-ma; bậc Chiến Thắng cũng không nói: "Hãy đến, tỳ khưu"; người ấy cũng không có việc quy y; và sự thọ cụ túc giới của người ấy không bị hủy bỏ. Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Itthiṁ hane na mātaraṁ, Purisañca na pitaraṁ hane; Haneyya anariyaṁ mando, Tena cānantaraṁ phuse; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
If one kills a woman who is not one’s mother, If one kills a man who is not one’s father; If a fool kills one who is not noble, How, because of that, would one experience the result in the next life? This question was thought out by those with skill.
Kẻ ngu si có thể giết người nữ không phải là mẹ, và giết người nam không phải là cha; có thể giết người không phải bậc Thánh, và do việc ấy mà phạm tội vô gián. Câu hỏi này đã được những người thiện xảo suy xét.
Itthiṁ hane ca mātaraṁ, Purisañca pitaraṁ hane; Mātaraṁ pitaraṁ hantvā, Na tenānantaraṁ phuse; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
If one kills a woman who is one’s mother, If one kills a man who is one’s father; How, having done this, Does one not experience the result in the next life? This question was thought out by those with skill.
Giết người nữ là mẹ, và giết người nam là cha; sau khi giết mẹ và cha, do đó mà không phạm tội Vô gián. Câu hỏi này đã được các bậc hiền trí suy xét.
Acodayitvā assārayitvā, Asammukhībhūtassa kareyya kammaṁ; Katañca kammaṁ sukataṁ bhaveyya, Kārako ca saṅgho anāpattiko siyā; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
If, without accusing, without reminding, They do a legal procedure, but not face-to-face—How could the procedure be valid, And the Sangha not have committed an offense? This question was thought out by those with skill.
Không khiển trách, không nhắc nhở, có thể thực hiện yết-ma cho người không có mặt. Và yết-ma đã thực hiện có thể là hợp lệ, và Tăng chúng thực hiện có thể không phạm tội. Câu hỏi này đã được các bậc hiền trí suy xét.
Codayitvā sārayitvā, Sammukhībhūtassa kareyya kammaṁ; Katañca kammaṁ akataṁ bhaveyya, Kārako ca saṅgho sāpattiko siyā; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
If, after accusing and reminding, They do a legal procedure face-to-face—How could the procedure be invalid, And the Sangha have committed an offense? This question was thought out by those with skill.
Khiển trách và nhắc nhở, có thể thực hiện yết-ma cho người có mặt. Và yết-ma đã thực hiện có thể là không hợp lệ, và Tăng chúng thực hiện có thể phạm tội. Câu hỏi này đã được các bậc hiền trí suy xét.
Chindantassa āpatti, Chindantassa anāpatti; Chādentassa āpatti, Chādentassa anāpatti; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
How is there an offense for cutting? Yet no offense for cutting? How is there an offense for concealing? Yet no offense for concealing? This question was thought out by those with skill.
Người cắt thì phạm tội, người cắt thì không phạm tội. Người che đậy thì phạm tội, người che đậy thì không phạm tội. Câu hỏi này đã được các bậc hiền trí suy xét.
Saccaṁ bhaṇanto garukaṁ, Musā ca lahu bhāsato; Musā bhaṇanto garukaṁ, Saccañca lahu bhāsato; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
How is speaking the truth a heavy offense, While lying is a light one? And how is lying a heavy offense, While speaking the truth is a light one? This question was thought out by those with skill.
Nói lời chân thật lại phạm tội nặng, và nói lời dối trá lại phạm tội nhẹ; Nói lời dối trá lại phạm tội nặng, và nói lời chân thật lại phạm tội nhẹ; Vấn đề này đã được các bậc hiền trí suy xét.
3. Pācittiyādipañhā
3. Questions on the offenses entailing confession, etc.
3. Các Vấn Đề về Pācittiya v.v...
Adhiṭṭhitaṁ rajanāya rattaṁ, Kappakatampi santaṁ; Paribhuñjantassa āpatti, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
It is determined and dyed, And also marked; How is there an offense for using it? This question was thought out by those with skill.
Y đã được chú nguyện, đã được nhuộm bằng thuốc nhuộm; và cũng đã được làm dấu kappa; người sử dụng (y ấy) bị phạm tội. Vấn đề này đã được các bậc hiền trí suy xét.
