- Parivāra
Bản dịch
Pvr 17 — Nhóm năm về upāli
17. Upālipañcaka
1. PHẨM KHÔNG NƯƠNG NHỜ:
Inda-bh 1~1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Khi ấy, đại đức Upāli đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Upāli đã nói với đức Thế Tôn điều này: Bạch ngài, vị tỳ khưu có bao nhiêu yếu tố không được sống không nương nhờ cho đến trọn đời?
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố không được sống không nương nhờ cho đến trọn đời. Với năm (yếu tố) gì? Vị không biết về lễ Uposatha, không biết về hành sự của lễ Uposatha, không biết về giới bổn Pātimokkha, không biết về cách đọc tụng giới bổn Pātimokkha, chưa đủ năm năm. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không được sống không nương nhờ cho đến trọn đời.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố được sống không nương nhờ cho đến trọn đời. Với năm (yếu tố) gì? Vị biết về lễ Uposatha, biết về hành sự của lễ Uposatha, biết về giới bổn Pātimokkha, biết về cách đọc tụng giới bổn Pātimokkha, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này được sống không nương nhờ cho đến trọn đời.
Inda-bh 2~2Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa không được sống không nương nhờ cho đến trọn đời. Với năm (yếu tố) gì? Vị không biết về lễ Pavāraṇā, không biết về hành sự của lễ Pavāraṇā, không biết về giới bổn Pātimokkha, không biết về cách đọc tụng giới bổn Pātimokkha, chưa đủ năm năm. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không được sống không nương nhờ cho đến trọn đời.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố được sống không nương nhờ cho đến trọn đời. Với năm (yếu tố) gì? Vị biết về lễ Pavāraṇā, biết về hành sự của lễ Pavāraṇā, biết về giới bổn Pātimokkha, biết về cách đọc tụng giới bổn Pātimokkha, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này được sống không nương nhờ cho đến trọn đời.
Inda-bh 3~3Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa không được sống không nương nhờ cho đến trọn đời. Với năm (yếu tố) gì? Vị không biết về sự phạm tội hay không phạm tội, không biết tội nhẹ hay nặng, không biết tội còn dư sót hay không còn dư sót, không biết tội xấu xa hay không xấu xa, chưa đủ năm năm. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không được sống không nương nhờ cho đến trọn đời.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố được sống không nương nhờ cho đến trọn đời. Với năm (yếu tố) gì? Vị biết về sự phạm tội hay không phạm tội, biết tội nhẹ hay nặng, biết tội còn dư sót hay không còn dư sót, biết tội xấu xa hay không xấu xa, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này được sống không nương nhờ cho đến trọn đời.
Inda-bh 4~4 Bạch ngài, vị tỳ khưu có bao nhiêu yếu tố không được ban phép tu lên bậc trên, không được ban cho phép nương nhờ, không được để cho sa di phục vụ?
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố không được ban phép tu lên bậc trên, không được ban cho phép nương nhờ, không được để cho sa di phục vụ. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không có khả năng chăm sóc hoặc kiếm người chăm sóc cho đệ tử hoặc học trò bị bệnh, (không có khả năng) khuyên giải hoặc nhờ người khuyên giải khi đệ tử hay học trò có sự không hoan hỷ đã sanh khởi, (không có khả năng) phân giải hoặc nhờ vị khác phân giải đúng theo Pháp khi đệ tử hay học trò có mối nghi ngờ sanh khởi, (không có khả năng) hướng dẫn Thắng Pháp và Thắng Luật.[a] Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không được ban phép tu lên bậc trên, không được ban cho phép nương nhờ, không được để cho sa di phục vụ.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố được ban phép tu lên bậc trên, được ban cho phép nương nhờ, được để cho sa di phục vụ. Với năm (yếu tố) gì? Là vị có khả năng chăm sóc hoặc kiếm người chăm sóc cho đệ tử hoặc học trò bị bệnh, (có khả năng) khuyên giải hoặc nhờ người khuyên giải khi đệ tử hay học trò có sự không hoan hỷ đã sanh khởi, (có khả năng) phân giải hoặc nhờ vị khác phân giải đúng theo Pháp khi đệ tử hay học trò có mối nghi ngờ sanh khởi, (có khả năng) hướng dẫn Thắng Pháp và Thắng Luật. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này được ban phép tu lên bậc trên, được ban cho phép nương nhờ, được để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 5~5Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa không được ban phép tu lên bậc trên, không được ban cho phép nương nhờ, không được để cho sa di phục vụ. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không có khả năng để huấn luyện học trò hay đệ tử việc học tập thuộc về phận sự căn bản, (không có khả năng) để hướng dẫn việc học tập thuộc về phần đầu của Phạm hạnh,[b] (không có khả năng) để hướng dẫn về tăng thượng giới, (không có khả năng) để hướng dẫn về tăng thượng tâm, (không có khả năng) để hướng dẫn về tăng thượng tuệ.[c] Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không được ban phép tu lên bậc trên, không được ban cho phép nương nhờ, không được để cho sa di phục vụ.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố được ban phép tu lên bậc trên, được ban cho phép nương nhờ, được để cho sa di phục vụ? Với năm (yếu tố) gì? Là vị có khả năng để huấn luyện học trò hay đệ tử việc học tập thuộc về phận sự căn bản, (có khả năng) để hướng dẫn việc học tập thuộc về phần đầu của Phạm hạnh, (có khả năng) để hướng dẫn về tăng thượng giới, (có khả năng) để hướng dẫn về tăng thượng tâm, (có khả năng) để hướng dẫn về tăng thượng tuệ. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này được ban phép tu lên bậc trên, được ban cho phép nương nhờ, được để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 6~6 Bạch ngài, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu có bao nhiêu yếu tố?
Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị vô liêm sỉ, ngu dốt, không trong sạch, có tà kiến, và bị hư hỏng về nuôi mạng. Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 7~7Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, bị hư hỏng về quan điểm thuộc quan điểm cực đoan, có tà kiến, và bị hư hỏng về nuôi mạng. Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 8~8Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị có sự đùa giỡn bằng thân, có sự đùa giỡn bằng khẩu, có sự đùa giỡn bằng thân và khẩu, có tà kiến, và bị hư hỏng về nuôi mạng. Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 9~9Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị có hành vi sai trái bằng thân, có hành vi sai trái bằng khẩu, có hành vi sai trái bằng thân và khẩu, có tà kiến, và bị hư hỏng về nuôi mạng. Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 10~10Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị có sự gây tổn hại bằng thân, có sự gây tổn hại bằng khẩu, có sự gây tổn hại bằng thân và khẩu, có tà kiến, và bị hư hỏng về nuôi mạng. Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 11~11Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị có sự nuôi mạng sai trái bằng thân, có sự nuôi mạng sai trái bằng khẩu, có sự nuôi mạng sai trái bằng thân và khẩu, có tà kiến, và bị hư hỏng về nuôi mạng. Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 12~12Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị phạm tội đã được thực hiện hành sự (vẫn) ban phép tu lên bậc trên, (vẫn) ban cho phép nương nhờ, (vẫn) để cho sa di phục vụ, (vẫn) chấp nhận việc chỉ định giáo giới tỳ khưu ni, (vẫn) giáo giới tỳ khưu ni khi đã được chỉ định. Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 13~13Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự, hoặc tội khác tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, là vị chỉ trích hành sự, chỉ trích các vị thực hiện hành sự. Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 14~14Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị chê bai đức Phật, là vị chê bai Giáo Pháp, là vị chê bai Hội Chúng, có tà kiến, và bị hư hỏng về nuôi mạng. Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Phẩm Không Nương Nhờ là thứ nhất.
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
Inda-bh 1~15Lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, tội vi phạm, và người bệnh, phần phận sự căn bản, và vị vô liêm sỉ, tăng thượng giới, và với sự chơi giỡn.
Inda-bh 2~16Sở hành sai trái, gây tổn hại, tà kiến, và luôn cả tội vi phạm, với tội vi phạm nào, (chê bai) đối với đức Phật, phần tổng hợp về phẩm thứ nhất.
2. PHẨM KHÔNG THÂU HỒI:
Inda-bh 1~17 Bạch ngài, hành sự không nên được thâu hồi đối với vị tỳ khưu có bao nhiêu yếu tố?
Này Upāli, hành sự không nên được thâu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị phạm tội đã được thực hiện hành sự (vẫn) ban phép tu lên bậc trên, (vẫn) ban cho phép nương nhờ, (vẫn) để cho sa di phục vụ, (vẫn) chấp nhận việc chỉ định giáo giới tỳ khưu ni, (vẫn) giáo giới tỳ khưu ni khi đã được chỉ định. Này Upāli, hành sự không nên được thâu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 2~18Này Upāli, hành sự không nên được thâu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự, hoặc tội khác tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, là vị chỉ trích hành sự, chỉ trích các vị thực hiện hành sự. Này Upāli, hành sự không nên được thâu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 3~19Này Upāli, hành sự không nên được thâu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị chê bai đức Phật, là vị chê bai Giáo Pháp, là vị chê bai Hội Chúng, có tà kiến, và bị hư hỏng về nuôi mạng. Này Upāli, hành sự không nên được thâu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 4~20Này Upāli, hành sự không nên được thâu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị vô liêm sỉ, ngu dốt, không trong sạch, là vị gây ra các sự xích mích, và không làm đầy đủ việc học tập trong các phận sự. Này Upāli, hành sự không nên được thâu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 5~21 Bạch ngài, vị tỳ khưu theo đuổi sự xung đột, trong khi đi đến hội chúng, nên thiết lập ở nội tâm bao nhiêu pháp rồi đi đến hội chúng?
Này Upāli, vị tỳ khưu theo đuổi sự xung đột, trong khi đi đến hội chúng, nên thiết lập ở nội tâm năm pháp rồi đi đến hội chúng. Năm (pháp) gì? Này Upāli, vị tỳ khưu theo đuổi sự xung đột, trong khi đi đến hội chúng, nên đi đến hội chúng với tâm nhún nhường, với tâm như là không bị cấu uế, nên khéo léo về chỗ ngồi và khéo léo khi ngồi xuống, nên ngồi xuống ở chỗ ngồi thích hợp không chiếm chỗ của các tỳ khưu trưởng lão, không buộc các tỳ khưu mới tu phải nhường chỗ ngồi, không nên là người nói linh tinh, không nên là người nói chuyện nhảm nhí, hoặc là nên tự mình nói Pháp hoặc là nên thỉnh cầu vị khác (nói Pháp), hoặc là không nên xem thường trạng thái im lặng thánh thiện. Này Upāli, nếu hội chúng thực hiện các hành sự cần được thực hiện với sự hợp nhất, này Upāli, trong trường hợp ấy nếu vị tỳ khưu không đồng ý (điều gì) thì nên bày tỏ quan điểm và nên đạt đến sự hợp nhất. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? (Vị ấy nên nghĩ rằng): ‘Ta chớ nên khác biệt với hội chúng.’ Này Upāli, vị tỳ khưu theo đuổi sự xung đột, trong khi đi đến hội chúng, nên thiết lập ở nội tâm năm pháp này rồi đi đến hội chúng.
Inda-bh 6~22 Bạch ngài, trong khi phát biểu ở hội chúng, vị tỳ khưu có bao nhiêu yếu tố không được nhiều người thích, không được nhiều người mến, không được nhiều người hài lòng?
Này Upāli, trong khi phát biểu ở hội chúng, vị tỳ khưu có năm yếu tố không được nhiều người thích, không được nhiều người mến, không được nhiều người hài lòng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị nói khoa trương, là vị nói theo lời nói của người khác, không khéo léo trong sự mạch lạc của lời phát biểu, là vị cáo tội không theo Pháp không theo Luật không đúng tội, là vị hành xử không theo Pháp không theo Luật không đúng tội. Này Upāli, trong khi phát biểu ở hội chúng, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không được nhiều người thích, không được nhiều người mến, không được nhiều người hài lòng.
Này Upāli, trong khi phát biểu ở hội chúng, vị tỳ khưu có năm yếu tố được nhiều người thích, được nhiều người mến, được nhiều người hài lòng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị nói không khoa trương, là vị không nói theo lời nói của người khác, khéo léo trong sự mạch lạc của lời phát biểu, là vị cáo tội theo Pháp theo Luật đúng tội, là vị hành xử theo Pháp theo Luật đúng tội. Này Upāli, trong khi phát biểu ở hội chúng, vị tỳ khưu có năm yếu tố này được nhiều người thích, được nhiều người mến, được nhiều người hài lòng.
Inda-bh 7~23Này Upāli, trong khi phát biểu ở hội chúng, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa không được nhiều người thích, không được nhiều người mến, không được nhiều người hài lòng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị nói tâng bốc, là vị làm mất niềm tin, là vị nắm giữ phi Pháp, là vị chối từ Pháp, và nói nhiều chuyện vớ vẩn. Này Upāli, trong khi phát biểu ở hội chúng, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không được nhiều người thích, không được nhiều người mến, không được nhiều người hài lòng.
Này Upāli, trong khi phát biểu ở hội chúng, vị tỳ khưu có năm yếu tố được nhiều người thích, được nhiều người mến, được nhiều người hài lòng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không nói tâng bốc, là vị không làm mất niềm tin, là vị nắm giữ Pháp, là vị chối từ phi Pháp, và không nói nhiều chuyện vớ vẩn. Này Upāli, trong khi phát biểu ở hội chúng, vị tỳ khưu có năm yếu tố này được nhiều người thích, được nhiều người mến, được nhiều người hài lòng.
Inda-bh 8~24Này Upāli, trong khi phát biểu ở hội chúng, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa không được nhiều người thích, không được nhiều người mến, không được nhiều người hài lòng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị nói một cách thô lỗ, là vị nói khi chưa thỉnh ý, là vị cáo tội không theo Pháp không theo Luật không đúng tội, là vị hành xử không theo Pháp không theo Luật không đúng tội, là vị không trình bày theo kiến thức. Này Upāli, trong khi phát biểu ở hội chúng, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không được nhiều người thích, không được nhiều người mến, không được nhiều người hài lòng.
Này Upāli, trong khi phát biểu ở hội chúng, vị tỳ khưu có năm yếu tố được nhiều người thích, được nhiều người mến, được nhiều người hài lòng. Với năm (yếu tố) gì? Không là vị nói một cách thô lỗ, là vị nói sau khi đã thỉnh ý, là vị cáo tội theo Pháp theo Luật đúng tội, là vị hành xử theo Pháp theo Luật đúng tội, là vị trình bày theo kiến thức. Này Upāli, trong khi phát biểu ở hội chúng, vị tỳ khưu có năm yếu tố này được nhiều người thích, được nhiều người mến, được nhiều người hài lòng.
Inda-bh 9~25 Bạch ngài, có bao nhiêu lợi ích trong sự tinh thông về Luật?
Này Upāli, có năm lợi ích trong sự tinh thông về Luật. Thế nào là năm? Giới uẩn của bản thân khéo được gìn giữ khéo được hộ trì, là nơi nương tựa của các vị thường hay có sự ăn năn, là vị phát biểu ở giữa hội chúng với sự tự tin, là vị khuất phục những kẻ đối nghịch một cách khéo léo đúng theo Pháp, là vị thực hành vì sự tồn tại của Chánh Pháp. Này Upāli, đây là năm lợi ích trong sự tinh thông về Luật.
Phẩm Không Thâu Hồi là thứ nhì.
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
Đã bị phạm tội, với điều nào, và sự khen ngợi, vị vô liêm sỉ, và với sự xung đột, vị khoe khoang, và tâng bốc, thô lỗ, với sự tinh thông.
Sự quy định từng đôi thứ nhất.
3. PHẨM PHÁT BIỂU:
Inda-bh 1~26 Bạch ngài, vị tỳ khưu có bao nhiêu yếu tố không nên phát biểu ở hội chúng?
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố không nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về tội, không biết về nguồn sanh tội, không biết về sự tiến hành của tội, không biết về cách giải quyết tội, không khéo léo trong việc phán quyết tội. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không nên phát biểu ở hội chúng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về tội, biết về nguồn sanh tội, biết về sự tiến hành của tội, biết về cách giải quyết tội, khéo léo trong việc phán quyết tội. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này nên phát biểu ở hội chúng.
Inda-bh 2~27Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa không nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về sự tranh tụng, không biết về nguồn sanh khởi của tranh tụng, không biết về cách tiến hành tranh tụng, không biết về cách giải quyết tranh tụng, không khéo léo trong việc phán quyết về tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không nên phát biểu ở hội chúng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về sự tranh tụng, biết về nguồn sanh khởi của tranh tụng, biết về cách tiến hành tranh tụng, biết về cách giải quyết tranh tụng, khéo léo trong việc phán quyết về tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này nên phát biểu ở hội chúng.
Inda-bh 3~28Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa không nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị nói một cách thô lỗ, là vị nói khi chưa thỉnh ý, là vị cáo tội không theo Pháp không theo Luật không đúng tội, là vị hành xử không theo Pháp không theo Luật không đúng tội, là vị trình bày không theo quan điểm. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không nên phát biểu ở hội chúng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không nói một cách thô lỗ, là vị nói sau khi đã thỉnh ý, là vị cáo tội theo Pháp theo Luật đúng tội, là vị hành xử theo Pháp theo Luật đúng tội, là vị trình bày theo kiến thức. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này nên phát biểu ở hội chúng.
Inda-bh 4~29Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa không nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về sự phạm tội hay không phạm tội, không biết tội nhẹ hay nặng, không biết tội còn dư sót hay không còn dư sót, không biết tội xấu xa hay không xấu xa, không biết tội có sự sửa chữa hay không có sự sửa chữa. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không nên phát biểu ở hội chúng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về sự phạm tội hay không phạm tội, biết tội nhẹ hay nặng, biết tội còn dư sót hay không còn dư sót, biết tội xấu xa hay không xấu xa, biết về tội có sự sửa chữa hay không có sự sửa chữa. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này nên phát biểu ở hội chúng.
Inda-bh 5~30Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa không nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về hành sự, không biết về sự thực hiện của hành sự, không biết về sự việc của hành sự, không biết về phận sự của hành sự, không biết về cách giải quyết hành sự. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không nên phát biểu ở hội chúng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về hành sự, biết về sự thực hiện của hành sự, biết về sự việc của hành sự, biết về phận sự của hành sự, biết về cách giải quyết hành sự. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này nên phát biểu ở hội chúng.
Inda-bh 6~31Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa không nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về sự việc, không biết về duyên khởi, không biết về điều quy định, không biết về thứ tự của chữ (trong câu), không biết về phương thức của lối trình bày mạch lạc. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không nên phát biểu ở hội chúng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về sự việc, biết về duyên khởi, biết về điều quy định, biết về thứ tự của chữ (trong câu), biết về phương thức của lối trình bày mạch lạc. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này nên phát biểu ở hội chúng.
Inda-bh 7~32Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa không nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị thiên vị vì ưa thích, thiên vị vì sân hận, thiên vị vì si mê, thiên vị vì sợ hãi, và là vị vô liêm sỉ. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không nên phát biểu ở hội chúng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không thiên vị vì ưa thích, không thiên vị vì sân hận, không thiên vị vì si mê, không thiên vị vì sợ hãi, và là vị có liêm sỉ. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này nên phát biểu ở hội chúng.
Inda-bh 8~33Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa không nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị thiên vị vì ưa thích, thiên vị vì sân hận, thiên vị vì si mê, thiên vị vì sợ hãi, là vị không khéo léo về Luật. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không nên phát biểu ở hội chúng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không thiên vị vì ưa thích, không thiên vị vì sân hận, không thiên vị vì si mê, không thiên vị vì sợ hãi, là vị khéo léo về Luật. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này nên phát biểu ở hội chúng.
Inda-bh 9~34Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa không nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về lời đề nghị, không biết về việc thực hiện lời đề nghị, không biết về lời tuyên bố của lời đề nghị, vị không biết cách dàn xếp của lời đề nghị, vị không biết cách giải quyết của lời đề nghị. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không nên phát biểu ở hội chúng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về lời đề nghị, biết về việc thực hiện lời đề nghị, biết về lời tuyên bố của lời đề nghị, vị biết cách dàn xếp của lời đề nghị, vị biết cách giải quyết của lời đề nghị. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này nên phát biểu ở hội chúng.
Inda-bh 10~35Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa không nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về giới bổn, không biết về điều phù hợp với giới bổn, không biết về Luật, không biết về điều phù hợp với Luật, vị không khéo léo về việc thành lập (tội) hay không thành lập (tội). Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không nên phát biểu ở hội chúng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về giới bổn, biết về điều phù hợp với giới bổn, biết về Luật, biết về điều phù hợp với Luật, vị khéo léo về việc thành lập (tội) hay không thành lập (tội). Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này nên phát biểu ở hội chúng.
Inda-bh 11~36Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa không nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về Pháp, không biết về điều phù hợp với Pháp, không biết về Luật, không biết về điều phù hợp với Luật, vị không khéo léo về việc trước và việc sau. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không nên phát biểu ở hội chúng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố nên phát biểu ở hội chúng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về Pháp, biết về điều phù hợp với Pháp, biết về Luật, biết về điều phù hợp với Luật, vị khéo léo về việc trước và việc sau. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này nên phát biểu ở hội chúng.
Phẩm Phát Biểu là thứ ba.
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
Tội vi phạm, sự tranh tụng, thô lỗ, vị biết về tội vi phạm, hành sự, sự việc, và vị vô liêm sỉ, vị không khéo léo, và với lời đề nghị, vị không biết về điều học, Giáo Pháp, phần tổng hợp về phẩm thứ ba.
4. PHẨM TRÌNH BÀY QUAN ĐIỂM:
Inda-bh 1~37 Bạch ngài, có bao nhiêu sự trình bày quan điểm sai pháp?
Này Upāli, đây là năm sự trình bày quan điểm sai pháp. Thế nào là năm? Vị trình bày quan điểm rằng không có sự vi phạm tội, vị trình bày quan điểm rằng sự phạm tội không đưa đến sám hối, vị trình bày quan điểm rằng tội đã được sám hối, vị trình bày quan điểm rằng (sám hối chung) bởi bốn năm vị, vị trình bày quan điểm rằng (sám hối) bằng tác ý của tâm. Này Upāli, đây là năm sự trình bày quan điểm sai pháp.
Này Upāli, có năm sự trình bày quan điểm đúng pháp. Thế nào là năm? Vị trình bày quan điểm rằng có sự vi phạm tội, vị trình bày quan điểm rằng sự phạm tội đưa đến sám hối, vị trình bày quan điểm rằng tội chưa được sám hối, vị trình bày quan điểm rằng không (sám hối chung) bởi bốn năm vị, vị trình bày quan điểm rằng không (sám hối) bằng tác ý của tâm. Này Upāli, đây là năm sự trình bày quan điểm đúng pháp.
Inda-bh 2~38Này Upāli, có năm sự trình bày quan điểm sai pháp khác nữa. Thế nào là năm? Vị trình bày quan điểm rằng (sám hối) trong sự hiện diện của vị không đồng cộng trú, vị trình bày quan điểm rằng (sám hối) trong sự hiện diện của vị đứng không cùng ranh giới, vị trình bày quan điểm rằng (sám hối) trong sự hiện diện của vị không trong sạch, vị trình bày quan điểm rằng (sám hối chung) bởi bốn năm vị, vị trình bày quan điểm rằng (sám hối) bằng tác ý của tâm. Này Upāli, đây là năm sự trình bày quan điểm sai pháp.
Này Upāli, đây là năm sự trình bày quan điểm đúng pháp. Thế nào là năm? Vị trình bày quan điểm rằng (sám hối) trong sự hiện diện của vị đồng cộng trú, vị trình bày quan điểm rằng (sám hối) trong sự hiện diện của vị đứng chung ranh giới, vị trình bày quan điểm rằng (sám hối) trong sự hiện diện của vị trong sạch, vị trình bày quan điểm rằng không (sám hối chung) bởi bốn năm vị, vị trình bày quan điểm rằng không (sám hối) bằng tác ý của tâm. Này Upāli, đây là năm sự trình bày quan điểm đúng pháp.
Inda-bh 3~39 Bạch ngài, có bao nhiêu sự thọ lãnh sai pháp?
Này Upāli, đây là năm sự thọ lãnh sai pháp. Thế nào là năm? Vật được cho bằng thân không được thọ lãnh bằng thân; vật được cho bằng thân không được thọ lãnh bằng vật gắn liền với thân; vật được cho bằng vật gắn liền với thân không được thọ lãnh bằng thân; vật được cho bằng vật gắn liền với thân không được thọ lãnh bằng vật gắn liền với thân; vật được cho bằng sự buông ra không được thọ lãnh bằng thân hoặc bằng vật gắn liền với thân. Này Upāli, đây là năm sự thọ lãnh sai pháp.
Này Upāli, đây là năm sự thọ lãnh đúng pháp. Thế nào là năm? Vật được cho bằng thân được thọ lãnh bằng thân; vật được cho bằng thân được thọ lãnh bằng vật gắn liền với thân; vật được cho bằng vật gắn liền với thân được thọ lãnh bằng thân; vật được cho bằng vật gắn liền với thân được thọ lãnh bằng vật gắn liền với thân; vật được cho bằng sự buông ra được thọ lãnh bằng thân hoặc bằng vật gắn liền với thân. Này Upāli, đây là năm sự thọ lãnh đúng pháp.
Inda-bh 4~40 Bạch ngài, có bao nhiêu vật không phải là đồ thừa?
Này Upāli, đây là năm vật không phải là đồ thừa. Thế nào là năm? Là vật chưa làm thành được phép, việc thọ lãnh chưa được thực hiện, việc nâng lên chưa được thực hiện, đã được thực hiện ngoài tầm tay, chưa được nói rằng: ‘Tất cả đây là đủ rồi.’ Này Upāli, đây là năm vật không phải là đồ thừa.
Này Upāli, đây là năm vật là đồ thừa. Thế nào là năm? Là vật đã làm thành được phép, việc thọ lãnh đã được thực hiện, việc nâng lên đã được thực hiện, đã được thực hiện ở trong tầm tay, đã được nói rằng: ‘Tất cả đây là đủ rồi.’ Này Upāli, đây là năm vật là đồ thừa.
Inda-bh 5~41 Bạch ngài, việc ngăn được nhận biết với bao nhiêu biểu hiện?
Này Upāli, việc ngăn được nhận biết với năm biểu hiện. Với năm (biểu hiện) gì? Việc ăn được nhận biết, vật thực được nhận biết, đã đứng ở trong tầm tay, (thí chủ) dâng lên, việc từ chối được nhận biết. Này Upāli, việc ngăn (vật thực) được nhận biết với năm biểu hiện này.
Inda-bh 6~42 Bạch ngài, có bao nhiêu việc phán xử theo tội đã được thừa nhận sai pháp?
Này Upāli, đây là năm việc phán xử theo tội đã được thừa nhận sai pháp. Thế nào là năm? Vị tỳ khưu đã vi phạm tội pārājika, trong khi bị buộc tội với tội pārājika vị (ấy) thú nhận đã phạm tội saṅghādisesa; hội chúng tiến hành cho vị ấy với tội saṅghādisesa là việc phán xử theo tội đã được thừa nhận sai pháp. Vị tỳ khưu đã vi phạm tội pārājika, trong khi bị buộc tội với tội pārājika vị (ấy) thú nhận đã phạm tội pācittiya, … nt … tội pāṭidesanīya, … nt … tội dukkaṭa; hội chúng tiến hành cho vị ấy với tội dukkaṭa là việc phán xử theo tội đã được thừa nhận sai pháp.
Vị tỳ khưu đã vi phạm tội saṅghādisesa, … (như trên) … tội pācittiya, … (như trên) … tội pāṭidesanīya, … (như trên) … tội dukkaṭa, trong khi bị buộc tội với tội dukkaṭa vị (ấy) thú nhận đã phạm tội pārājika; hội chúng tiến hành cho vị ấy với tội pārājika là việc phán xử theo tội đã được thừa nhận sai pháp. Vị tỳ khưu đã vi phạm tội dukkaṭa, trong khi bị buộc tội với tội dukkaṭa vị (ấy) thú nhận đã phạm tội saṅghādisesa, … (như trên) … tội pācittiya, … (như trên) … tội pāṭidesanīya; hội chúng tiến hành cho vị ấy với tội pāṭidesanīya là việc phán xử theo tội đã được thừa nhận sai pháp. Này Upāli, đây là năm việc phán xử theo tội đã được thừa nhận sai pháp.
Này Upāli, đây là năm việc phán xử theo tội đã được thừa nhận đúng pháp. Thế nào là năm? Vị tỳ khưu đã vi phạm tội pārājika, trong khi bị buộc tội với tội pārājika vị (ấy) thú nhận đã phạm tội pārājika; hội chúng tiến hành cho vị ấy với tội pārājika là việc phán xử theo tội đã được thừa nhận đúng pháp. Vị tỳ khưu đã vi phạm tội saṅghādisesa, … (như trên) … tội pācittiya, … (như trên) … tội pāṭidesanīya, … (như trên) … tội dukkaṭa, trong khi bị buộc tội với tội dukkaṭa vị (ấy) thú nhận đã phạm tội dukkaṭa; hội chúng tiến hành cho vị ấy với tội dukkaṭa là việc phán xử theo tội đã được thừa nhận đúng pháp. Này Upāli, đây là năm việc phán xử theo tội đã được thừa nhận đúng pháp.
Inda-bh 7~43 Bạch ngài, việc thỉnh ý là không cần thiết trong khi thỉnh ý (để buộc tội) vị tỳ khưu có bao nhiêu yếu tố?
Này Upāli, việc thỉnh ý là không cần thiết trong khi thỉnh ý (để buộc tội) vị tỳ khưu có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị vô liêm sỉ, là vị ngu dốt, là vị không trong sạch, là vị nói với ý định loại trừ, không với ý định giúp cho thoát tội. Này Upāli, việc thỉnh ý là không cần thiết trong khi thỉnh ý (để buộc tội) vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Này Upāli, việc thỉnh ý là cần thiết trong khi thỉnh ý (để buộc tội) vị tỳ khưu có năm yếu tố? Với năm (yếu tố) gì? Là vị có liêm sỉ, là vị thông thái, là vị trong sạch, là vị nói với ý định giúp cho thoát tội, là vị không có ý định loại trừ. Này Upāli, việc thỉnh ý là cần thiết trong khi thỉnh ý (để buộc tội) vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 8~44 Bạch ngài, không nên thảo luận về Luật với vị tỳ khưu có bao nhiêu yếu tố?
Này Upāli, không nên thảo luận về Luật với vị tỳ khưu có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về sự việc, không biết về duyên khởi, không biết về điều quy định, không biết về thứ tự của chữ (trong câu), không biết về phương thức của lối trình bày mạch lạc. Này Upāli, không nên thảo luận về Luật với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Này Upāli, nên thảo luận về Luật với vị tỳ khưu có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về sự việc, biết về duyên khởi, biết về điều quy định, biết về thứ tự của chữ (trong câu), biết về phương thức của lối trình bày mạch lạc. Này Upāli, nên thảo luận về Luật với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 9~45 Bạch ngài, có bao nhiêu lối hỏi câu hỏi?
Này Upāli, đây là năm lối hỏi câu hỏi. Thế nào là năm? Vị có bản tánh ngu khờ có bản tánh si mê hỏi câu hỏi; vị có ước muốn xấu xa bị thúc giục bởi ước muốn rồi hỏi câu hỏi; vị hỏi câu hỏi do sự khinh khi; vị hỏi câu hỏi với ý muốn hiểu biết; vị hỏi câu hỏi (nghĩ rằng): ‘Nếu được ta hỏi câu hỏi vị (ấy) sẽ trả lời đúng đắn, như thế việc này là tốt đẹp, nếu được hỏi câu hỏi mà vị (ấy) không trả lời đúng đắn, ta sẽ trả lời đúng đắn cho vị ấy.’ Này Upāli, đây là năm lối hỏi câu hỏi.
Inda-bh 10~46 Bạch ngài, có bao nhiêu lối bày tỏ kiến thức?
Này Upāli, đây là năm lối bày tỏ kiến thức. Thế nào là năm? Vị có bản tánh ngu khờ có bản tánh si mê bày tỏ kiến thức, vị có ước muốn xấu xa bị thúc giục bởi ước muốn rồi bày tỏ kiến thức, vị bày tỏ kiến thức do bị điên do bị mất trí, vị bày tỏ kiến thức với sự tự hào quá đáng, vị bày tỏ kiến thức thật có. Này Upāli, đây là năm lối bày tỏ kiến thức.
Inda-bh 11~47 Bạch ngài, có bao nhiêu cách làm cho trong sạch?
Này Upāli, đây là năm cách làm cho trong sạch. Thế nào là năm? Sau khi đọc tụng phần mở đầu, nên thông báo phần còn lại bằng cách đã được nghe; đây là cách làm cho trong sạch thứ nhất. Sau khi đọc tụng phần mở đầu, sau khi đọc tụng bốn điều pārājika, nên thông báo phần còn lại bằng cách đã được nghe; đây là cách làm cho trong sạch thứ nhì. Sau khi đọc tụng phần mở đầu, sau khi đọc tụng bốn điều pārājika, sau khi đọc tụng mười ba điều saṅghādisesa, nên thông báo phần còn lại bằng cách đã được nghe; đây là cách làm cho trong sạch thứ ba. Sau khi đọc tụng phần mở đầu, sau khi đọc tụng bốn điều pārājika, sau khi đọc tụng mười ba điều saṅghādisesa, sau khi đọc tụng hai điều aniyata, nên thông báo phần còn lại bằng cách đã được nghe; đây là cách làm cho trong sạch thứ tư. (Đọc tụng) một cách đầy đủ là cách thứ năm. Này Upāli, đây là năm cách làm cho trong sạch.
Inda-bh 12~48 Bạch ngài, có bao nhiêu loại vật thực mềm?
Này Upāli, đây là năm loại vật thực mềm. Thế nào là năm? Cơm, xúp, bánh, cá, thịt. Này Upāli, đây là năm loại vật thực mềm.
Phẩm Trình Bày Quan Điểm là thứ tư.
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
Việc trình bày quan điểm, những điều khác nữa, việc thọ lãnh, vật không phải là đồ thừa, việc ngăn, đã được thừa nhận, việc thỉnh ý, và với sự thảo luận, câu hỏi, bày tỏ kiến thức, sự trong sạch, và cả vật thực nữa.
5. PHẨM ĐÍCH THÂN KHỞI TỐ:
Inda-bh 1~49 Bạch ngài, vị tỳ khưu nguyên cáo có ý muốn cáo tội vị khác nên quán xét nội tâm bao nhiêu pháp rồi mới nên cáo tội vị khác?
Này Upāli, vị tỳ khưu nguyên cáo có ý muốn cáo tội vị khác nên quán xét nội tâm năm pháp rồi mới nên cáo tội vị khác. Thế nào là năm? Này Upāli, vị tỳ khưu nguyên cáo có ý muốn cáo tội vị khác nên quán xét như vầy: ‘Ta có sở hành về thân trong sạch không? Ta có sở hành về thân trong sạch không sai sót không lỗi lầm không? Pháp ấy được tìm thấy ở ta hay không (được tìm thấy)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu không có sở hành về thân trong sạch, không có sở hành về thân trong sạch không sai sót không lỗi lầm, có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này, đến lúc đại đức nên rèn luyện điều liên quan đến thân;’ có những người nói với vị này như thế.
Này Upāli, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu nguyên cáo có ý muốn cáo tội vị khác nên quán xét như vầy: ‘Ta có sở hành về khẩu trong sạch không? Ta có sở hành về khẩu trong sạch không sai sót không lỗi lầm không? Pháp ấy được tìm thấy ở ta hay không (được tìm thấy)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu không có sở hành về khẩu trong sạch, không có sở hành về khẩu trong sạch không sai sót không lỗi lầm, có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này, đến lúc đại đức nên rèn luyện điều liên quan đến khẩu;’ có những người nói với vị này như thế.
Này Upāli, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu nguyên cáo có ý muốn cáo tội vị khác nên quán xét như vầy: ‘Tâm từ của ta tức là tâm không ác cảm đối với các vị đồng phạm hạnh có hiện khởi không? Pháp ấy được tìm thấy ở ta hay không (được tìm thấy)?’ Này Upāli, nếu tâm từ của vị tỳ khưu là tâm không ác cảm đối với các vị đồng phạm hạnh không có hiện khởi, có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này, đến lúc đại đức nên thể hiện tâm từ đến các vị đồng phạm hạnh;’ có những người nói với vị này như thế.
Này Upāli, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu nguyên cáo có ý muốn cáo tội vị khác nên quán xét như vầy: ‘Ta có phải là vị nghe nhiều, ghi nhớ điều đã được nghe, tích lũy điều đã được nghe không? Những Pháp nào có sự tốt đẹp phần đầu, tốt đẹp phần giữa, tốt đẹp phần cuối, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự, tuyên thuyết về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ, các Pháp có hình thức tương tợ như thế có được ta nghe nhiều, ghi nhớ, ôn đọc ra lời, quán xét bằng ý, thâm nhập bằng kiến thức không? Pháp ấy được tìm thấy ở ta hay không (được tìm thấy)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu không phải là vị nghe nhiều, ghi nhớ được điều đã nghe, tích lũy điều đã nghe. Những Pháp nào có sự tốt đẹp phần đầu, tốt đẹp phần giữa, tốt đẹp phần cuối, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự, tuyên thuyết về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ, các Pháp có hình thức tương tợ như thế không được vị ấy nghe nhiều, ghi nhớ, ôn đọc ra lời, quán xét bằng ý, thâm nhập bằng kiến thức, có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này, đến lúc đại đức nên học tập kinh điển;’ có những người nói với vị này như thế.
Này Upāli, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu nguyên cáo có ý muốn cáo tội vị khác nên quán xét như vầy: ‘Đối với ta, hai bộ giới bổn Pātimokkha có được truyền thừa với chi tiết, khéo được phân tích, khéo được áp dụng, khéo được xác định theo từng điều học hoặc theo từng từ ngữ không? Pháp ấy được tìm thấy ở ta hay không (được tìm thấy)?’ Này Upāli, nếu đối với vị tỳ khưu hai bộ giới bổn Pātimokkha không được truyền thừa với chi tiết, không khéo được phân tích, không khéo được áp dụng, không khéo được xác định theo từng điều học hoặc theo từng từ ngữ, khi (vị ấy) được hỏi như vầy: ‘Này đại đức, điều này đã được đức Thế Tôn nói ở đâu?’ mà không đáp được, không hiểu được, có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này, đến lúc đại đức nên học tập về Luật;’ có những người nói với vị này như thế. Này Upāli, vị tỳ khưu nguyên cáo có ý muốn cáo tội vị khác nên quán xét bản thân năm pháp này rồi mới nên cáo tội vị khác.
Inda-bh 2~50 Bạch ngài, vị tỳ khưu nguyên cáo có ý muốn cáo tội vị khác nên thiết lập ở nội tâm bao nhiêu pháp rồi mới nên cáo tội vị khác?
Này Upāli, vị tỳ khưu nguyên cáo có ý muốn cáo tội vị khác nên thiết lập ở nội tâm năm pháp rồi mới nên cáo tội vị khác. Thế nào là năm? ‘Ta sẽ nói hợp thời, không phải sái thời; ta sẽ nói với sự thật, không phải với sự sai trái; ta sẽ nói với sự mềm mỏng, không phải bằng cách thô lỗ; ta sẽ nói có liên hệ đến lợi ích, không phải không liên hệ đến lợi ích; ta sẽ nói với tâm từ, không phải với nội tâm có sân hận.’ Này Upāli, vị tỳ khưu nguyên cáo có ý muốn cáo tội vị khác nên thiết lập ở nội tâm năm pháp này rồi mới nên cáo tội vị khác.