Atthaṅgate sūriye bhikkhu maṁsāni khādati, Na ummattako na ca pana khittacitto; Na cāpi so vedanāṭṭo bhaveyya, Na cassa hoti āpatti; So ca dhammo sugatena desito, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
A monk eats meat after sunset, And is neither insane nor deranged; Nor overwhelmed by pain—How, then, is there no offense for him, Yet a rule was taught by the Accomplished One? This question was thought out by those with skill.
Khi mặt trời đã lặn, vị tỳ khưu ăn thịt; vị ấy không phải người điên, cũng không phải người loạn trí, và cũng không phải người bị khổ thọ bức bách; vị ấy không bị phạm tội; và pháp ấy đã được bậc Thiện Thệ thuyết giảng. Vấn đề này đã được các bậc hiền trí suy xét.
Na rattacitto na ca pana theyyacitto, Na cāpi so paraṁ maraṇāya cetayi; Salākaṁ dentassa hoti chejjaṁ, Paṭiggaṇhantassa thullaccayaṁ; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
One is neither lustful nor intent on stealing, Nor intent on killing another; How, then, in giving out a ballot is one cut off? And how does the receiver commit a serious offense? This question was thought out by those with skill.
Không có tâm tham ái, cũng không có tâm trộm cắp, và vị ấy cũng không có ý định khiến người khác phải chết; người đưa thẻ phiếu bị phạm tội bất cộng trụ, người nhận lãnh bị phạm tội thâu lan giá. Vấn đề này đã được các bậc hiền trí suy xét.
Na cāpi āraññakaṁ sāsaṅkasammataṁ, Na cāpi saṅghena sammuti dinnā; Na cassa kathinaṁ atthataṁ tattheva, Cīvaraṁ nikkhipitvā gaccheyya aḍḍhayojanaṁ; Tattheva aruṇaṁ uggacchantassa anāpatti, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
It is not a risky wilderness dwelling, Nor was his robe given by the Sangha; Nor did he participate in the robe-making ceremony there—How, then, if he stores the robe and then travels 6 kilometers, Is there no offense at dawn? This question was thought out by those with skill.
Cũng không phải là trú xứ trong rừng được xem là đáng nghi ngại, cũng không được Tăng chúng cho phép (ly y), và kaṭhina cũng không được thọ tại nơi ấy; sau khi để y lại, vị ấy có thể đi xa nửa do tuần; vị ấy thấy rạng đông tại nơi đó mà không bị phạm tội. Vấn đề này đã được các bậc hiền trí suy xét.
Kāyikāni na vācasikāni, Sabbāni nānāvatthukāni; Apubbaṁ acarimaṁ āpajjeyya ekato, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
Done by body, not by speech, All with different bases for the offense; How, then, does one commit them all together at the same time? This question was thought out by those with skill.
Các tội phát sinh từ thân, không phải từ lời nói; tất cả các tội ấy có đối tượng khác nhau; có thể phạm phải đồng thời, không trước không sau. Vấn đề này đã được các bậc hiền trí suy xét.
Vācasikāni na kāyikāni, Sabbāni nānāvatthukāni; Apubbaṁ acarimaṁ āpajjeyya ekato, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
Done by speech, not by body, All with different bases for the offense; How, then, does one commit them all together at the same time? This question was thought out by those with skill.
Các tội phát sinh từ lời nói, không phải từ thân; tất cả các tội ấy có đối tượng khác nhau; có thể phạm phải đồng thời, không trước không sau. Vấn đề này đã được các bậc hiền trí suy xét.
Tissitthiyo methunaṁ taṁ na seve, Tayo purise tayo anariyapaṇḍake; Na cācare methunaṁ byañjanasmiṁ, Chejjaṁ siyā methunadhammapaccayā; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
One does not have sex with three kinds of women, Nor with three kinds of men, three kinds of ignoble ones, or <i lang='pi' translate='no'>paṇḍakas</i>, As stated in the rule—How, then, might one still be cut off conditioned by sexual intercourse? This question was thought out by those with skill.