Inda-bh 3~51 Bạch ngài, vị tỳ khưu nguyên cáo có ý muốn cáo tội vị khác nên tác ý nội tâm bao nhiêu pháp rồi mới nên cáo tội vị khác?
Này Upāli, vị tỳ khưu nguyên cáo có ý muốn cáo tội vị khác nên tác ý nội tâm năm pháp rồi mới nên cáo tội vị khác. Thế nào là năm? Lòng bi mẫn, sự tầm cầu lợi ích, lòng thương xót, sự thoát khỏi tội, sự tôn trọng Luật. Này Upāli, vị tỳ khưu nguyên cáo có ý muốn cáo tội vị khác nên tác ý nội tâm năm pháp ấy rồi mới nên cáo tội vị khác.
Inda-bh 4~52 Bạch ngài, việc thỉnh ý là không cần thiết trong khi thỉnh ý (để buộc tội) vị tỳ khưu có bao nhiêu yếu tố?
Này Upāli, việc thỉnh ý là không cần thiết trong khi thỉnh ý (để buộc tội) vị tỳ khưu có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị có sở hành về thân không được trong sạch, có sở hành về khẩu không được trong sạch, có sự nuôi mạng không được trong sạch, (là vị) ngu dốt không kinh nghiệm, không có khả năng đối đáp lại trong khi bị thẩm vấn. Này Upāli, việc thỉnh ý là không cần thiết trong khi thỉnh ý (để buộc tội) vị tỳ khưu có năm yếu tố.
Này Upāli, việc thỉnh ý là cần thiết trong khi thỉnh ý (để buộc tội) vị tỳ khưu có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị có sở hành về thân được trong sạch, có sở hành về khẩu được trong sạch, có sự nuôi mạng được trong sạch, (là vị) thông thái có kinh nghiệm, có khả năng đối đáp lại trong khi bị thẩm vấn. Này Upāli, việc thỉnh ý là cần thiết trong khi thỉnh ý (để buộc tội) vị tỳ khưu có năm yếu tố.’
Inda-bh 5~53 Bạch ngài, vị tỳ khưu có ý muốn áp dụng việc đích thân khởi tố nên áp dụng việc đích thân khởi tố khi có được bao nhiêu yếu tố?
Này Upāli, vị tỳ khưu có ý muốn áp dụng việc đích thân khởi tố nên áp dụng việc đích thân khởi tố khi có năm yếu tố. Thế nào là năm? Này Upāli, vị tỳ khưu có ý muốn áp dụng việc đích thân khởi tố nên quán xét như sau: ‘Việc ta có ý muốn áp dụng việc đích thân khởi tố này là đúng thời điểm để áp dụng việc đích thân khởi tố này hay không đúng (thời điểm)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Sái thời điểm để áp dụng việc đích thân khởi tố này, không phải đúng thời điểm,’ này Upāli, không nên áp dụng việc đích thân khởi tố ấy.
Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Đúng thời điểm để áp dụng việc đích thân khởi tố này, không phải là sái thời điểm;’ này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên quán xét thêm rằng: ‘Việc ta có ý muốn áp dụng việc đích thân khởi tố này, nhưng việc đích thân khởi tố này là đúng đắn hay không (đúng đắn)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Việc đích thân khởi tố này là sai trái, không đúng đắn;’ này Upāli, không nên áp dụng việc đích thân khởi tố ấy.
Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Việc đích thân khởi tố này là đúng đắn, không phải sai trái;’ này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên quán xét thêm rằng: ‘Việc ta có ý muốn áp dụng việc đích thân khởi tố này, nhưng việc đích thân khởi tố này là đem sự lại lợi ích hay không (đem lại sự lợi ích)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Việc đích thân khởi tố này là đem lại sự vô ích, không đem lại sự lợi ích;’ này Upāli, không nên áp dụng việc đích thân khởi tố ấy.
Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Việc đích thân khởi tố này là đem lại sự lợi ích, không phải đem lại sự vô ích;’ này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên quán xét thêm rằng: ‘Trong khi áp dụng việc đích thân khởi tố này, ta sẽ đạt được các tỳ khưu đồng quan điểm thân thiết ở trong nhóm theo đúng Pháp theo đúng Luật hay sẽ không (đạt được)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Trong khi áp dụng việc đích thân khởi tố này, ta sẽ không đạt được các tỳ khưu đồng quan điểm thân thiết ở trong nhóm theo đúng Pháp theo đúng Luật;’ này Upāli, không nên áp dụng việc đích thân khởi tố ấy.
Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Trong khi áp dụng việc đích thân khởi tố này, ta sẽ đạt được các tỳ khưu đồng quan điểm thân thiết ở trong nhóm theo đúng Pháp, theo đúng Luật;’ này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên quán xét thêm rằng: ‘Khi việc đích thân khởi tố này của ta được áp dụng, do nguyên nhân ấy đối với hội chúng sẽ xảy ra sự tranh cãi, sự cãi cọ, sự xung đột, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự phân loại trong hội chúng, việc làm khác biệt trong hội chúng hay sẽ không (xảy ra)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Khi việc đích thân khởi tố này của ta được áp dụng, do nguyên nhân ấy đối với hội chúng sẽ xảy ra sự tranh cãi, sự cãi cọ, sự xung đột, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự phân loại trong hội chúng, việc làm khác biệt trong hội chúng;’ này Upāli, không nên áp dụng việc đích thân khởi tố ấy.
Này Upāli nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Khi việc đích thân khởi tố này của ta được áp dụng, do nguyên nhân ấy đối với hội chúng sẽ không xảy ra sự tranh cãi, sự cãi cọ, sự xung đột, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự phân loại trong hội chúng, việc làm khác biệt trong hội chúng;’ này Upāli, nên áp dụng việc đích thân khởi tố ấy. Này Upāli, việc đích thân khởi tố đã được áp dụng có năm yếu tố như thế sẽ không đem lại sự ân hận ngay cả về sau này.
Inda-bh 6~54 Bạch ngài, vị tỳ khưu có bao nhiêu yếu tố là có nhiều ích lợi cho các tỳ khưu gây nên sự tranh tụng?
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố là có nhiều ích lợi cho các tỳ khưu gây nên sự tranh tụng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị có giới hạnh, sống thu thúc theo sự hạn chế của giới bổn Pātimokkha, thành tựu về hạnh kiểm và hành xứ, thấy được sự nguy hiểm trong những tội lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và thực hành theo các điều học; là vị nghe nhiều, ghi nhớ điều đã nghe, tích lũy điều đã nghe, các Pháp nào là tốt đẹp phần đầu, tốt đẹp phần giữa, tốt đẹp phần cuối, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự, tuyên thuyết về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ, các Pháp có hình thức như thế được (vị ấy) nghe nhiều, ghi nhớ, ôn đọc ra lời, quán xét bằng ý, thâm nhập bằng kiến thức; đối với vị ấy hai bộ giới bổn Pātimokkha đã khéo được truyền thừa với chi tiết, khéo được phân tích, khéo được ứng dụng, khéo được phán xét theo từng điều học, theo từng từ ngữ; vị ấy vững vàng về Luật không có bối rối; là vị có khả năng để làm cho cả hai phe đối địch của sự kiện phải tin tưởng, biết rõ, suy nghĩ lại, thấy được, (và) hoan hỷ. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là có nhiều ích lợi cho các tỳ khưu gây nên sự tranh tụng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa là có nhiều ích lợi cho các tỳ khưu gây nên sự tranh tụng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị có sở hành về thân được trong sạch, có sở hành về khẩu được trong sạch, có sự nuôi mạng được trong sạch, (là vị) thông thái có kinh nghiệm, có khả năng đối đáp lại trong khi bị thẩm vấn. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là có nhiều ích lợi cho các tỳ khưu gây nên sự tranh tụng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa là có nhiều ích lợi cho các tỳ khưu gây nên sự tranh tụng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về sự việc, biết về duyên khởi, biết về điều quy định, biết về thứ tự của chữ (trong câu), biết về phương thức của lối trình bày mạch lạc. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là có nhiều ích lợi cho các tỳ khưu gây nên sự tranh tụng.
Inda-bh 7~55 Bạch ngài, vị tỳ khưu có bao nhiêu yếu tố là không nên thẩm vấn?
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố là không nên thẩm vấn. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về giới bổn, không biết về điều phù hợp với giới bổn, không biết về Luật, không biết về điều phù hợp với Luật, vị không khéo léo về việc thành lập (tội) hay không thành lập (tội). Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là không nên thẩm vấn.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố là có thể thẩm vấn. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về giới bổn, biết về điều phù hợp với giới bổn, biết về Luật, biết về điều phù hợp với Luật, vị khéo léo về việc thành lập (tội) hay không thành lập (tội). Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là có thể thẩm vấn.
Inda-bh 8~56Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa là không nên thẩm vấn. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về Pháp, không biết về điều phù hợp với Pháp, không biết về Luật, không biết về điều phù hợp với Luật, vị không khéo léo về việc trước và việc sau. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là không nên thẩm vấn.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa là có thể thẩm vấn. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về Pháp, biết về điều phù hợp với Pháp, biết về Luật, biết về điều phù hợp với Luật, vị khéo léo về việc trước và việc sau. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là có thể thẩm vấn.
Inda-bh 9~57Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa là không nên thẩm vấn. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về sự việc, không biết về duyên khởi, không biết về điều quy định, không biết về thứ tự của chữ (trong câu), không biết về phương thức của lối trình bày mạch lạc. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là không nên thẩm vấn.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa là có thể thẩm vấn. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về sự việc, biết về duyên khởi, biết về điều quy định, biết về thứ tự của chữ (trong câu), biết về phương thức của lối trình bày mạch lạc. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là có thể thẩm vấn.
Inda-bh 10~58Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa là không nên thẩm vấn. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về tội, không biết về nguồn sanh tội, không biết về sự tiến hành của tội, không biết về cách giải quyết tội, không khéo léo trong việc phán quyết tội. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là không nên thẩm vấn.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa là có thể thẩm vấn. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về tội, biết về nguồn sanh tội, biết về sự tiến hành của tội, biết về cách giải quyết tội, khéo léo trong việc phán quyết tội. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là có thể thẩm vấn.
Inda-bh 11~59Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa là không nên thẩm vấn. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về sự tranh tụng, không biết về nguồn sanh khởi của tranh tụng, không biết về cách tiến hành tranh tụng, không biết về cách giải quyết tranh tụng, không khéo léo trong việc phán quyết về tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là không nên thẩm vấn.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa là có thể thẩm vấn. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về sự tranh tụng, biết về nguồn sanh khởi của tranh tụng, biết về cách tiến hành tranh tụng, biết về cách giải quyết tranh tụng, khéo léo trong việc phán quyết về tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là có thể thẩm vấn.
Phẩm Đích Thân Khởi Tố là thứ năm.
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
Sự trong sạch, hợp thời, với lòng bi mẫn, và bằng sự thỉnh ý, sự đích thân khởi tố, sự tranh tụng, và với các điều khác nữa, và sự việc, giới bổn, Giáo Pháp, và sự việc nữa, tội vi phạm, và với sự tranh tụng.
6. PHẨM VỀ PHÁP GIŨ BỎ:
Inda-bh 1~60 Bạch ngài, có bao nhiêu hạng (hành pháp) ngụ ở rừng?
Này Upāli, đây là năm hạng (hành pháp) ngụ ở rừng. Thế nào là năm? Hạng ngụ ở rừng có bản tánh ngu khờ, có bản tánh si mê; hạng ngụ ở rừng có ước muốn xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn; hạng ngụ ở rừng do điên khùng, do mất trí; hạng ngụ ở rừng (nghĩ rằng): ‘Được chư Phật và chư Thinh Văn của đức Phật khen ngợi;’ và cũng có hạng ngụ ở rừng chính vì ham muốn ít, chính vì tự biết đủ, chính vì sự từ khước, chính vì sự tách ly, chính vì lợi ích của điều này. Này Upāli, đây là năm hạng (hành pháp) ngụ ở rừng.
Inda-bh 2-12 Bạch ngài, có bao nhiêu hạng (hành pháp) đi khất thực? … nt … Bạch ngài, có bao nhiêu hạng (hành pháp) mặc y paṁsukūla? … nt … Bạch ngài, có bao nhiêu hạng (hành pháp) ngụ ở gốc cây? … nt … Bạch ngài, có bao nhiêu hạng (hành pháp) ngụ ở mộ địa? … nt … Bạch ngài, có bao nhiêu hạng (hành pháp) ngụ ở ngoài trời? … nt … Bạch ngài, có bao nhiêu hạng (hành pháp) mặc ba y? … nt … Bạch ngài, có bao nhiêu hạng (hành pháp) đi khất thực theo từng nhà? … nt … Bạch ngài, có bao nhiêu hạng (hành pháp) oai nghi ngồi? … nt … Bạch ngài, có bao nhiêu hạng (hành pháp) ngụ chỗ ở theo chỉ định? … nt … Bạch ngài, có bao nhiêu hạng (hành pháp) một chỗ ngồi (khi thọ thực)? … nt … Bạch ngài, có bao nhiêu hạng (hành pháp) không ăn vật thực dâng sau? … nt …
Inda-bh 13~61 Bạch ngài, có bao nhiêu hạng (hành pháp) thọ thực trong bình bát?
Này Upāli, đây là năm hạng (hành pháp) thọ thực trong bình bát. Thế nào là năm? Hạng thọ thực trong bình bát do bản tánh ngu khờ, do bản tánh si mê; hạng thọ thực trong bình bát có ước muốn xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn; hạng thọ thực trong bình bát do điên khùng, do mất trí; hạng thọ thực trong bình bát (nghĩ rằng): ‘Được chư Phật và chư Thinh Văn của đức Phật ngợi khen;’ và cũng có hạng thọ thực trong bình bát chính vì ham muốn ít, chính vì tự biết đủ, chính vì sự từ khước, chính vì sự tách ly, chính vì lợi ích của điều này. Này Upāli, đây là năm hạng (hành pháp) thọ thực trong bình bát.
Phẩm về Pháp Giũ Bỏ là thứ sáu.
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
Vị ngụ ở rừng, khất thực, y paṁsukūla, cội cây, mộ địa là thứ năm, ngoài trời, chỉ ba y, theo tuần tự, oai nghi ngồi, theo chỉ định, (thọ thực) một chỗ ngồi, không vật thực dâng sau, thọ thực trong bình bát.
7. PHẨM NÓI DỐI:
Inda-bh 1~62 Bạch ngài, có bao nhiêu loại nói dối?
Này Upāli, đây là năm loại nói dối. Thế nào là năm? Có loại nói dối đưa đến tội pārājika, có loại nói dối đưa đến tội saṅghādisesa, có loại nói dối đưa đến tội thullaccaya, có loại nói dối đưa đến tội pācittiya, có loại nói dối đưa đến tội dukkaṭa. Này Upāli, đây là năm loại nói dối.
Inda-bh 2~63 Bạch ngài, đối với vị tỳ khưu có bao nhiêu yếu tố đang đình chỉ lễ Uposatha hoặc lễ Pavāraṇā ở giữa hội chúng thì hội chúng nên áp chế rằng: ‘Này tỳ khưu, thôi đi. Chớ có (gây nên) sự xung đột, sự cãi cọ, sự tranh luận, sự tranh cãi’ rồi nên tiến hành lễ Uposatha hoặc lễ Pavāraṇā?
Này Upāli, đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố đang đình chỉ lễ Uposatha hoặc lễ Pavāraṇā ở giữa hội chúng thì hội chúng nên áp chế rằng: ‘Này tỳ khưu, thôi đi. Chớ có (gây nên) sự xung đột, sự cãi cọ, sự tranh luận, sự tranh cãi’ rồi nên tiến hành lễ Uposatha hoặc lễ Pavāraṇā. Với năm (yếu tố) gì? Là vị vô liêm sỉ, ngu dốt, không trong sạch, là vị nói với ý định loại trừ, không với ý định giúp cho thoát tội. Này Upāli, đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này đang đình chỉ lễ Uposatha hoặc lễ Pavāraṇā ở giữa hội chúng thì hội chúng nên áp chế rằng: ‘Này tỳ khưu, thôi đi. Chớ có (gây nên) sự xung đột, sự cãi cọ, sự tranh luận, sự tranh cãi’ rồi nên tiến hành lễ Uposatha hoặc lễ Pavāraṇā.
Này Upāli, đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa đang đình chỉ lễ Uposatha hoặc lễ Pavāraṇā ở giữa hội chúng thì hội chúng nên áp chế rằng: ‘Này tỳ khưu, thôi đi. Chớ có (gây nên) sự xung đột, sự cãi cọ, sự tranh luận, sự tranh cãi’ rồi nên tiến hành lễ Uposatha hoặc lễ Pavāraṇā. Với năm (yếu tố) gì? Là vị có sở hành về thân không được trong sạch, có sở hành về khẩu không được trong sạch, có sự nuôi mạng không được trong sạch, ngu dốt không kinh nghiệm, là vị gây nên các sự xung đột (và) gây nên các sự cãi cọ. Này Upāli, đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này đang đình chỉ lễ Uposatha hoặc lễ Pavāraṇā ở giữa hội chúng thì hội chúng nên áp chế rằng: ‘Này tỳ khưu, thôi đi. Chớ có (gây nên) sự xung đột, sự cãi cọ, sự tranh luận, sự tranh cãi’ rồi nên tiến hành lễ Uposatha hoặc lễ Pavāraṇā.
Inda-bh 3~64 Bạch ngài, việc thẩm vấn không nên giao cho vị tỳ khưu có bao nhiêu yếu tố?
Này Upāli, việc thẩm vấn không nên giao cho vị tỳ khưu có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về sự phạm tội hay không phạm tội, vị không biết tội nhẹ hay nặng, vị không biết tội còn dư sót hay không còn dư sót, vị không biết tội xấu xa hay không xấu xa, vị không biết tội có sự sửa chữa hay không có sự sửa chữa. Này Upāli, việc thẩm vấn không nên giao cho vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Này Upāli, việc thẩm vấn nên được giao cho vị tỳ khưu có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về sự phạm tội hay không phạm tội, vị biết tội nhẹ hay nặng, vị biết tội còn dư sót hay không còn dư sót, vị biết tội xấu xa hay không xấu xa, vị biết về tội có sự sửa chữa hay không có sự sửa chữa. Này Upāli, việc thẩm vấn nên được giao cho vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 4~65 Bạch ngài, vị tỳ khưu vi phạm tội với bao nhiêu biểu hiện?
Này Upāli, vị tỳ khưu vi phạm tội với năm biểu hiện. Với năm (biểu hiện) gì? Do sự vô liêm sỉ, do sự không biết, do sự thường xuyên sai phạm, tưởng rằng được phép trong việc không được phép, tưởng rằng không được phép trong việc được phép. Này Upāli, vị tỳ khưu vi phạm tội với năm biểu hiện này.
Này Upāli, vị tỳ khưu vi phạm tội với năm biểu hiện khác nữa. Với năm (biểu hiện) gì? Do sự không thấy, do sự không nghe, do sự bị ràng buộc, (lầm) tưởng là như vậy, có sự lẫn lộn về niệm. Này Upāli, vị tỳ khưu vi phạm tội với năm biểu hiện này.
Inda-bh 5~66 Bạch ngài, có bao nhiêu điều tội lỗi?
Này Upāli, đây là năm điều tội lỗi. Thế nào là năm? Giết hại mạng sống, việc lấy vật không được cho, việc làm sai trái trong các dục, nói dối, trường hợp dễ duôi đối với chất say chất lên men và rượu mạnh. Này Upāli, đây là năm điều tội lỗi.
Inda-bh 6~67 Bạch ngài, có bao nhiêu sự kiêng cữ?
Này Upāli, đây là năm sự kiêng cữ. Thế nào là năm? Sự kiêng cữ việc giết hại mạng sống, sự kiêng cữ việc lấy vật không được cho, sự kiêng cữ việc làm sai trái trong các dục, sự kiêng cữ việc nói dối, sự kiêng cữ trường hợp dễ duôi đối với chất say chất lên men và rượu mạnh. Này Upāli, đây là năm sự kiêng cữ.
Inda-bh 7~68 Bạch ngài, có bao nhiêu sự suy sụp?
Này Upāli, đây là năm sự suy sụp. Thế nào là năm? Sự suy sụp về thân quyến, sự suy sụp về của cải, sự suy sụp vì bệnh hoạn, sự suy sụp về giới, sự suy sụp về kiến thức. Này Upāli, đây là năm sự suy sụp.
Inda-bh 8~69 Bạch ngài, có bao nhiêu sự thành tựu?
Này Upāli, đây là năm sự thành tựu. Thế nào là năm? Sự thành tựu về thân quyến, sự thành tựu về của cải, sự thành tựu về không bệnh, sự thành tựu về giới, sự thành tựu về kiến thức. Này Upāli, đây là năm sự thành tựu.
Phẩm Nói Dối là thứ bảy.
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
Nói dối, và sự áp chế, các điều khác, sự thẩm vấn, và tội vi phạm, các điều khác, tội lỗi, sự kiêng cữ, sự suy sụp, và luôn cả sự thành tựu, phần tổng hợp về phẩm thứ bảy.
8. PHẨM GIÁO GIỚI TỲ KHƯU NI:
Inda-bh 1~70 Bạch ngài, đích thân hội chúng tỳ khưu ni nên thực hiện hành sự đối với vị tỳ khưu có bao nhiêu yếu tố?
Này Upāli, đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố, đích thân hội chúng tỳ khưu ni nên thực hiện hành sự là hội chúng tỳ khưu ni không nên đảnh lễ vị tỳ khưu ấy. Với năm (yếu tố) gì? Vị cởi ra rồi cho các tỳ khưu ni thấy thân thể, cho thấy đùi, cho thấy chỗ kín, cho thấy cả hai vai, nói chuyện và cấu kết với người tại gia. Này Upāli, đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này, đích thân hội chúng tỳ khưu ni nên thực hiện hành sự là hội chúng tỳ khưu ni không nên đảnh lễ vị tỳ khưu ấy.
Này Upāli, đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa, đích thân hội chúng tỳ khưu ni nên thực hiện hành sự là hội chúng tỳ khưu ni không nên đảnh lễ vị tỳ khưu ấy. Với năm (yếu tố) gì? Là vị ra sức làm cho các tỳ khưu ni không được lợi lộc, là vị ra sức làm cho các tỳ khưu ni không được lợi ích, là vị ra sức làm cho các tỳ khưu ni không được chỗ ở, là vị mắng nhiếc gièm pha các tỳ khưu ni, là vị chia rẽ các tỳ khưu với các tỳ khưu ni. Này Upāli, đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này, đích thân hội chúng tỳ khưu ni nên thực hiện hành sự là hội chúng tỳ khưu ni không nên đảnh lễ vị tỳ khưu ấy.
Này Upāli, đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa, đích thân hội chúng tỳ khưu ni nên thực hiện hành sự là hội chúng tỳ khưu ni không nên đảnh lễ vị tỳ khưu ấy. Với năm (yếu tố) gì? Là vị ra sức làm cho các tỳ khưu ni không được lợi lộc, là vị ra sức làm cho các tỳ khưu ni không được lợi ích, là vị ra sức làm cho các tỳ khưu ni không được chỗ ở, là vị mắng nhiếc gièm pha các tỳ khưu ni, là vị cấu kết các tỳ khưu với các tỳ khưu ni. Này Upāli, đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này, đích thân hội chúng tỳ khưu ni nên thực hiện hành sự là hội chúng tỳ khưu ni không nên đảnh lễ vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 2~71 Bạch ngài, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu ni có bao nhiêu yếu tố?
Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu ni có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Vị ni cởi ra rồi cho các tỳ khưu thấy thân thể, cho thấy đùi, cho thấy chỗ kín, cho thấy hai vai, nói chuyện và cấu kết với người tại gia. Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu ni có năm yếu tố này.
Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu ni có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị ni ra sức làm cho các tỳ khưu không được lợi lộc, là vị ni ra sức làm cho các tỳ khưu không được lợi ích, là vị ni ra sức làm cho các tỳ khưu không được chỗ ở, là vị ni mắng nhiếc gièm pha các tỳ khưu, là vị ni chia rẽ các tỳ khưu ni với các tỳ khưu. Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu ni có năm yếu tố này.
Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu ni có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị ni ra sức làm cho các tỳ khưu không được lợi lộc, là vị ni ra sức làm cho các tỳ khưu không được lợi ích, là vị ni ra sức làm cho các tỳ khưu không được chỗ ở, là vị ni mắng nhiếc gièm pha các tỳ khưu, là vị ni cấu kết các tỳ khưu ni với các tỳ khưu. Này Upāli, hành sự nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu ni có năm yếu tố này.
Inda-bh 3~72 Bạch ngài, vị tỳ khưu có bao nhiêu yếu tố không nên đình chỉ sự giáo giới của các tỳ khưu ni?
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố không nên đình chỉ sự giáo giới của các tỳ khưu ni. Với năm (yếu tố) gì? Là vị vô liêm sỉ, là vị ngu dốt, và không trong sạch, là vị nói với ý định loại trừ, không với ý định giúp cho thoát tội. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không nên đình chỉ sự giáo giới của các tỳ khưu ni.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa không nên đình chỉ sự giáo giới của các tỳ khưu ni. Với năm (yếu tố) gì? Là vị có sở hành về thân không được trong sạch, có sở hành về khẩu không được trong sạch, có sự nuôi mạng không được trong sạch, là vị ngu dốt không kinh nghiệm, không có khả năng đối đáp lại trong khi bị thẩm vấn. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không nên đình chỉ sự giáo giới của các tỳ khưu ni.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa không nên đình chỉ sự giáo giới của các tỳ khưu ni. Với năm (yếu tố) gì? Là vị có sở hành sai trái về thân, là vị có sở hành sai trái về khẩu, là vị có sở hành sai trái về thân và khẩu, là vị mắng nhiếc gièm pha các tỳ khưu ni, là vị sống thân cận với các tỳ khưu ni với sự chung đụng không thích hợp. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không nên đình chỉ sự giáo giới của các tỳ khưu ni.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa không nên đình chỉ sự giáo giới của các tỳ khưu ni. Với năm (yếu tố) gì? Là vị vô liêm sỉ, là vị ngu dốt, không trong sạch, là vị thường gây ra các sự xung đột và gây ra các sự cãi vã, là vị không làm đầy đủ việc học tập. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không nên đình chỉ sự giáo giới của các tỳ khưu ni.
Inda-bh 4~73 Bạch ngài, vị tỳ khưu có bao nhiêu yếu tố không nên nhận lãnh việc giáo giới các tỳ khưu ni?
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không nên nhận lãnh việc giáo giới các tỳ khưu ni. Với năm (yếu tố) gì? Là vị có sở hành sai trái về thân, là vị có sở hành sai trái về khẩu, là vị có sở hành sai trái về thân và khẩu, là vị mắng nhiếc gièm pha các tỳ khưu ni, là vị sống thân cận với các tỳ khưu ni với sự chung đụng không thích hợp. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không nên nhận lãnh việc giáo giới các tỳ khưu ni.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa không nên nhận lãnh việc giáo giới các tỳ khưu ni. Với năm (yếu tố) gì? Là vị vô liêm sỉ, là vị ngu dốt, không trong sạch, là vị ra đi, hoặc là vị bị bệnh. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này không nên nhận lãnh việc giáo giới các tỳ khưu ni.
Inda-bh 5~74 Bạch ngài, không nên thảo luận với vị tỳ khưu có bao nhiêu yếu tố? Này Upāli, không nên thảo luận với vị tỳ khưu có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không thành tựu vô học giới uẩn, là vị không thành tựu vô học định uẩn, là vị không thành tựu vô học tuệ uẩn, là vị không thành tựu vô học giải thoát uẩn, là vị không thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này Upāli, không nên thảo luận với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Này Upāli, nên thảo luận với vị tỳ khưu có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị thành tựu vô học giới uẩn, … (như trên) … vô học định uẩn, … (như trên) … tuệ uẩn, … (như trên) … giải thoát uẩn, là vị thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này Upāli, nên thảo luận với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Này Upāli, không nên thảo luận với vị tỳ khưu có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không thành đạt sự phân tích về ý nghĩa, là vị không thành đạt sự phân tích về Pháp, là vị không thành đạt sự phân tích về ngôn từ, là vị không thành đạt sự phân tích về diễn giải, là vị không quán xét tâm theo sự giải thoát. Này Upāli, không nên thảo luận với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Này Upāli, nên thảo luận với vị tỳ khưu có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị thành đạt sự phân tích về ý nghĩa, là vị thành đạt sự phân tích về Pháp, là vị thành đạt sự phân tích về ngôn từ, là vị thành đạt sự phân tích về diễn giải, là vị quán xét tâm theo sự giải thoát. Này Upāli, nên thảo luận với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Phẩm Giáo Giới Tỳ Khưu Ni là thứ tám.
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
(Hành sự) nên được thực hiện bởi chính các tỳ khưu ni, với các phần khác, tương tợ như thế có hai, ba hành sự của các tỳ khưu ni, không nên đình chỉ, có hai nhóm hai, không nên nhận lãnh, hai điều đã được đề cập đến, và có hai nhóm hai trong các việc thảo luận.
9. PHẨM ĐẠI BIỂU:
Inda-bh 1~75 Bạch ngài, không nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có bao nhiêu yếu tố?
Này Upāli, không nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không khéo léo về ý nghĩa, là vị không khéo léo về Pháp, là vị không khéo léo về ngôn từ, là vị không khéo léo về từ vựng, là vị không khéo léo về việc trước và việc sau. Này Upāli, không nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Này Upāli, nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị khéo léo về ý nghĩa, là vị khéo léo về Pháp, là vị khéo léo về ngôn từ, là vị khéo léo về từ vựng, là vị khéo léo về việc trước và việc sau. Này Upāli, nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 2~76Này Upāli, không nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị cáu kỉnh (và) bị chế ngự bởi cáu kỉnh; là vị đạo đức giả (và) bị chế ngự bởi đạo đức giả; là vị dối trá (và) bị chế ngự bởi dối trá; là vị đố kỵ (và) bị chế ngự bởi đố kỵ; là vị chấp thủ một cách lộ liễu, ương ngạnh, khó buông bỏ. Này Upāli, không nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Này Upāli, nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không cáu kỉnh (và) không bị chế ngự bởi cáu kỉnh; là vị không đạo đức giả (và) không bị chế ngự bởi đạo đức giả; là vị không dối trá (và) không bị chế ngự bởi dối trá; là vị không đố kỵ (và) không bị chế ngự bởi đố kỵ; là vị không chấp thủ một cách lộ liễu, không ương ngạnh, dễ buông bỏ. Này Upāli, nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 3~77Này Upāli, không nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị nóng nảy, hiểm độc, chống đối, tạo nên sự nóng giận, là vị không nhẫn nại không nghiêm chỉnh tiếp nhận sự giáo huấn. Này Upāli, không nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Này Upāli, nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không nóng nảy, không hiểm độc, không chống đối, không tạo nên sự nóng giận, là vị nhẫn nại nghiêm chỉnh tiếp nhận sự giáo huấn. Này Upāli, nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 4~78Này Upāli, không nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị vọng động không ghi nhớ, là vị phát ngôn khi chưa thỉnh ý, là vị cáo tội không theo Pháp không theo Luật không đúng tội, là vị hành xử không theo Pháp không theo Luật không đúng tội, là vị không trình bày theo kiến thức. Này Upāli, không nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Này Upāli, nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị ráng ghi nhớ không vọng động, là vị phát ngôn khi đã thỉnh ý, là vị cáo tội theo Pháp theo Luật đúng tội, là vị hành xử theo Pháp theo Luật đúng tội, là vị trình bày theo kiến thức. Này Upāli, nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 5~79Này Upāli, không nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị thiên vị vì ưa thích, thiên vị vì sân hận, thiên vị vì si mê, thiên vị vì sợ hãi, và là vị vô liêm sỉ. Này Upāli, không nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Này Upāli, nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không thiên vị vì ưa thích, không thiên vị vì sân hận, không thiên vị vì si mê, không thiên vị vì sợ hãi, và là vị có liêm sỉ. Này Upāli, nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 6~80Này Upāli, không nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị thiên vị vì ưa thích, thiên vị vì sân hận, thiên vị vì si mê, thiên vị vì sợ hãi, và là vị không khéo léo về Luật. Này Upāli, không nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Này Upāli, nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không thiên vị vì ưa thích, không thiên vị vì sân hận, không thiên vị vì si mê, không thiên vị vì sợ hãi, và là vị khéo léo về Luật. Này Upāli, nên chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 7~81 Bạch ngài, vị tỳ khưu bị xem là ‘ngu dốt’ có bao nhiêu yếu tố?
Này Upāli, vị tỳ khưu bị xem là ‘ngu dốt’ có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về giới bổn, không biết về điều phù hợp với giới bổn, không biết về Luật, không biết về điều phù hợp với Luật, vị không khéo léo về việc thành lập (tội) hay không thành lập (tội). Này Upāli, vị tỳ khưu bị xem là ‘ngu dốt’ có năm yếu tố này.
Này Upāli, vị tỳ khưu được xem là ‘thông thái’ có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về giới bổn, biết về điều phù hợp với giới bổn, biết về Luật, biết về điều phù hợp với Luật, vị khéo léo về việc thành lập (tội) hay không thành lập (tội). Này Upāli, vị tỳ khưu được xem là ‘thông thái’ có năm yếu tố này.
Inda-bh 8~82Này Upāli, vị tỳ khưu bị xem là ‘ngu dốt’ có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về giới bổn, không biết về điều phù hợp với giới bổn, không biết về Luật, không biết về điều phù hợp với Luật, là vị không khéo léo về việc trước và việc sau. Này Upāli, vị tỳ khưu bị xem là ‘ngu dốt’ có năm yếu tố này.
Này Upāli, vị tỳ khưu được xem là ‘thông thái’ có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về giới bổn, biết về điều phù hợp với giới bổn, biết về Luật, biết về điều phù hợp với Luật, là vị khéo léo về việc trước và việc sau. Này Upāli, vị tỳ khưu được xem là ‘thông thái’ có năm yếu tố này.
Inda-bh 9~83Này Upāli, vị tỳ khưu bị xem là ‘ngu dốt’ có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về sự việc, không biết về duyên khởi, không biết về điều quy định, không biết về thứ tự của chữ (trong câu), không biết về phương thức của lối trình bày mạch lạc. Này Upāli, vị tỳ khưu bị xem là ‘ngu dốt’ có năm yếu tố này.
Này Upāli, vị tỳ khưu được xem là ‘thông thái’ có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về sự việc, biết về duyên khởi, biết về điều quy định, biết về thứ tự của chữ (trong câu), biết về phương thức của lối trình bày mạch lạc. Này Upāli, vị tỳ khưu được xem là ‘thông thái’ có năm yếu tố này.
Inda-bh 10~84Này Upāli, vị tỳ khưu bị xem là ‘ngu dốt’ có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về tội, không biết về nguồn sanh tội, không biết về sự tiến hành của tội, không biết về cách giải quyết tội, không khéo léo trong việc phán quyết tội. Này Upāli, vị tỳ khưu bị xem là ‘ngu dốt’ có năm yếu tố này.
Này Upāli, vị tỳ khưu được xem là ‘thông thái’ có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về tội, biết về nguồn sanh tội, biết về sự tiến hành của tội, biết về cách giải quyết tội, khéo léo trong việc phán quyết tội. Này Upāli, vị tỳ khưu được xem là ‘thông thái’ có năm yếu tố này.
Inda-bh 11~85Này Upāli, vị tỳ khưu bị xem là ‘ngu dốt’ có năm yếu tố khác nữa. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về sự tranh tụng, không biết về nguồn sanh khởi của tranh tụng, không biết về cách tiến hành tranh tụng, không biết về cách giải quyết tranh tụng, không khéo léo trong việc phán quyết về tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu bị xem là ‘ngu dốt’ có năm yếu tố này.
Này Upāli, vị tỳ khưu được xem là ‘thông thái’ có năm yếu tố. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về sự tranh tụng, biết về nguồn sanh khởi của tranh tụng, biết về cách tiến hành tranh tụng, biết về cách giải quyết tranh tụng, khéo léo trong việc phán quyết về tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu được xem là ‘thông thái’ có năm yếu tố này.
Phẩm Đại Biểu là thứ chín.
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
Và luôn cả vị không thiện xảo về ý nghĩa, là vị (thường) cáu kỉnh, có sự giận dữ, là vị vọng động, bị chi phối bởi ưa thích, và vị không thiện xảo là tương tợ y như thế.
Về giới bổn, và về Pháp, về sự việc, về tội vi phạm, và về sự tranh tụng, hai phần cho mỗi cặp, tất cả đã được giảng giải, hãy hiểu rõ phần tối và phần sáng.
10. PHẨM GIẢI QUYẾT TRANH TỤNG:
Inda-bh 1~86 Bạch ngài, vị tỳ khưu có bao nhiêu yếu tố là không xứng đáng để giải quyết tranh tụng?
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố là không xứng đáng để giải quyết tranh tụng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về tội, không biết về nguồn sanh tội, không biết về sự tiến hành của tội, không biết về cách giải quyết tội, không khéo léo trong việc phán quyết tội. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là không xứng đáng để giải quyết tranh tụng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố là xứng đáng để giải quyết tranh tụng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về tội, biết về nguồn sanh tội, biết về sự tiến hành của tội, biết về cách giải quyết tội, khéo léo trong việc phán quyết tội. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là xứng đáng để giải quyết tranh tụng.
Inda-bh 2~87Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa là không xứng đáng để giải quyết tranh tụng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về sự tranh tụng, không biết về nguồn sanh khởi của tranh tụng, không biết về cách tiến hành tranh tụng, không biết về cách giải quyết tranh tụng, không khéo léo trong việc phán quyết về tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là không xứng đáng để giải quyết tranh tụng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố là xứng đáng để giải quyết tranh tụng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về sự tranh tụng, biết về nguồn sanh khởi của tranh tụng, biết về cách tiến hành tranh tụng, biết về cách giải quyết tranh tụng, khéo léo trong việc phán quyết về tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là xứng đáng để giải quyết tranh tụng.
Inda-bh 3~88Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa là không xứng đáng để giải quyết tranh tụng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị thiên vị vì ưa thích, thiên vị vì sân hận, thiên vị vì si mê, thiên vị vì sợ hãi, và là vị vô liêm sỉ. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là không xứng đáng để giải quyết tranh tụng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố là xứng đáng để giải quyết tranh tụng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không thiên vị vì ưa thích, không thiên vị vì sân hận, không thiên vị vì si mê, không thiên vị vì sợ hãi, và là vị có liêm sỉ. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là xứng đáng để giải quyết tranh tụng.
Inda-bh 4~89Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa là không xứng đáng để giải quyết tranh tụng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị thiên vị vì ưa thích, thiên vị vì sân hận, thiên vị vì si mê, thiên vị vì sợ hãi, và là vị nghe ít. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là không xứng đáng để giải quyết tranh tụng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố là xứng đáng để giải quyết tranh tụng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không thiên vị vì ưa thích, không thiên vị vì sân hận, không thiên vị vì si mê, không thiên vị vì sợ hãi, và là vị nghe nhiều. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là xứng đáng để giải quyết tranh tụng.
Inda-bh 5~90Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa là không xứng đáng để giải quyết tranh tụng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không biết về sự việc, không biết về duyên khởi, không biết về điều quy định, không biết về thứ tự của chữ (trong câu), không biết về phương thức của lối trình bày mạch lạc. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là không xứng đáng để giải quyết tranh tụng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố là xứng đáng để giải quyết tranh tụng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị biết về sự việc, biết về duyên khởi, biết về điều quy định, biết về thứ tự của chữ (trong câu), biết về phương thức của lối trình bày mạch lạc. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là xứng đáng để giải quyết tranh tụng.