Vị ấy không hành dâm với ba loại người nữ, ba loại người nam, ba loại người bán nam bán nữ bất thường; cũng không hành dâm trong bộ phận sinh dục của mình; (nhưng) tội bất cộng trụ vẫn có thể xảy ra do nhân duyên của pháp dâm dục. Vấn đề này đã được các bậc hiền trí suy xét.
Mātaraṁ cīvaraṁ yāce, No ca saṅghe pariṇataṁ; Kenassa hoti āpatti, Anāpatti ca ñātake; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
One might ask one’s mother for robe-cloth, And it was not intended for the Sangha; How, then, is there an offense for one, If there is no offense in regard to one’s relatives? This question was thought out by those with skill.
Xin y từ mẹ, y ấy chưa được dâng đến Tăng chúng; do đâu vị ấy bị phạm tội, và (do đâu) không bị phạm tội đối với người thân quyến? Vấn đề này đã được các bậc hiền trí suy xét.
Kuddho ārādhako hoti, Kuddho hoti garahiyo; Atha ko nāma so dhammo, Yena kuddho pasaṁsiyo; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
One angry person is approved of, One angry person is censured; What is the name of that rule, In which an angry person is praised? This question was thought out by those with skill.
Người sân giận làm cho (người khác) hài lòng, người sân giận bị khiển trách. Vậy, pháp ấy tên là gì, mà do đó người sân giận lại được tán dương? Vấn đề này đã được các bậc hiền trí suy xét.
Tuṭṭho ārādhako hoti, Tuṭṭho hoti garahiyo; Atha ko nāma so dhammo, Yena tuṭṭho garahiyo; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
One contented person is approved of, One contented person is censured; What is the name of that rule, In which a contented person is censured? This question was thought out by those with skill.
Người hoan hỷ làm cho (người khác) hài lòng, người hoan hỷ bị khiển trách. Vậy, pháp ấy tên là gì, mà do đó người hoan hỷ lại bị khiển trách? Vấn đề này đã được các bậc hiền trí suy xét.
Saṅghādisesaṁ thullaccayaṁ, Pācittiyaṁ pāṭidesanīyaṁ; Dukkaṭaṁ āpajjeyya ekato, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
An offense entailing suspension, a serious offense, An offense entailing confession, one entailing acknowledgment, and one of wrong conduct—How does one commit all together? This question was thought out by those with skill.
Tội tăng tàn, tội thâu lan giá, tội ưng đối trị, tội ưng phát lồ, tội đột cát tác; có thể phạm phải đồng thời. Vấn đề này đã được các bậc hiền trí suy xét.
Ubho paripuṇṇavīsativassā, Ubhinnaṁ ekupajjhāyo; Ekācariyo ekā kammavācā, Eko upasampanno eko anupasampanno; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
Both are over twenty years old, Both have the same preceptor, The same teacher, the same ordination procedure—How, then, is it that one is ordained, but not the other? This question was thought out by those with skill.
Cả hai đều đủ hai mươi tuổi; cả hai có cùng một thầy tế độ, cùng một thầy yết ma, cùng một lời yết ma; một người được thọ cụ túc, một người không được thọ cụ túc. Vấn đề này đã được các bậc hiền trí suy xét.
Akappakataṁ nāpi rajanāya rattaṁ, Tena nivattho yena kāmaṁ vajeyya; Na cassa hoti āpatti, So ca dhammo sugatena desito; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
It is neither marked nor dyed, Yet wearing that sarong one may go where one likes—How is there no offense for that person, Yet a rule was taught by the Accomplished One? This question was thought out by those with skill.
Y chưa được làm dấu kappa, cũng chưa được nhuộm bằng thuốc nhuộm; mặc y ấy, vị ấy có thể đi đến bất cứ nơi nào mình muốn; vị ấy không bị phạm tội; và pháp ấy đã được bậc Thiện Thệ thuyết giảng. Vấn đề này đã được các bậc hiền trí suy xét.
Na deti na paṭiggaṇhāti, Paṭiggaho tena na vijjati; Āpajjati garukaṁ na lahukaṁ, Tañca paribhogapaccayā; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
She neither gives nor receives, Because of that there is no recipient; How, then, does she commit a heavy offense, Not a light one, because of using? This question was thought out by those with skill.