Inda-bh 6~91Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa là không xứng đáng để giải quyết tranh tụng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị thiên vị vì ưa thích, thiên vị vì sân hận, thiên vị vì si mê, thiên vị vì sợ hãi, và là vị không khéo léo về Luật. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là không xứng đáng để giải quyết tranh tụng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố là xứng đáng để giải quyết tranh tụng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không thiên vị vì ưa thích, không thiên vị vì sân hận, không thiên vị vì si mê, không thiên vị vì sợ hãi, và là vị khéo léo về Luật. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là xứng đáng để giải quyết tranh tụng.
Inda-bh 7~92Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa là không xứng đáng để giải quyết tranh tụng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị thiên vị vì ưa thích, thiên vị vì sân hận, thiên vị vì si mê, thiên vị vì sợ hãi, là vị tôn trọng cá nhân không tôn trọng hội chúng. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là không xứng đáng để giải quyết tranh tụng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố là xứng đáng để giải quyết tranh tụng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không thiên vị vì ưa thích, không thiên vị vì sân hận, không thiên vị vì si mê, không thiên vị vì sợ hãi, là vị tôn trọng hội chúng không tôn trọng cá nhân. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là xứng đáng để giải quyết tranh tụng.
Inda-bh 8~93Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa là không xứng đáng để giải quyết tranh tụng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị thiên vị vì ưa thích, thiên vị vì sân hận, thiên vị vì si mê, thiên vị vì sợ hãi, là vị tôn trọng tài vật không tôn trọng Chánh Pháp. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là không xứng đáng để giải quyết tranh tụng.
Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố là xứng đáng để giải quyết tranh tụng. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không thiên vị vì ưa thích, không thiên vị vì sân hận, không thiên vị vì si mê, không thiên vị vì sợ hãi, là vị tôn trọng Chánh Pháp không tôn trọng tài vật. Này Upāli, vị tỳ khưu có năm yếu tố này là xứng đáng để giải quyết tranh tụng.
Inda-bh 9~94 Bạch ngài, hội chúng bị chia rẽ với bao nhiêu biểu hiện?
Này Upāli, hội chúng bị chia rẽ với năm biểu hiện. Với năm (biểu hiện) gì? Do hành sự, do sự đọc tụng (giới bổn), trong khi phát biểu, do lời tuyên bố, do cách phân phát thẻ biểu quyết. Này Upāli, hội chúng bị chia rẽ với năm biểu hiện này.
Inda-bh 10~95 Bạch ngài, có điều nói rằng: ‘Sự bất đồng trong hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng.’ Bạch ngài, cho đến như thế nào được gọi là sự bất đồng trong hội chúng mà không là sự chia rẽ hội chúng? Cho đến như thế nào được gọi là sự bất đồng trong hội chúng và là sự chia rẽ hội chúng?
Này Upāli, điều đã được ta quy định cho các tỳ khưu vãng lai là phận sự của vị vãng lai. Này Upāli, khi điều học đã khéo được quy định bởi ta như thế, các tỳ khưu vãng lai không thực hành các phận sự của vị vãng lai; này Upāli, như thế cũng là sự bất đồng trong hội chúng mà không là sự chia rẽ hội chúng. Này Upāli, điều đã được ta quy định cho các tỳ khưu thường trú là phận sự của vị thường trú. Này Upāli, khi điều học đã khéo được quy định bởi ta như thế, các tỳ khưu thường trú không thực hành các phận sự của vị thường trú; này Upāli, như thế cũng là sự bất đồng trong hội chúng mà không là sự chia rẽ hội chúng.
Này Upāli, điều đã được ta quy định cho các tỳ khưu ở trong nhà ăn là phận sự ở nhà ăn: chỗ ngồi hạng nhất, nước uống hạng nhất, thức ăn hạng nhất tùy theo thâm niên, tùy theo (số lượng) đêm, tùy theo sự chính đáng. Này Upāli, khi điều học đã khéo được quy định bởi ta như thế, các tỳ khưu mới tu chiếm chỗ ngồi của các tỳ khưu trưởng lão ở trong nhà ăn; này Upāli, như thế cũng là sự bất đồng trong hội chúng mà không là sự chia rẽ hội chúng. Này Upāli, điều đã được ta quy định cho các tỳ khưu ở trong chỗ trú ngụ là phận sự đối với chỗ trú ngụ: tùy theo thâm niên, tùy theo (số lượng) đêm, tùy theo sự chính đáng. Này Upāli, khi điều học đã khéo được quy định bởi ta như thế, các tỳ khưu mới tu chiếm chỗ trú ngụ của các tỳ khưu trưởng lão; này Upāli, như thế cũng là sự bất đồng trong hội chúng mà không là sự chia rẽ hội chúng. Này Upāli, điều đã được ta quy định cho các tỳ khưu ở trong ranh giới là chung lễ Uposatha, chung lễ Pavāraṇā, chung hành sự của hội chúng, chung hành sự có tính tiếp diễn. Này Upāli, khi điều học đã khéo được quy định bởi ta như thế, ngay tại nơi ấy ở trong ranh giới, sau khi tách riêng rẽ, sau khi kết thành nhóm, rồi thực hiện lễ Uposatha riêng rẽ, thực hiện lễ Pavāraṇā riêng rẽ, thực hiện hành sự của hội chúng riêng rẽ, thực hiện hành sự có tính tiếp diễn riêng rẽ; này Upāli, như thế cũng là sự bất đồng trong hội chúng mà không là sự chia rẽ hội chúng.
Phẩm Giải Quyết Tranh Tụng là thứ mười.
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
Tội vi phạm, sự tranh tụng, vì ưa thích, và với vị nghe ít, sự việc, và vị không khéo léo, cá nhân, và bằng tài vật, bị chia rẽ, sự bất đồng hội chúng, và sự chia rẽ hội chúng là tương tợ y như thế.
11. PHẨM KẺ CHIA RẼ HỘI CHÚNG:
Inda-bh 1~96 Bạch ngài, kẻ chia rẽ hội chúng có bao nhiêu yếu tố là kẻ phải chịu sự bất hạnh, sanh vào địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được?
Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố là kẻ phải chịu sự bất hạnh, sanh vào địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được. Với năm (yếu tố) gì? Này Upāli, ở đây vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật,’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật,’ đã che giấu quan điểm bằng hành sự. Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố này là kẻ phải chịu sự bất hạnh, sanh vào địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được.
Inda-bh 2~97Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố khác nữa là kẻ phải chịu sự bất hạnh, sanh vào địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được. Với năm (yếu tố) gì? Này Upāli, ở đây vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật,’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật,’ đã che giấu quan điểm bằng sự đọc tụng (giới bổn). Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố này là kẻ phải chịu sự bất hạnh, sanh vào địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được.
Inda-bh 3~98Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố khác nữa là kẻ phải chịu sự bất hạnh, sanh vào địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được. Với năm (yếu tố) gì? Này Upāli, ở đây vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật,’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật,’ đã che giấu quan điểm trong khi phát biểu. Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố này là kẻ phải chịu sự bất hạnh, sanh vào địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được.
Inda-bh 4~99Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố khác nữa là kẻ phải chịu sự bất hạnh, sanh vào địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được. Với năm (yếu tố) gì? Này Upāli, ở đây vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật,’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật,’ đã che giấu quan điểm bằng lời tuyên bố. Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố này là kẻ phải chịu sự bất hạnh, sanh vào địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được.
Inda-bh 5~100Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố khác nữa là kẻ phải chịu sự bất hạnh, sanh vào địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được. Với năm (yếu tố) gì? Này Upāli, ở đây vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật,’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật,’ đã che giấu quan điểm bằng cách phân phát thẻ biểu quyết. Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố này là kẻ phải chịu sự bất hạnh, sanh vào địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được.
Inda-bh 6~101Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố khác nữa là kẻ phải chịu sự bất hạnh, sanh vào địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được. Với năm (yếu tố) gì? Này Upāli, ở đây vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật,’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật,’ đã che giấu điều mong mỏi bằng hành sự. … (như trên) … đã che giấu điều mong mỏi bằng sự đọc tụng (giới bổn). … (như trên) … đã che giấu điều mong mỏi trong khi phát biểu. … (như trên) … đã che giấu điều mong mỏi bằng lời tuyên bố. … (như trên) … đã che giấu điều mong mỏi bằng cách phân phát thẻ biểu quyết. Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố này là kẻ phải chịu sự bất hạnh, sanh vào địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được.
Inda-bh 7~102Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố khác nữa là kẻ phải chịu sự bất hạnh, sanh vào địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được. Với năm (yếu tố) gì? Này Upāli, ở đây vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật,’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật,’ đã che giấu điều khao khát bằng hành sự. … (như trên) … đã che giấu điều khao khát bằng sự đọc tụng (giới bổn). … (như trên) … đã che giấu điều khao khát trong khi phát biểu. … (như trên) … đã che giấu điều khao khát bằng lời tuyên bố. … (như trên) … đã che giấu điều khao khát bằng cách phân phát thẻ biểu quyết. Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố này là kẻ phải chịu sự bất hạnh, sanh vào địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được.
Inda-bh 8~103Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố khác nữa là kẻ phải chịu sự bất hạnh, sanh vào địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được. Với năm (yếu tố) gì? Này Upāli, ở đây vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật,’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật,’ đã che giấu ý tưởng bằng hành sự. … nt … đã che giấu ý tưởng bằng sự đọc tụng (giới bổn). … nt … đã che giấu ý tưởng trong khi phát biểu. … nt … đã che giấu ý tưởng bằng lời tuyên bố. … nt … đã che giấu ý tưởng bằng cách phân phát thẻ biểu quyết. Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố này là kẻ phải chịu sự bất hạnh, sanh vào địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được.
Phẩm Kẻ Chia Rẽ Hội Chúng là thứ mười một.
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
Sau khi che giấu quan điểm bằng hành sự, với sự đọc tụng, và bằng lời phát biểu, với lời tuyên bố, bằng thẻ, năm cách này phụ thuộc vào quan điểm, điều mong mỏi, sự khao khát, và ý tưởng, ba phương hướng ấy là có năm phần.
12. PHẨM THỨ NHÌ VỀ KẺ CHIA RẼ HỘI CHÚNG:
Inda-bh 1~104 Bạch ngài, kẻ chia rẽ hội chúng có bao nhiêu yếu tố là kẻ không phải chịu sự bất hạnh, không sanh vào địa ngục, không bị đọa trọn kiếp, có thể đổi khác được?
Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố là kẻ không phải chịu sự bất hạnh, không sanh vào địa ngục, không bị đọa trọn kiếp, có thể đổi khác được. Với năm (yếu tố) gì? Này Upāli, ở đây vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật,’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật,’ đã không che giấu quan điểm bằng hành sự. Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố này là kẻ không phải chịu sự bất hạnh, không sanh vào địa ngục, không bị đọa trọn kiếp, có thể đổi khác được.
Inda-bh 2~105Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố khác nữa là kẻ không phải chịu sự bất hạnh, không sanh vào địa ngục, không bị đọa trọn kiếp, có thể đổi khác được. Với năm (yếu tố) gì? Này Upāli, ở đây vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật,’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật,’ đã không che giấu quan điểm bằng sự đọc tụng (giới bổn). Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố này là kẻ không phải chịu sự bất hạnh, không sanh vào địa ngục, không bị đọa trọn kiếp, có thể đổi khác được.
Inda-bh 3~106Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố khác nữa là kẻ không phải chịu sự bất hạnh, không sanh vào địa ngục, không bị đọa trọn kiếp, có thể đổi khác được. Với năm (yếu tố) gì? Này Upāli, ở đây vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật,’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật,’ đã không che giấu quan điểm trong khi phát biểu. Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố này là kẻ không phải chịu sự bất hạnh, không sanh vào địa ngục, không bị đọa trọn kiếp, có thể đổi khác được.
Inda-bh 4~107Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố khác nữa là kẻ không phải chịu sự bất hạnh, không sanh vào địa ngục, không bị đọa trọn kiếp, có thể đổi khác được. Với năm (yếu tố) gì? Này Upāli, ở đây vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật,’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật,’ đã không che giấu quan điểm bằng lời tuyên bố. Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố này là kẻ không phải chịu sự bất hạnh, không sanh vào địa ngục, không bị đọa trọn kiếp, có thể đổi khác được.
Inda-bh 5~108Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố khác nữa là kẻ không phải chịu sự bất hạnh, không sanh vào địa ngục, không bị đọa trọn kiếp, có thể đổi khác được. Với năm (yếu tố) gì? Này Upāli, ở đây vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật,’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật,’ đã không che giấu quan điểm bằng cách phân phát thẻ biểu quyết. Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố này là kẻ không phải chịu sự bất hạnh, không sanh vào địa ngục, không bị đọa trọn kiếp, có thể đổi khác được.
Inda-bh 6~109Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố khác nữa là kẻ không phải chịu sự bất hạnh, không sanh vào địa ngục, không bị đọa trọn kiếp, có thể đổi khác được. Với năm (yếu tố) gì? Này Upāli, ở đây vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật,’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật,’ đã không che giấu điều mong mỏi bằng hành sự. … (như trên) … đã không che giấu điều mong mỏi bằng sự đọc tụng (giới bổn). … (như trên) … đã không che giấu điều mong mỏi trong khi phát biểu. … nt … đã không che giấu điều mong mỏi bằng lời tuyên bố. … nt … đã không che giấu điều mong mỏi bằng cách phân phát thẻ biểu quyết. Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố này là kẻ không phải chịu sự bất hạnh, không sanh vào địa ngục, không bị đọa trọn kiếp, có thể đổi khác được.
Inda-bh 7~110Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố khác nữa là kẻ không phải chịu sự bất hạnh, không sanh vào địa ngục, không bị đọa trọn kiếp, có thể đổi khác được. Với năm (yếu tố) gì? Này Upāli, ở đây vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật,’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật,’ đã không che giấu điều khao khát bằng hành sự. … (như trên) … đã không che giấu điều khao khát bằng sự đọc tụng (giới bổn). … (như trên) … đã không che giấu điều khao khát trong khi phát biểu. … nt … đã không che giấu điều khao khát bằng lời tuyên bố. … nt … đã không che giấu điều khao khát bằng cách phân phát thẻ biểu quyết. Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố này là kẻ không phải chịu sự bất hạnh, không sanh vào địa ngục, không bị đọa trọn kiếp, có thể đổi khác được.
Inda-bh 8~111Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố khác nữa là kẻ không phải chịu sự bất hạnh, không sanh vào địa ngục, không bị đọa trọn kiếp, có thể đổi khác được. Với năm (yếu tố) gì?
Này Upāli, ở đây vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật,’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật,’ đã không che giấu ý tưởng bằng hành sự. … nt … đã không che giấu ý tưởng bằng sự đọc tụng (giới bổn). … nt … đã không che giấu ý tưởng trong khi phát biểu. … nt … đã không che giấu ý tưởng bằng lời tuyên bố. … nt … đã không che giấu ý tưởng bằng cách phân phát thẻ biểu quyết. Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có năm yếu tố này là kẻ không phải chịu sự bất hạnh, không sanh vào địa ngục, không bị đọa trọn kiếp, có thể đổi khác được.
Phẩm thứ nhì về Kẻ Chia Rẽ Hội Chúng là thứ mười hai.
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
Sau khi che giấu quan điểm bằng hành sự, với sự đọc tụng, và bằng lời phát biểu, với lời tuyên bố, bằng thẻ, năm cách này phụ thuộc vào quan điểm.
Còn điều mong mỏi, sự khao khát, và ý tưởng, ba đường hướng ấy là có năm phần. Giống như hai mươi phương thức tương đương này ở phần tối bên dưới, tương tợ như thế ấy hãy hiểu rõ về hai mươi sự tương đương ở phần sáng.
13. PHẨM VỊ THƯỜNG TRÚ:
Inda-bh 1~112 Bạch ngài, vị tỳ khưu thường trú có bao nhiêu yếu tố bị đọa vào địa ngục như thế tương ứng với việc đã làm?
Này Upāli, vị tỳ khưu thường trú có năm yếu tố bị đọa vào địa ngục như thế tương ứng với việc đã làm. Với năm (yếu tố) gì? Là vị thiên vị vì ưa thích, thiên vị vì sân hận, thiên vị vì si mê, thiên vị vì sợ hãi, vị sử dụng vật thuộc về hội chúng như là vật dụng thuộc về cá nhân. Này Upāli, vị tỳ khưu thường trú có năm yếu tố này bị đọa vào địa ngục như thế tương ứng với việc đã làm.
Inda-bh 2~113Này Upāli, vị tỳ khưu thường trú có năm yếu tố được sanh vào cõi trời như thế tương ứng với việc đã làm. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không thiên vị vì ưa thích, không thiên vị vì sân hận, không thiên vị vì si mê, không thiên vị vì sợ hãi, vị không sử dụng vật thuộc về hội chúng như là vật dụng thuộc về cá nhân. Này Upāli, vị tỳ khưu thường trú có năm yếu tố này được sanh vào cõi trời như thế tương ứng với việc đã làm.
Inda-bh 3~114 Bạch ngài, có bao nhiêu cách giải thích Luật sai Pháp? Này Upāli, đây là năm cách giải thích Luật sai Pháp. Thế nào là năm? Này Upāli, ở đây vị tỳ khưu thuyết phục rằng phi Pháp là ‘Pháp,’ thuyết phục rằng Pháp là: ‘Phi Pháp,’ thuyết phục rằng phi Luật là: ‘Luật,’ thuyết phục rằng Luật là: ‘Phi Luật,’ vị quy định điều chưa được quy định và hủy bỏ điều đã được quy định. Này Upāli, đây là năm cách giải thích Luật sai Pháp.
Inda-bh 4~115Này Upāli, đây là năm cách giải thích Luật đúng Pháp. Thế nào là năm? Này Upāli, ở đây vị tỳ khưu thuyết phục rằng phi Pháp là ‘Phi Pháp,’ thuyết phục rằng Pháp là: ‘Pháp,’ thuyết phục rằng phi Luật là: ‘Phi Luật,’ thuyết phục rằng Luật là: ‘Luật,’ vị không quy định điều chưa được quy định và không hủy bỏ điều đã được quy định. Này Upāli, đây là năm cách giải thích Luật đúng Pháp.
Inda-bh 5~116 Bạch ngài, vị sắp xếp bữa ăn có bao nhiêu yếu tố bị đọa vào địa ngục như thế tương ứng với việc đã làm?
Này Upāli, vị sắp xếp bữa ăn có năm yếu tố bị đọa vào địa ngục như thế tương ứng với việc đã làm. Với năm (yếu tố) gì? Là vị thiên vị vì ưa thích, thiên vị vì sân hận, thiên vị vì si mê, thiên vị vì sợ hãi, là vị không biết (bữa ăn) đã được sắp xếp hay chưa được sắp xếp. Này Upāli, vị sắp xếp bữa ăn có năm yếu tố này bị đọa vào địa ngục như thế tương ứng với việc đã làm.
Inda-bh 6~117Này Upāli, vị sắp xếp bữa ăn có năm yếu tố được sanh vào cõi trời như thế tương ứng với việc đã làm. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không thiên vị vì ưa thích, không thiên vị vì sân hận, không thiên vị vì si mê, không thiên vị vì sợ hãi, là vị biết (bữa ăn) đã được sắp xếp hay chưa được sắp xếp. Này Upāli, vị sắp xếp bữa ăn có năm yếu tố này được sanh vào cõi trời như thế tương ứng với việc đã làm.
Inda-bh 7~118Này Upāli, vị phân bố chỗ trú ngụ … (như trên) … vị giữ kho đồ đạc … (như trên) … vị tiếp nhận y … (như trên) … vị phân chia y … (như trên) … vị phân chia cháo … (như trên) … vị phân chia trái cây … (như trên) … vị phân chia thức ăn khô … (như trên) … vị phân chia vật linh tinh … (như trên) … vị tiếp nhận y khoác ngoài, … (như trên) … vị tiếp nhận bình bát, … (như trên) … vị quản trị các người phụ việc chùa, … (như trên) … vị quản trị các sa di có bao nhiêu yếu tố bị đọa vào địa ngục tương ứng với việc đã làm như thế?
Này Upāli, vị quản trị các sa di có năm yếu tố bị đọa vào địa ngục như thế tương ứng với việc đã làm. Với năm (yếu tố) gì? Là vị thiên vị vì ưa thích, thiên vị vì sân hận, thiên vị vì si mê, thiên vị vì sợ hãi, là vị không biết điều cần quản trị và điều không cần quản trị. Này Upāli, vị quản trị các sa di có năm yếu tố này bị đọa vào địa ngục như thế tương ứng với việc đã làm.
Inda-bh 8~119Này Upāli, vị quản trị các sa di có năm yếu tố được sanh vào cõi trời như thế tương ứng với việc đã làm. Với năm (yếu tố) gì? Là vị không thiên vị vì ưa thích, không thiên vị vì sân hận, không thiên vị vì si mê, không thiên vị vì sợ hãi, là vị biết điều cần quản trị và điều không cần quản trị. Này Upāli, vị quản trị các sa di có năm yếu tố này được sanh vào cõi trời như thế tương ứng với việc đã làm.
Phẩm Vị Thường Trú là thứ mười ba.
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
Vị (tỳ khưu) thường trú, các điều giải thích, sắp xếp bữa ăn, và chỗ ngụ, đồ đạc, việc tiếp nhận y, và vị phân chia y.
Cháo, trái cây, vật thực khô, và vật linh tinh, vị tiếp nhận tấm choàng, bình bát, và luôn cả người phụ việc chùa, với sa di, và vị quản trị.
14. PHẨM THÀNH TỰU KAṬHINA:
Inda-bh 1~120 Bạch ngài, có bao nhiêu điều thuận lợi trong việc thành tựu Kaṭhina?
Này Upāli, đây là năm điều thuận lợi trong việc thành tựu Kaṭhina. Thế nào là năm? Việc ra đi không phải báo, việc ra đi không mang theo (đủ cả ba y), sự thọ thực thành nhóm, (sử dụng được nhiều) y theo như nhu cầu, sự phát sanh về y tại nơi ấy sẽ là của các vị ấy. Này Upāli, đây là năm điều thuận lợi trong việc thành tựu Kaṭhina.
Inda-bh 2~121 Bạch ngài, có bao nhiêu điều bất lợi của vị có niệm bị xao lãng, không có sự giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ?
Này Upāli, đây là năm điều bất lợi của vị có niệm bị xao lãng, không có sự giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ. Thế nào là năm? Vị (ấy) ngủ khổ sở, thức dậy khổ sở, thấy mộng điều ác xấu, chư thiên không hộ trì, tinh dịch bị xuất ra. Này Upāli, đây là năm điều bất lợi của vị có niệm bị xao lãng, không có sự giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ.
Này Upāli, đây là năm điều lợi ích của vị có niệm đã được thiết lập, có sự giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ. Thế nào là năm? Vị (ấy) ngủ an lạc, thức dậy an lạc, không thấy mộng điều ác xấu, chư thiên hộ trì, tinh dịch không bị xuất ra. Này Upāli, đây là năm điều lợi ích của vị có niệm đã được thiết lập, có sự giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ.
Inda-bh 3~122 Bạch ngài, có bao nhiêu hạng người không nên được đảnh lễ?
Này Upāli, đây là năm hạng người không nên được đảnh lễ. Thế nào là năm? Vị đã đi vào trong xóm nhà không nên được đảnh lễ, vị đi ở đường lộ không nên được đảnh lễ, vị ở trong bóng tối không nên được đảnh lễ, vị không chú ý đến (sự đảnh lễ) không nên được đảnh lễ, vị đã ngủ không nên được đảnh lễ. Này Upāli, năm hạng người này không nên được đảnh lễ.
Inda-bh 4~123Này Upāli, đây là năm hạng người khác nữa không nên được đảnh lễ. Thế nào là năm? Khi húp cháo không nên được đảnh lễ, ở trong nhà ăn không nên được đảnh lễ, vị tách riêng một mình (do oán giận) không nên được đảnh lễ, vị chú ý vào việc khác không nên được đảnh lễ, vị lõa thể không nên được đảnh lễ. Này Upāli, năm hạng người này không nên được đảnh lễ.
Inda-bh 5~124Này Upāli, đây là năm hạng người khác nữa không nên được đảnh lễ. Thế nào là năm? Vị đang nhai (vật thực cứng) không nên được đảnh lễ, vị đang ăn (vật thực mềm) không nên được đảnh lễ, vị đang đại tiện không nên được đảnh lễ, vị đang tiểu tiện không nên được đảnh lễ, vị bị án treo không nên được đảnh lễ. Này Upāli, năm hạng người này không nên được đảnh lễ.
Inda-bh 6~125Này Upāli, đây là năm hạng người khác nữa không nên được đảnh lễ. Thế nào là năm? Vị tu lên bậc trên sau không nên được đảnh lễ bởi vị tu lên bậc trên trước, vị chưa tu lên bậc trên không nên được đảnh lễ, vị không đồng cộng trú thâm niên hơn nói sai Pháp không nên được đảnh lễ, người nữ không nên được đảnh lễ, người vô căn không nên được đảnh lễ. Này Upāli, năm hạng người này không nên được đảnh lễ.
Inda-bh 7~126Này Upāli, đây là năm hạng người khác nữa không nên được đảnh lễ. Thế nào là năm? Vị thực hành hình phạt parivāsa không nên được đảnh lễ, vị xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu không nên được đảnh lễ, vị xứng đáng hình phạt mānatta không nên được đảnh lễ, vị thực hành hình phạt mānatta không nên được đảnh lễ, vị xứng đáng sự giải tội không nên được đảnh lễ. Này Upāli, năm hạng người này không nên được đảnh lễ.
Inda-bh 8~127 Bạch ngài, có bao nhiêu hạng người nên được đảnh lễ?
Này Upāli, đây là năm hạng người nên được đảnh lễ. Thế nào là năm? Vị tu lên bậc trên trước nên được đảnh lễ bởi vị tu lên bậc trên sau, vị không đồng cộng trú thâm niên hơn nói đúng Pháp nên được đảnh lễ, thầy dạy học nên được đảnh lễ, thầy tế độ nên được đảnh lễ, trong thế gian tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, và loài người, đức Như Lai bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác nên được đảnh lễ. Này Upāli, năm hạng người này nên được đảnh lễ.
Inda-bh 9~128 Bạch ngài, vị tỳ khưu mới tu sau trong khi đảnh lễ ở chân của vị tỳ khưu thâm niên hơn nên thiết lập ở nội tâm bao nhiêu pháp rồi mới nên đảnh lễ ở hai chân?
Này Upāli, vị tỳ khưu mới tu sau trong khi đảnh lễ ở chân của vị tỳ khưu thâm niên hơn nên thiết lập ở nội tâm năm pháp rồi mới nên đảnh lễ ở hai chân. Thế nào là năm? Này Upāli, vị tỳ khưu mới tu sau trong khi đảnh lễ ở chân của vị tỳ khưu thâm niên hơn nên đắp thượng y một bên vai, chắp tay lên, chà xát khắp hai chân với hai lòng bàn tay, sau khi an trú với sự quý mến và kính trọng, rồi mới nên đảnh lễ ở hai chân. Này Upāli, vị tỳ khưu mới tu sau trong khi đảnh lễ ở chân của vị tỳ khưu thâm niên hơn nên thiết lập ở nội tâm năm pháp này rồi mới nên đảnh lễ ở hai chân.
Phẩm Thành Tựu Kaṭhina là thứ mười bốn.
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
Sự thành tựu Kaṭhina, và giấc ngủ, khoảng giữa (đường), (húp) cháo, khi (đang) nhai, vị tu trước, vị thực hành parivāsa, vị đáng được đảnh lễ, liên quan đến việc nên đảnh lễ.
Dứt Nhóm Năm về Upāli.
TÓM LƯỢC CÁC PHẨM NÀY:
Không nương nhờ, và hành sự, lời phát biểu, và với sự trình bày, sự cáo tội, và các pháp giũ bỏ, dối trá, và luôn cả tỳ khưu ni.
Đại biểu, sự tranh tụng, kẻ chia rẽ (hội chúng), điều thứ năm ở trước, vị thường trú, và lễ Kaṭhina, mười bốn phần đã khéo được giải thích.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- The Compendium
Ven. Upāli questions the Buddha
Năm Pháp của Upāli
1. Anissitavagga
1. The subchapter on “without formal support”
1. Phẩm Không Nương Tựa
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho āyasmā upāli yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā upāli bhagavantaṁ etadavoca—“katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā yāvajīvaṁ nānissitena vatthabban”ti?
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. Venerable Upāli went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “Venerable sir, what sort of monk should live with formal support for life?”
417. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, bậc Thế Tôn, đang trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika, tu viện Jetavana. Khi ấy, trưởng lão Upāli đi đến nơi đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, trưởng lão Upāli đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, vị tỳ khưu có đầy đủ bao nhiêu chi pháp thì không nên sống không nương tựa cho đến trọn đời?”
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā yāvajīvaṁ nānissitena vatthabbaṁ. Katamehi pañcahi? Uposathaṁ na jānāti, uposathakammaṁ na jānāti, pātimokkhaṁ na jānāti, pātimokkhuddesaṁ na jānāti, ūnapañcavasso hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā yāvajīvaṁ nānissitena vatthabbaṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā yāvajīvaṁ anissitena vatthabbaṁ. Katamehi pañcahi? Uposathaṁ jānāti, uposathakammaṁ jānāti, pātimokkhaṁ jānāti, pātimokkhuddesaṁ jānāti, pañcavasso vā hoti atirekapañcavasso vā—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā yāvajīvaṁ anissitena vatthabbaṁ.
“One who has five qualities, Upāli: (1) he doesn’t know about the observance-day ceremony; (2) he doesn’t know the observance-day procedure; (3) he doesn’t know the Monastic Code; (4) he doesn’t know the recitation of the Monastic Code; (5) he has less than five years of seniority. But a monk who has five qualities may live without formal support for life: (1) he knows about the observance-day ceremony; (2) he knows the observance-day procedure; (3) he knows the Monastic Code; (4) he knows the recitation of the Monastic Code; (5) he has five or more years of seniority.
“Này Upāli, vị tỳ khưu có đầy đủ năm chi pháp thì không nên sống không nương tựa cho đến trọn đời. Năm chi pháp nào? Không biết về lễ uposatha, không biết về phận sự uposatha, không biết về Pātimokkha, không biết về việc đọc Pātimokkha, có số hạ chưa đủ năm – này Upāli, vị tỳ khưu có đầy đủ năm chi pháp này thì không nên sống không nương tựa cho đến trọn đời. Này Upāli, vị tỳ khưu có đầy đủ năm chi pháp thì nên sống không nương tựa cho đến trọn đời. Năm chi pháp nào? Biết về lễ uposatha, biết về phận sự uposatha, biết về Pātimokkha, biết về việc đọc Pātimokkha, có số hạ là năm hoặc có số hạ hơn năm – này Upāli, vị tỳ khưu có đầy đủ năm chi pháp này thì nên sống không nương tựa cho đến trọn đời.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā yāvajīvaṁ nānissitena vatthabbaṁ. Katamehi pañcahi? Pavāraṇaṁ na jānāti, pavāraṇākammaṁ na jānāti, pātimokkhaṁ na jānāti, pātimokkhuddesaṁ na jānāti, ūnapañcavasso hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā yāvajīvaṁ nānissitena vatthabbaṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā yāvajīvaṁ anissitena vatthabbaṁ. Katamehi pañcahi? Pavāraṇaṁ jānāti, pavāraṇākammaṁ jānāti, pātimokkhaṁ jānāti, pātimokkhuddesaṁ jānāti, pañcavasso vā hoti atirekapañcavasso vā—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā yāvajīvaṁ anissitena vatthabbaṁ.
A monk who has five other qualities should also live with formal support for life: (1) he doesn’t know about the invitation ceremony; (2) he doesn’t know the invitation procedure; (3) he doesn’t know the Monastic Code; (4) he doesn’t know the recitation of the Monastic Code; (5) he has less than five years of seniority. But a monk who has five qualities may live without formal support for life: (1) he knows about the invitation ceremony; (2) he knows the invitation procedure; (3) he knows the Monastic Code; (4) he knows the recitation of the Monastic Code; (5) he has five or more years of seniority.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu có đủ năm pháp không nên sống không nương tựa cho đến trọn đời. Năm pháp ấy là gì? Không biết lễ Tự tứ, không biết nghiệp sự Tự tứ, không biết Pātimokkha, không biết việc thuyết Pātimokkha, chưa đủ năm tuổi hạ. Này Upāli, vị tỳ khưu có đủ năm pháp này không nên sống không nương tựa cho đến trọn đời. Này Upāli, vị tỳ khưu có đủ năm pháp nên sống không nương tựa cho đến trọn đời. Năm pháp ấy là gì? Biết lễ Tự tứ, biết nghiệp sự Tự tứ, biết Pātimokkha, biết việc thuyết Pātimokkha, đã đủ năm tuổi hạ hoặc hơn năm tuổi hạ. Này Upāli, vị tỳ khưu có đủ năm pháp này nên sống không nương tựa cho đến trọn đời.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā yāvajīvaṁ nānissitena vatthabbaṁ. Katamehi pañcahi? Āpattānāpattiṁ na jānāti, lahukagarukaṁ āpattiṁ na jānāti, sāvasesānavasesaṁ āpattiṁ na jānāti, duṭṭhullāduṭṭhullaṁ āpattiṁ na jānāti, ūnapañcavasso hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā yāvajīvaṁ nānissitena vatthabbaṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā yāvajīvaṁ anissitena vatthabbaṁ. Katamehi pañcahi? Āpattānāpattiṁ jānāti, lahukagarukaṁ āpattiṁ jānāti, sāvasesānavasesaṁ āpattiṁ jānāti, duṭṭhullāduṭṭhullaṁ āpattiṁ jānāti, pañcavasso vā hoti atirekapañcavasso vā—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā yāvajīvaṁ anissitena vatthabbaṁ”.
A monk who has five other qualities should also live with formal support for life: (1) he doesn’t know the offenses and non-offenses; (2) he doesn’t know the light and heavy offenses; (3) he doesn’t know the curable and incurable offenses; (4) he doesn’t know the grave and minor offenses; (5) he has less than five years of seniority. But a monk who has five qualities may live without formal support for life: (1) he knows the offenses and non-offenses; (2) he knows the light and heavy offenses; (3) he knows the curable and incurable offenses; (4) he knows the grave and minor offenses; (5) he has five or more years of seniority.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu có đủ năm pháp không nên sống không nương tựa cho đến trọn đời. Năm pháp ấy là gì? Không biết tội và không phải tội, không biết tội nhẹ và tội nặng, không biết tội có dư và tội không có dư, không biết tội thô và tội không thô, chưa đủ năm tuổi hạ. Này Upāli, vị tỳ khưu có đủ năm pháp này không nên sống không nương tựa cho đến trọn đời. Này Upāli, vị tỳ khưu có đủ năm pháp nên sống không nương tựa cho đến trọn đời. Năm pháp ấy là gì? Biết tội và không phải tội, biết tội nhẹ và tội nặng, biết tội có dư và tội không có dư, biết tội thô và tội không thô, đã đủ năm tuổi hạ hoặc hơn năm tuổi hạ. Này Upāli, vị tỳ khưu có đủ năm pháp này nên sống không nương tựa cho đến trọn đời.”
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo”ti?
“Sir, what sort of monk shouldn’t give the full ordination or formal support, nor have a novice monk attend on him?”
418. “Bạch ngài, vị tỳ khưu có đủ bao nhiêu pháp thì không nên truyền giới Cụ túc, không nên cho nương tựa, không nên cho sa-di phục vụ?”
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Katamehi pañcahi? Na paṭibalo hoti antevāsiṁ vā saddhivihāriṁ vā gilānaṁ upaṭṭhātuṁ vā upaṭṭhāpetuṁ vā, anabhirataṁ vūpakāsetuṁ vā vūpakāsāpetuṁ vā, uppannaṁ kukkuccaṁ dhammato vinodetuṁ, abhidhamme vinetuṁ, abhivinaye vinetuṁ—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Katamehi pañcahi? Paṭibalo hoti antevāsiṁ vā saddhivihāriṁ vā gilānaṁ upaṭṭhātuṁ vā upaṭṭhāpetuṁ vā, anabhirataṁ vūpakāsetuṁ vā vūpakāsāpetuṁ vā, uppannaṁ kukkuccaṁ dhammato vinodetuṁ, abhidhamme vinetuṁ, abhivinaye vinetuṁ—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
“One who has five qualities: He’s incapable of three things in regard to a student: (1) of nursing him or having him nursed when he’s sick; (2) of sending him away or having him sent away when he’s discontent with the spiritual life; and (3) of using the Teaching to dispel anxiety. And (4) he is incapable of training him in the Teaching; and (5) he is incapable of training him in the Monastic Law. But a monk who has five qualities may give the full ordination and formal support, and he may have a novice monk attend on him: He’s capable of three things in regard to a student: (1) of nursing him or having him nursed when he’s sick; (2) of sending him away or having him sent away when he’s discontent with the spiritual life; and (3) of using the Teaching to dispel anxiety. And (4) he is capable of training him in the Teaching; and (5) he is capable of training him in the Monastic Law.
“Này Upāli, vị tỳ khưu có đủ năm pháp thì không nên truyền giới Cụ túc, không nên cho nương tựa, không nên cho sa-di phục vụ. Năm pháp ấy là gì? Không có khả năng tự mình chăm sóc hoặc nhờ người khác chăm sóc đệ tử sống gần hay đệ tử cùng sống chung khi bị bệnh, không có khả năng tự mình làm cho nguôi ngoai hoặc nhờ người khác làm cho nguôi ngoai sự không hoan hỷ, không có khả năng dẹp bỏ sự hối hận đã phát sanh đúng theo Pháp, không có khả năng huấn luyện về Thắng Pháp, không có khả năng huấn luyện về Thắng Luật. Này Upāli, vị tỳ khưu có đủ năm pháp này thì không nên truyền giới Cụ túc, không nên cho nương tựa, không nên cho sa-di phục vụ. Này Upāli, vị tỳ khưu có đủ năm pháp thì nên truyền giới Cụ túc, nên cho nương tựa, nên cho sa-di phục vụ. Năm pháp ấy là gì? Có khả năng tự mình chăm sóc hoặc nhờ người khác chăm sóc đệ tử sống gần hay đệ tử cùng sống chung khi bị bệnh, có khả năng tự mình làm cho nguôi ngoai hoặc nhờ người khác làm cho nguôi ngoai sự không hoan hỷ, có khả năng dẹp bỏ sự hối hận đã phát sanh đúng theo Pháp, có khả năng huấn luyện về Thắng Pháp, có khả năng huấn luyện về Thắng Luật. Này Upāli, vị tỳ khưu có đủ năm pháp này thì nên truyền giới Cụ túc, nên cho nương tựa, nên cho sa-di phục vụ.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Katamehi pañcahi? Na paṭibalo hoti antevāsiṁ vā saddhivihāriṁ vā abhisamācārikāya sikkhāya sikkhāpetuṁ, ādibrahmacāriyakāya sikkhāya vinetuṁ, adhisīle vinetuṁ, adhicitte vinetuṁ, adhipaññāya vinetuṁ—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Katamehi pañcahi? Paṭibalo hoti antevāsiṁ vā saddhivihāriṁ vā abhisamācārikāya sikkhāya sikkhāpetuṁ, ādibrahmacāriyakāya sikkhāya vinetuṁ, adhisīle vinetuṁ, adhicitte vinetuṁ, adhipaññāya vinetuṁ—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo”ti.