Không cho, không nhận, do đó không có sự thọ nhận; (nhưng) phạm tội nặng, không phải tội nhẹ, và đó là do nhân duyên sử dụng. Vấn đề này đã được các bậc hiền trí suy xét.
Na deti na paṭiggaṇhāti, Paṭiggaho tena na vijjati; Āpajjati lahukaṁ na garukaṁ, Tañca paribhogapaccayā; Pañhā mesā kusalehi cintitā.
She neither gives nor receives, Because of that there is no recipient; How, then, does she commit a light offense, Not a heavy one, because of using? This question was thought out by those with skill.
Không cho, không nhận, do đó không có sự thọ nhận; (nhưng) phạm tội nhẹ, không phải tội nặng, và đó là do nhân duyên sử dụng. Vấn đề này đã được các bậc hiền trí suy xét.
Āpajjati garukaṁ sāvasesaṁ, Chādeti anādariyaṁ paṭicca; Na bhikkhunī no ca phuseyya vajjaṁ, Pañhā mesā kusalehi cintitā.
One commits a curable heavy offense, One conceals it out of disrespect; If it was not a nun, how is it that one is not affected by the fault? This question was thought out by those with skill.
Phạm tội nặng còn có thể cứu chữa; che giấu tội do không tôn trọng; (người ấy) không phải là tỳ khưu ni, và cũng không phạm tội (che giấu). Vấn đề này đã được các bậc hiền trí suy xét.
Sedamocanagāthā niṭṭhitā.
Tassuddānaṁ
The sudorific verses are finished.
This is the summary:
Dứt các kệ ngôn làm toát mồ hôi.
Asaṁvāso avissajji, Dasa ca anukkhittako; Upeti dhammaṁ ubbhakkhakaṁ, Tato saññācikā ca dve.
“Excluded from the community, not to be given away, And ten, one who has not been ejected; One arrives at the Teaching, above the collar bone, And then two on begging.
Bất cộng trú, không từ bỏ, mười vị và không bị trục xuất; đến với pháp, phía trên xương đòn, sau đó là hai kệ về việc xin.
Na kāyikañca garukaṁ, na kāyikaṁ na vācasikaṁ; Anālapanto sikkhā ca, ubho ca caturo janā.
And heavy offense by body, Not by body or speech; Not speaking, and training, And two, four people.
Không phải thân và nặng, không phải thân không phải lời; không nói chuyện, học giới, cả hai, và bốn người.
Itthī telañca nissaggi, bhikkhu ca padavītiyo; Nivattho ca na ca ñatti, na mātaraṁ pitaraṁ hane.
Woman, and oil, relinquishment, And monks, a single step; And dressed in a sarong, and no motion, If one kills not one’s mother, if one kills one’s father.
Người nữ, dầu và xả bỏ, tỳ khưu và bước chân; đã mặc, và không có tác bạch, không phải mẹ, giết cha.
Acodayitvā codayitvā, chindantaṁ saccameva ca; Adhiṭṭhitañcatthaṅgate, na rattaṁ na cāraññakaṁ.
Without accusing, after accusing, Cutting, and the truth; And determined, after sunset, Neither lustful, and not the wilderness.
Không khiển trách, đã khiển trách, người cắt đứt, và lời chân thật; đã chú nguyện, khi mặt trời lặn, không tham ái, và không phải trú xứ trong rừng.
Kāyikā vācasikā ca, tissitthī cāpi mātaraṁ; Kuddho ārādhako tuṭṭho, saṅghādisesā ca ubho.
By body, and by speech, And three kinds of women, mother; An angry person who is approved of, contented, And an offense entailing suspension, both.
Thuộc về thân và thuộc về lời, ba người nữ và mẹ; người sân giận làm hài lòng, người hoan hỷ, tăng tàn, và cả hai.
Akappakataṁ na deti, Na detāpajjatī garuṁ; Sedamocanikā gāthā, Pañhā viññūhi vibhāvitāti.
Not marked, she neither gives, She neither gives, one commits a heavy offense—The sudorific verses: Questions explained by the wise.”
Chưa làm dấu kappa, không cho, không cho và phạm tội nặng; các kệ ngôn làm toát mồ hôi, những vấn đề đã được các bậc hiền trí làm cho sáng tỏ.