A monk who has five other qualities also shouldn’t give the full ordination or formal support, nor have a novice monk attend on him: He’s incapable of five things in regard to a student: (1) of training him in good conduct; (2) of training him in the basics of the spiritual life; (3) of training him in the higher morality; (4) of training him in the higher mind; (5) of training him in the higher wisdom. But a monk who has five qualities may give the full ordination and formal support, and he may have a novice monk attend on him: He’s capable of five things in regard to a student: (1) of training him in good conduct; (2) of training him in the basics of the spiritual life; (3) of training him in the higher morality; (4) of training him in the higher mind; (5) of training him in the higher wisdom.”
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu có đủ năm pháp thì không nên truyền giới Cụ túc, không nên cho nương tựa, không nên cho sa-di phục vụ. Năm pháp ấy là gì? Không có khả năng dạy dỗ đệ tử sống gần hay đệ tử cùng sống chung về học giới liên quan đến oai nghi tốt đẹp, không có khả năng huấn luyện về học giới liên quan đến phần đầu của phạm hạnh, không có khả năng huấn luyện về tăng thượng giới, không có khả năng huấn luyện về tăng thượng tâm, không có khả năng huấn luyện về tăng thượng tuệ. Này Upāli, vị tỳ khưu có đủ năm pháp này thì không nên truyền giới Cụ túc, không nên cho nương tựa, không nên cho sa-di phục vụ. Này Upāli, vị tỳ khưu có đủ năm pháp thì nên truyền giới Cụ túc, nên cho nương tựa, nên cho sa-di phục vụ. Năm pháp ấy là gì? Có khả năng dạy dỗ đệ tử sống gần hay đệ tử cùng sống chung về học giới liên quan đến oai nghi tốt đẹp, có khả năng huấn luyện về học giới liên quan đến phần đầu của phạm hạnh, có khả năng huấn luyện về tăng thượng giới, có khả năng huấn luyện về tăng thượng tâm, có khả năng huấn luyện về tăng thượng tuệ. Này Upāli, vị tỳ khưu có đủ năm pháp này thì nên truyền giới Cụ túc, nên cho nương tựa, nên cho sa-di phục vụ.”
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ kātabban”ti?
“Sir, against what sort of monk should a legal procedure be done?”
419. “Bạch ngài, nên thi hành nghiệp sự đối với vị tỳ khưu có đủ bao nhiêu pháp?”
Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ kātabbaṁ. Katamehi pañcahi? Alajjī ca hoti, bālo ca, apakatatto ca, micchādiṭṭhiko ca hoti, ājīvavipanno ca—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ kātabbaṁ.
“Against one who has five qualities: he is shameless, ignorant, and not a regular monk, and he has wrong view, and he has failed in livelihood.
“Này Upāli, nên thi hành nghiệp sự đối với vị tỳ khưu có đủ năm pháp. Năm pháp ấy là gì? Là người không có hổ thẹn, là người ngu si, là người không có giới hạnh bình thường, là người có tà kiến, và là người có sinh kế hư hỏng. Này Upāli, nên thi hành nghiệp sự đối với vị tỳ khưu có đủ năm pháp này.”
“Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ kātabbaṁ. Katamehi pañcahi? Adhisīle sīlavipanno hoti, ajjhācāre ācāravipanno hoti, atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti, micchādiṭṭhiko ca hoti, ājīvavipanno ca—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ kātabbaṁ.
A legal procedure should also be done against a monk who has five other qualities: he has failed in the higher morality; he has failed in the higher conduct; he has failed in the higher view; he has wrong view; and he has failed in livelihood.
“Này Upāli, lại nữa, nên thi hành nghiệp sự đối với vị tỳ khưu có đủ năm pháp. Năm pháp ấy là gì? Bị hư hỏng về giới trong tăng thượng giới, bị hư hỏng về hạnh kiểm trong việc vi phạm, bị hư hỏng về tri kiến do quan điểm cực đoan, là người có tà kiến, và là người có sinh kế hư hỏng. Này Upāli, nên thi hành nghiệp sự đối với vị tỳ khưu có đủ năm pháp này.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ kātabbaṁ. Katamehi pañcahi? Kāyikena davena samannāgato hoti, vācasikena davena samannāgato hoti, kāyikavācasikena davena samannāgato hoti, micchādiṭṭhiko ca hoti, ājīvavipanno ca—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ kātabbaṁ.
A legal procedure should also be done against a monk who has five other qualities: his bodily conduct is frivolous; his verbal conduct is frivolous; his bodily and verbal conduct are frivolous; he has wrong view; and he has failed in livelihood.
“Này Upāli, lại nữa, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố, việc hành yết-ma nên được thực hiện. Thế nào là năm? Vị ấy có sự đùa giỡn về thân, có sự đùa giỡn về lời nói, có sự đùa giỡn về thân và lời nói, là người có tà kiến, và là người có sinh kế bị hư hỏng. Này Upāli, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này, việc hành yết-ma nên được thực hiện.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ kātabbaṁ. Katamehi pañcahi? Kāyikena anācārena samannāgato hoti, vācasikena anācārena samannāgato hoti, kāyikavācasikena anācārena samannāgato hoti, micchādiṭṭhiko ca hoti, ājīvavipanno ca—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ kātabbaṁ.
A legal procedure should also be done against a monk who has five other qualities: he is improperly behaved by body; he is improperly behaved by speech; he is improperly behaved by body and speech; he has wrong view; and he has failed in livelihood.
“Này Upāli, lại nữa, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố, việc hành yết-ma nên được thực hiện. Thế nào là năm? Vị ấy có hành vi xấu xa về thân, có hành vi xấu xa về lời nói, có hành vi xấu xa về thân và lời nói, là người có tà kiến, và là người có sinh kế bị hư hỏng. Này Upāli, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này, việc hành yết-ma nên được thực hiện.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ kātabbaṁ. Katamehi pañcahi? Kāyikena upaghātikena samannāgato hoti, vācasikena upaghātikena samannāgato hoti, kāyikavācasikena upaghātikena samannāgato hoti, micchādiṭṭhiko ca hoti, ājīvavipanno ca—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ kātabbaṁ.
A legal procedure should also be done against a monk who has five other qualities: his bodily conduct is harmful; his verbal conduct is harmful; his bodily and verbal conduct are harmful; he has wrong view; and he has failed in livelihood.
“Này Upāli, lại nữa, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố, việc hành yết-ma nên được thực hiện. Thế nào là năm? Vị ấy có hành vi gây tổn hại về thân, có hành vi gây tổn hại về lời nói, có hành vi gây tổn hại về thân và lời nói, là người có tà kiến, và là người có sinh kế bị hư hỏng. Này Upāli, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này, việc hành yết-ma nên được thực hiện.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ kātabbaṁ. Katamehi pañcahi? Kāyikena micchājīvena samannāgato hoti, vācasikena micchājīvena samannāgato hoti, kāyikavācasikena micchājīvena samannāgato hoti, micchādiṭṭhiko ca hoti, ājīvavipanno ca—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ kātabbaṁ.
A legal procedure should also be done against a monk who has five other qualities: he has wrong livelihood by body; he has wrong livelihood by speech; he has wrong livelihood by body and speech; he has wrong view; and he has failed in livelihood.
“Này Upāli, lại nữa, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố, việc hành yết-ma nên được thực hiện. Thế nào là năm? Vị ấy có tà mạng về thân, có tà mạng về lời nói, có tà mạng về thân và lời nói, là người có tà kiến, và là người có sinh kế bị hư hỏng. Này Upāli, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này, việc hành yết-ma nên được thực hiện.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ kātabbaṁ. Katamehi pañcahi? Āpattiṁ āpanno kammakato upasampādeti, nissayaṁ deti, sāmaṇeraṁ upaṭṭhāpeti, bhikkhunovādakasammutiṁ sādiyati, sammatopi bhikkhuniyo ovadati—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ kātabbaṁ.
A legal procedure should also be done against a monk who has five other qualities: if, after committing an offense and having had a legal procedure done against him, he: (1) gives the full ordination, (2) gives formal support, (3) has a novice monk attend on him, (4) accepts being appointed as an instructor of the nuns, (5) instructs the nuns, whether appointed or not.
“Này Upāli, lại nữa, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố, việc hành yết-ma nên được thực hiện. Thế nào là năm? Vị ấy đã phạm tội, đang bị hành yết-ma mà vẫn truyền giới cụ túc, vẫn cho nương tựa, vẫn cho sa-di phục vụ, vẫn chấp thuận sự chỉ định làm người giáo giới tỳ khưu ni, và sau khi được chỉ định vẫn giáo giới các tỳ khưu ni. Này Upāli, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này, việc hành yết-ma nên được thực hiện.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ kātabbaṁ. Katamehi pañcahi? Yāya āpattiyā saṅghena kammaṁ kataṁ hoti taṁ āpattiṁ āpajjati, aññaṁ vā tādisikaṁ, tato vā pāpiṭṭhataraṁ, kammaṁ garahati, kammike garahati—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ kātabbaṁ.
A legal procedure should also be done against a monk who has five other qualities: (1) he commits the same offense for which the Sangha did the legal procedure against him; (2) he commits an offense similar to the one for which the Sangha did the legal procedure against him; (3) he commits an offense worse than the one for which the Sangha did the legal procedure against him; (4) he criticizes the procedure; (5) he criticizes those who did the procedure.
“Này Upāli, lại nữa, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố, việc hành yết-ma nên được thực hiện. Thế nào là năm? Vị ấy phạm vào tội mà vì tội ấy Tăng chúng đã thực hiện yết-ma, hoặc phạm vào tội khác tương tự, hoặc tội khác xấu xa hơn tội ấy; vị ấy chê bai yết-ma, chê bai những người thực hiện yết-ma. Này Upāli, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này, việc hành yết-ma nên được thực hiện.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ kātabbaṁ. Katamehi pañcahi? Buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati, micchādiṭṭhiko ca hoti, ājīvavipanno ca—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ kātabban”ti.
A legal procedure should also be done against a monk who has five other qualities: he disparages the Buddha; he disparages the Teaching; he disparages the Sangha; he has wrong view; and he has failed in livelihood.”
“Này Upāli, lại nữa, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố, việc hành yết-ma nên được thực hiện. Thế nào là năm? Vị ấy nói lời chê bai đức Phật, nói lời chê bai Giáo Pháp, nói lời chê bai Tăng chúng, là người có tà kiến, và là người có sinh kế bị hư hỏng. Này Upāli, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này, việc hành yết-ma nên được thực hiện.”
Anissitavaggo niṭṭhito paṭhamo.
Tassuddānaṁ
The first subchapter on “without formal support” is finished.
This is the summary:
Phẩm Không Nương Tựa, phẩm thứ nhất, đã kết thúc.
Uposathaṁ pavāraṇaṁ, āpatti ca gilānakaṁ; Abhisamācāralajjī ca, adhisīle davena ca.
“Observance day, invitation ceremony, And offense, one who is sick; Good conduct, and shameless, Higher morality, and with frivolity.
Lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, tội và bệnh tật; Hành vi tốt, người không biết hổ thẹn, giới bậc cao, và sự đùa giỡn.
Anācāraṁ upaghāti, micchā āpattimeva ca; Yāyāpattiyā buddhassa, paṭhamo vaggasaṅgahoti.
Improperly behaved, harmful, Wrong, and offense; Offense for which, of the Buddha—The compilation of the first subchapter is finished.”
Hành vi xấu xa, gây tổn hại, tà mạng, và chính tội ấy; Tội nào, đức Phật, là sự tổng hợp của phẩm thứ nhất.
2. Nappaṭippassambhanavagga
2. The subchapter on not lifting
2. Phẩm Không Nên Hủy Bỏ
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ nappaṭippassambhetabban”ti?
“Sir, for what sort of monk should a legal procedure not be lifted?”
420. “Bạch ngài, đối với vị tỳ khưu hội đủ bao nhiêu yếu tố thì việc hành yết-ma không nên được hủy bỏ?”
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Katamehi pañcahi? Āpattiṁ āpanno kammakato upasampādeti, nissayaṁ deti, sāmaṇeraṁ upaṭṭhāpeti, bhikkhunovādakasammutiṁ sādiyati, sammatopi bhikkhuniyo ovadati—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
“For one who has five qualities, Upāli: if, after committing an offense and having had a legal procedure done against him, he: (1) gives the full ordination, (2) gives formal support, (3) has a novice monk attend on him, (4) accepts being appointed as an instructor of the nuns, (5) instructs the nuns, whether appointed or not.
“Này Upāli, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố, việc hành yết-ma không nên được hủy bỏ. Thế nào là năm? Vị ấy đã phạm tội, đang bị hành yết-ma mà vẫn truyền giới cụ túc, vẫn cho nương tựa, vẫn cho sa-di phục vụ, vẫn chấp thuận sự chỉ định làm người giáo giới tỳ khưu ni, và sau khi được chỉ định vẫn giáo giới các tỳ khưu ni. Này Upāli, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này, việc hành yết-ma không nên được hủy bỏ.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Katamehi pañcahi? Yāya āpattiyā saṅghena kammaṁ kataṁ hoti taṁ āpattiṁ āpajjati, aññaṁ vā tādisikaṁ, tato vā pāpiṭṭhataraṁ, kammaṁ garahati, kammike garahati—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
A legal procedure should also not be lifted for a monk who has five other qualities: (1) he commits the same offense for which the Sangha did the legal procedure against him; (2) he commits an offense similar to the one for which the Sangha did the legal procedure against him; (3) he commits an offense worse than the one for which the Sangha did the legal procedure against him; (4) he criticizes the procedure; (5) he criticizes those who did the procedure.
“Này Upāli, lại nữa, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố, việc hành yết-ma không nên được hủy bỏ. Thế nào là năm? Vị ấy phạm vào tội mà vì tội ấy Tăng chúng đã thực hiện yết-ma, hoặc phạm vào tội khác tương tự, hoặc tội khác xấu xa hơn tội ấy; vị ấy chê bai yết-ma, chê bai những người thực hiện yết-ma. Này Upāli, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này, việc hành yết-ma không nên được hủy bỏ.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Katamehi pañcahi? Buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati, micchādiṭṭhiko ca hoti, ājīvavipanno ca—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
A legal procedure should also not be lifted for a monk who has five other qualities: he disparages the Buddha; he disparages the Teaching; he disparages the Sangha; he has wrong view; and he has failed in livelihood.
“Này Upāli, lại nữa, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố, việc hành yết-ma không nên được hủy bỏ. Thế nào là năm? Vị ấy nói lời chê bai đức Phật, nói lời chê bai Giáo Pháp, nói lời chê bai Tăng chúng, là người có tà kiến, và là người có sinh kế bị hư hỏng. Này Upāli, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này, việc hành yết-ma không nên được hủy bỏ.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Katamehi pañcahi? Alajjī ca hoti, bālo ca, apakatatto ca, omaddakārako ca hoti, vattesu sikkhāya ca na paripūrakārī—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno kammaṁ nappaṭippassambhetabban”ti.
A legal procedure should also not be lifted for a monk who has five other qualities: he is shameless, ignorant, and not a regular monk, and he is a bully, and he doesn’t fulfill the training in proper conduct.”
“Này Upāli, lại nữa, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố, việc hành yết-ma không nên được hủy bỏ. Thế nào là năm? Vị ấy là người không biết hổ thẹn, là người ngu si, không phải là người bình thường, là người hay chà đạp, và không phải là người thực hành đầy đủ các phận sự và học giới. Này Upāli, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này, việc hành yết-ma không nên được hủy bỏ.”
“Saṅgāmāvacarena, bhante, bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamantena kati dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā saṅgho upasaṅkamitabbo”ti?
“Sir, when a monk is involved in a conflict and is about to approach the Sangha, how many qualities should he first set up in himself?”
421. “Bạch ngài, vị tỳ khưu đi vào nơi tranh tụng, khi đến gần Tăng chúng, nên thiết lập bao nhiêu pháp ở nội tâm rồi mới nên đến gần Tăng chúng?”
“Saṅgāmāvacarena, upāli, bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamantena pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā saṅgho upasaṅkamitabbo. Katame pañca? Saṅgāmāvacarena, upāli, bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamantena nīcacittena saṅgho upasaṅkamitabbo, rajoharaṇasamena cittena, āsanakusalena bhavitabbaṁ nissajjakusalena, there bhikkhū anupakhajjantena, nave bhikkhū āsanena appaṭibāhantena yathāpatirūpe āsane nisīditabbaṁ, anānākathikena bhavitabbaṁ atiracchānakathikena, sāmaṁ vā dhammo bhāsitabbo, paro vā ajjhesitabbo, ariyo vā tuṇhībhāvo nātimaññitabbo, sace, upāli, saṅgho samaggakaraṇīyāni kammāni karoti; tatra ce, upāli, bhikkhuno nakkhamati, api diṭṭhāvikammaṁ katvā ñāpetabbā sāmaggī. Taṁ kissahetu? Māhaṁ saṅghena nānatto assanti. Saṅgāmāvacarenupāli, bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamantena ime pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā saṅgho upasaṅkamitabbo”ti.
“He should set up five qualities in himself: (1) he should be humble; (2) he should be intent on removing defilements; (3) he should be skilled in appropriate seating and where to sit down, taking a seat without encroaching on the senior monks and without blocking the junior monks; (4) he shouldn’t ramble or engage in worldly talk, but should speak according to the Teaching or invite others to speak or value noble silence; (5) if the Sangha is doing legal procedures requiring unity, but the monk doesn’t approve, then he should reveal his view but think, ‘I shouldn’t be at variance with the Sangha,’ and unity can then be announced.”
“Này Upāli, vị tỳ khưu đi vào nơi tranh tụng, trong khi đến gần hội chúng, sau khi đã thiết lập năm pháp ở nội tâm, nên đến gần hội chúng. Năm pháp ấy là gì? Này Upāli, vị tỳ khưu đi vào nơi tranh tụng, trong khi đến gần hội chúng, nên đến gần hội chúng với tâm khiêm hạ, với tâm giống như tấm giẻ lau bụi; nên là người khéo léo về chỗ ngồi, khéo léo về việc ngồi xuống; trong khi không xô đẩy các vị tỳ khưu trưởng lão, trong khi không ngăn cản các vị tỳ khưu trẻ tuổi có được chỗ ngồi, nên ngồi xuống ở chỗ ngồi thích hợp; nên là người không nói các loại chuyện khác, không nói các chuyện bàng sanh; hoặc nên tự mình nói Pháp, hoặc nên thỉnh mời người khác; hoặc không nên xem thường sự im lặng của bậc Thánh. Này Upāli, nếu hội chúng đang thực hiện các phận sự cần đến sự hòa hợp, và này Upāli, nếu vị tỳ khưu không hài lòng về việc ấy, sau khi đã thực hiện việc trình bày quan điểm, cũng nên tham gia vào sự hòa hợp. Vì lý do gì? (Nghĩ rằng): ‘Mong rằng ta không bị tách biệt khỏi hội chúng.’ Này Upāli, vị tỳ khưu đi vào nơi tranh tụng, trong khi đến gần hội chúng, sau khi đã thiết lập năm pháp này ở nội tâm, nên đến gần hội chúng.”
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgato bhikkhu saṅghe voharanto bahujanaakanto ca hoti bahujanaamanāpo ca bahujanaarucito cā”ti?
“What sort of monk does the majority dislike and disapprove of when he speaks in the Sangha?”
422. “Bạch ngài, vị tỳ khưu thành tựu bao nhiêu chi phần, trong khi hành xử trong hội chúng, trở thành người không được đa số yêu mến, không được đa số ưa thích, và không được đa số hài lòng?”
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu saṅghe voharanto bahujanaakanto ca hoti bahujanaamanāpo ca bahujanarucito ca. Katamehi pañcahi? Ussitamantī ca hoti, nissitajappī ca, na ca bhāsānusandhikusalo hoti, na yathādhamme yathāvinaye yathāpattiyā codetā hoti, na yathādhamme yathāvinaye yathāpattiyā kāretā hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu saṅghe voharanto bahujanaakanto ca hoti bahujanaamanāpo ca bahujanaarucito ca. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu saṅghe voharanto bahujanakanto ca hoti bahujanamanāpo ca bahujanarucito ca. Katamehi pañcahi? Na ussitamantī ca hoti, na nissitajappī ca, bhāsānusandhikusalo ca hoti, yathādhamme yathāvinaye yathāpattiyā codetā hoti, yathādhamme yathāvinaye yathāpattiyā kāretā hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu saṅghe voharanto bahujanakanto ca hoti bahujanamanāpo ca bahujanarucito ca.
“One who has five qualities: (1) he’s arrogant; (2) he repeats what others say; (3) he doesn’t keep to the topic; (4) he doesn’t accuse others according to the Teaching, the Monastic Law, or their offense; (5) he doesn’t act according to the Teaching, the Monastic Law, or his offenses. But when a monk has five qualities, the majority likes and approves of him when he speaks in the Sangha: (1) he’s not arrogant; (2) he doesn’t repeat what others say; (3) he keeps to the topic; (4) he accuses others according to the Teaching, the Monastic Law, and their offense; (5) he acts according to the Teaching, the Monastic Law, and his offenses.
“Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần, trong khi hành xử trong hội chúng, trở thành người không được đa số yêu mến, không được đa số ưa thích, và không được đa số hài lòng. Với năm chi phần nào? (Vị ấy) là người có lời nói kiêu mạn, là người nói năng dựa dẫm, không khéo léo trong việc kết nối lời nói, không phải là người chất vấn đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo tội trạng, không phải là người làm cho (người khác) ghi nhớ đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo tội trạng. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần này, trong khi hành xử trong hội chúng, trở thành người không được đa số yêu mến, không được đa số ưa thích, và không được đa số hài lòng. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần, trong khi hành xử trong hội chúng, trở thành người được đa số yêu mến, được đa số ưa thích, và được đa số hài lòng. Với năm chi phần nào? (Vị ấy) không phải là người có lời nói kiêu mạn, không phải là người nói năng dựa dẫm, là người khéo léo trong việc kết nối lời nói, là người chất vấn đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo tội trạng, là người làm cho (người khác) ghi nhớ đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo tội trạng. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần này, trong khi hành xử trong hội chúng, trở thành người được đa số yêu mến, được đa số ưa thích, và được đa số hài lòng.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu saṅghe voharanto bahujanaakanto ca hoti bahujanaamanāpo ca bahujanaarucito ca. Katamehi pañcahi? Ussādetā ca hoti, apasādetā ca, adhammaṁ gaṇhāti, dhammaṁ paṭibāhati, samphañca bahuṁ bhāsati—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu saṅghe voharanto bahujanaakanto ca hoti bahujanaamanāpo ca bahujanaarucito ca. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu saṅghe voharanto bahujanakanto ca hoti bahujanamanāpo ca bahujanarucito ca. Katamehi pañcahi? Na ussādetā ca hoti, na apasādetā ca, dhammaṁ gaṇhāti, adhammaṁ paṭibāhati, samphañca na bahuṁ bhāsati—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu saṅghe voharanto bahujanakanto ca hoti bahujanamanāpo ca bahujanarucito ca.
When a monk has five other qualities, the majority dislikes and disapproves of him when he speaks in the Sangha: (1) he praises; and (2) he blames; (3) he maintains what is contrary to the Teaching; (4) he obstructs what is in accordance with the Teaching; and (5) he often speaks frivolously. But when a monk has five qualities, the majority likes and approves of him when he speaks in the Sangha: (1) he doesn’t praise; and (2) he doesn’t blame; (3) he maintains what is in accordance with the Teaching; (4) he obstructs what is contrary to the Teaching; and (5) he rarely speaks frivolously.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần khác, trong khi hành xử trong hội chúng, trở thành người không được đa số yêu mến, không được đa số ưa thích, và không được đa số hài lòng. Với năm chi phần nào? (Vị ấy) là người tán dương (một số), là người chê bai (một số), chấp nhận điều phi Pháp, bác bỏ điều đúng Pháp, và nói nhiều lời vô ích. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần này, trong khi hành xử trong hội chúng, trở thành người không được đa số yêu mến, không được đa số ưa thích, và không được đa số hài lòng. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần, trong khi hành xử trong hội chúng, trở thành người được đa số yêu mến, được đa số ưa thích, và được đa số hài lòng. Với năm chi phần nào? (Vị ấy) không phải là người tán dương (một số), không phải là người chê bai (một số), chấp nhận điều đúng Pháp, bác bỏ điều phi Pháp, và không nói nhiều lời vô ích. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần này, trong khi hành xử trong hội chúng, trở thành người được đa số yêu mến, được đa số ưa thích, và được đa số hài lòng.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu saṅghe voharanto bahujanaakanto ca hoti bahujanaamanāpo ca bahujanaarucito ca. Katamehi pañcahi? Pasayhapavattā hoti, anokāsakammaṁ kāretvā pavattā hoti, na yathādhamme yathāvinaye yathāpattiyā codetā hoti, na yathādhamme yathāvinaye yathāpattiyā kāretā hoti, na yathādiṭṭhiyā byākatā hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu saṅghe voharanto bahujanaakanto ca hoti bahujanaamanāpo ca bahujanaarucito ca. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu saṅghe voharanto bahujanakanto ca hoti bahujanamanāpo ca bahujanarucito ca. Katamehi pañcahi? Na pasayhapavattā hoti, okāsakammaṁ kāretvā pavattā hoti, yathādhamme yathāvinaye yathāpattiyā codetā hoti, yathādhamme yathāvinaye yathāpattiyā kāretā hoti, yathādiṭṭhiyā byākatā hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu saṅghe voharanto bahujanakanto ca hoti bahujanamanāpo ca bahujanarucito cā”ti.
When a monk has five other qualities, the majority dislikes and disapproves of him when he speaks in the Sangha: (1) he speaks forcefully; (2) he speaks without having gotten permission; (3) he doesn’t accuse others according to the Teaching, the Monastic Law, or their offense; (4) he doesn’t act according to the Teaching, the Monastic Law, or his offenses; (5) he doesn’t explain things according to his own view. But when a monk has five qualities, the majority likes and approves of him when he speaks in the Sangha: (1) he doesn’t speak forcefully; (2) he doesn’t speak without having gotten permission; (3) he accuses others according to the Teaching, the Monastic Law, and their offense; (4) he acts according to the Teaching, the Monastic Law, and his offenses; (5) he explains things according to his own view.”
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần khác, trong khi hành xử trong hội chúng, trở thành người không được đa số yêu mến, không được đa số ưa thích, và không được đa số hài lòng. Với năm chi phần nào? (Vị ấy) là người nói năng áp đảo, là người nói năng sau khi đã hành động không xin phép, không phải là người chất vấn đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo tội trạng, không phải là người làm cho (người khác) ghi nhớ đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo tội trạng, không phải là người giải thích đúng theo quan điểm (của mình). Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần này, trong khi hành xử trong hội chúng, trở thành người không được đa số yêu mến, không được đa số ưa thích, và không được đa số hài lòng. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần, trong khi hành xử trong hội chúng, trở thành người được đa số yêu mến, được đa số ưa thích, và được đa số hài lòng. Với năm chi phần nào? (Vị ấy) không phải là người nói năng áp đảo, là người nói năng sau khi đã hành động có xin phép, là người chất vấn đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo tội trạng, là người làm cho (người khác) ghi nhớ đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo tội trạng, là người giải thích đúng theo quan điểm (của mình). Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần này, trong khi hành xử trong hội chúng, trở thành người được đa số yêu mến, được đa số ưa thích, và được đa số hài lòng.”
“Kati nu kho, bhante, ānisaṁsā vinayapariyattiyā”ti?
“Sir, how many benefits are there of studying the Monastic Law?”
423. “Bạch ngài, có bao nhiêu lợi ích của việc học thông suốt Luật?”
“Pañcime, upāli, ānisaṁsā vinayapariyattiyā. Katame pañca? Attano sīlakkhandho sugutto hoti surakkhito, kukkuccapakatānaṁ paṭisaraṇaṁ hoti, visārado saṅghamajjhe voharati, paccatthike sahadhammena suniggahitaṁ niggaṇhāti, saddhammaṭṭhitiyā paṭipanno hoti—imehi kho, upāli, pañcānisaṁsā vinayapariyattiyā”.
“There are these five benefits: (1) your own morality is well guarded; (2) you’re a refuge for those who are habitually anxious; (3) you speak with confidence in the midst of the Sangha; (4) you can legitimately and properly refute an opponent; (5) you’re practicing for the longevity of the true Teaching.”
“Này Upāli, có năm lợi ích này của việc học thông suốt Luật. Năm điều ấy là gì? Giới uẩn của bản thân được khéo gìn giữ, được khéo bảo vệ; là nơi nương tựa cho những người bị hối hận; hành xử một cách tự tin giữa hội chúng; chế ngự được các đối thủ một cách khéo léo và đúng với Chánh Pháp; là người thực hành vì sự vững mạnh của Chánh Pháp. Này Upāli, đây là năm lợi ích của việc học thông suốt Luật.”
Nappaṭippassambhanavaggo niṭṭhito dutiyo.
Tassuddānaṁ
The second subchapter on not lifting is finished.
This is the summary:
Phẩm Không An Tịnh, phẩm thứ hai, đã kết thúc.
Āpanno yāyavaṇṇañca, alajjī saṅgāmena ca; Ussitā ussādetā ca, pasayha pariyattiyāti.
“Committing, for which, and praise, Shameless, and with conflict; Arrogant, and praises, Forcefully, studying.”
Nhóm năm về người phạm tội, nhóm năm về tội nào, nhóm năm về sự chê bai (Đức Phật), nhóm năm về người không biết hổ thẹn, và nhóm năm về người tham dự hội chúng; nhóm năm về sự kiêu mạn, nhóm năm về người mắng nhiếc, nhóm năm về sự cưỡng ép, và nhóm năm về sự thông thuộc Luật.
Paṭhamayamakapaññatti.
3. Vohāravagga
The first pairs have been laid down.
3. The subchapter on speech
Kết thúc phần chế định về cặp đầu tiên.
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabban”ti
“Sir, what sort of monk shouldn’t speak in the Sangha?”
424. “Bạch ngài, vị tỳ khưu hội đủ bao nhiêu chi phần thì không nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng?”
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Āpattiṁ na jānāti, āpattisamuṭṭhānaṁ na jānāti, āpattiyā payogaṁ na jānāti, āpattiyā vūpasamaṁ na jānāti, āpattiyā na vinicchayakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Āpattiṁ jānāti, āpattisamuṭṭhānaṁ jānāti, āpattiyā payogaṁ jānāti, āpattiyā vūpasamaṁ jānāti, āpattiyā vinicchayakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ.
“One who has five qualities, Upāli: (1) he doesn’t know the offenses; (2) he doesn’t know the origination of the offenses; (3) he doesn’t know the kind of effort required to commit the offenses; (4) he doesn’t know the settling of offenses; (5) he’s not skilled in deciding on offenses. But a monk who has five qualities may speak in the Sangha: (1) he knows the offenses; (2) he knows the origination of the offenses; (3) he knows the kind of effort required to commit the offenses; (4) he knows the settling of offenses; (5) he’s skilled in deciding on offenses.
“Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì không nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng. Do năm chi phần nào? (Vị ấy) không biết tội, không biết sự phát sanh của tội, không biết sự cố gắng (để phạm) tội, không biết sự dập tắt của tội, không thiện xảo trong việc phán quyết về tội. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì không nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng. Do năm chi phần nào? (Vị ấy) biết tội, biết sự phát sanh của tội, biết sự cố gắng (để phạm) tội, biết sự dập tắt của tội, thiện xảo trong việc phán quyết về tội. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Adhikaraṇaṁ na jānāti, adhikaraṇasamuṭṭhānaṁ na jānāti, adhikaraṇassa payogaṁ na jānāti, adhikaraṇassa vūpasamaṁ na jānāti, adhikaraṇassa na vinicchayakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Adhikaraṇaṁ jānāti, adhikaraṇasamuṭṭhānaṁ jānāti, adhikaraṇassa payogaṁ jānāti, adhikaraṇassa vūpasamaṁ jānāti, adhikaraṇassa vinicchayakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ.
A monk who has five other qualities also shouldn’t speak in the Sangha: (1) he doesn’t know the legal issues; (2) he doesn’t know the origination of the legal issues; (3) he doesn’t know the kind of effort that is the source of the legal issues; (4) he doesn’t know the settling of legal issues; (5) he’s not skilled in deciding legal issues. But a monk who has five qualities may speak in the Sangha: (1) he knows the legal issues; (2) he knows the origination of the legal issues; (3) he knows the kind of effort that is the source of the legal issues; (4) he knows the settling of legal issues; (5) he’s skilled in deciding legal issues.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần khác thì không nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng. Do năm chi phần nào? (Vị ấy) không biết sự tranh tụng, không biết sự phát sanh của sự tranh tụng, không biết sự cố gắng (liên quan đến) sự tranh tụng, không biết sự dập tắt của sự tranh tụng, không thiện xảo trong việc phán quyết về sự tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì không nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng. Do năm chi phần nào? (Vị ấy) biết sự tranh tụng, biết sự phát sanh của sự tranh tụng, biết sự cố gắng (liên quan đến) sự tranh tụng, biết sự dập tắt của sự tranh tụng, thiện xảo trong việc phán quyết về sự tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Pasayhapavattā hoti, anokāsakammaṁ kāretvā pavattā hoti, na yathādhamme yathāvinaye yathāpattiyā codetā hoti, na yathādhamme yathāvinaye yathāpattiyā kāretā hoti, na yathādiṭṭhiyā byākatā hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Na pasayhapavattā hoti, okāsakammaṁ kāretvā pavattā hoti, yathādhamme yathāvinaye yathāpattiyā codetā hoti, yathādhamme yathāvinaye yathāpattiyā kāretā hoti, yathādiṭṭhiyā byākatā hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ.
A monk who has five other qualities also shouldn’t speak in the Sangha: (1) he speaks forcefully; (2) he speaks without having gotten permission; (3) he doesn’t accuse others according to the Teaching, the Monastic Law, or their offense; (4) he doesn’t act according to the Teaching, the Monastic Law, or his offenses; (5) he doesn’t explain things according to his own view. But a monk who has five qualities may speak in the Sangha: (1) he doesn’t speak forcefully; (2) he doesn’t speak without having gotten permission; (3) he accuses others according to the Teaching, the Monastic Law, and their offense; (4) he acts according to the Teaching, the Monastic Law, and his offenses; (5) he explains things according to his own view.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần khác thì không nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng. Do năm chi phần nào? (Vị ấy) là người hành xử bằng sự cưỡng ép, là người hành xử sau khi đã không cho phép cơ hội, không phải là người chất vấn đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo tội trạng, không phải là người khiến cho (người khác) thực hành đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo tội trạng, không phải là người giải thích đúng theo sở kiến. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì không nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng. Do năm chi phần nào? (Vị ấy) không phải là người hành xử bằng sự cưỡng ép, là người hành xử sau khi đã cho phép cơ hội, là người chất vấn đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo tội trạng, là người khiến cho (người khác) thực hành đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo tội trạng, là người giải thích đúng theo sở kiến. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Āpattānāpattiṁ na jānāti, lahukagarukaṁ āpattiṁ na jānāti, sāvasesānavasesaṁ āpattiṁ na jānāti, duṭṭhullāduṭṭhullaṁ āpattiṁ na jānāti, sappaṭikammaṁ appaṭikammaṁ āpattiṁ na jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Āpattānāpattiṁ jānāti, lahukagarukaṁ āpattiṁ jānāti, sāvasesānavasesaṁ āpattiṁ jānāti, duṭṭhullāduṭṭhullaṁ āpattiṁ jānāti, sappaṭikammaṁ appaṭikammaṁ āpattiṁ jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ.
A monk who has five other qualities also shouldn’t speak in the Sangha: (1) he doesn’t know the offenses and non-offenses; (2) he doesn’t know the light and heavy offenses; (3) he doesn’t know the curable and incurable offenses; (4) he doesn’t know the grave and minor offenses; (5) he doesn’t know the offenses that are clearable by making amends and the offenses that are not clearable by making amends. But a monk who has five qualities may speak in the Sangha: (1) he knows the offenses and non-offenses; (2) he knows the light and heavy offenses; (3) he knows the curable and incurable offenses; (4) he knows the grave and minor offenses; (5) he knows the offenses that are clearable by making amends and the offenses that are not clearable by making amends.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần khác thì không nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng. Do năm chi phần nào? (Vị ấy) không biết tội và không phải tội, không biết tội nhẹ và tội nặng, không biết tội có dư tàn và không có dư tàn, không biết tội thô và không thô, không biết tội có thể sửa trị và không thể sửa trị. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì không nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng. Do năm chi phần nào? (Vị ấy) biết tội và không phải tội, biết tội nhẹ và tội nặng, biết tội có dư tàn và không có dư tàn, biết tội thô và không thô, biết tội có thể sửa trị và không thể sửa trị. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Kammaṁ na jānāti, kammassa karaṇaṁ na jānāti, kammassa vatthuṁ na jānāti, kammassa vattaṁ na jānāti, kammassa vūpasamaṁ na jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Kammaṁ jānāti, kammassa karaṇaṁ jānāti, kammassa vatthuṁ jānāti, kammassa vattaṁ jānāti, kammassa vūpasamaṁ jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ.
A monk who has five other qualities also shouldn’t speak in the Sangha: (1) he doesn’t know the legal procedures; (2) he doesn’t know how the legal procedures are done; (3) he doesn’t know the actions that are the bases for the legal procedures; (4) he doesn’t know the proper conduct in relation to the legal procedures; (5) he doesn’t know the settling of the legal procedures. But a monk who has five qualities may speak in the Sangha: (1) he knows the legal procedures; (2) he knows how the legal procedures are done; (3) he knows the actions that are the bases for the legal procedures; (4) he knows the proper conduct in relation to the legal procedures; (5) he knows the settling of the legal procedures.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần khác thì không nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng. Do năm chi phần nào? (Vị ấy) không biết về yết-ma, không biết sự thực hiện yết-ma, không biết đối tượng của yết-ma, không biết phận sự của yết-ma, không biết sự dập tắt của yết-ma. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì không nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng. Do năm chi phần nào? (Vị ấy) biết về yết-ma, biết sự thực hiện yết-ma, biết đối tượng của yết-ma, biết phận sự của yết-ma, biết sự dập tắt của yết-ma. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Vatthuṁ na jānāti, nidānaṁ na jānāti, paññattiṁ na jānāti, padapaccābhaṭṭhaṁ na jānāti, anusandhivacanapathaṁ na jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Vatthuṁ jānāti, nidānaṁ jānāti, paññattiṁ jānāti, padapaccābhaṭṭhaṁ jānāti, anusandhivacanapathaṁ jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ.
A monk who has five other qualities also shouldn’t speak in the Sangha: (1) he doesn’t know the actions that are the bases for offenses; (2) he doesn’t know the origin stories; (3) he doesn’t know the rules; (4) he doesn’t know the right order of words; (5) he doesn’t know the sequence of statements. But a monk who has five qualities may speak in the Sangha: (1) he knows the actions that are the bases for offenses; (2) he knows the origin stories; (3) he knows the rules; (4) he knows the right order of words; (5) he knows the sequence of statements.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần khác thì không nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng. Do năm chi phần nào? (Vị ấy) không biết sự việc, không biết nhân duyên, không biết điều chế định, không biết từ ngữ trước sau, không biết sự liên kết và đường lối của câu văn. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì không nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng. Do năm chi phần nào? (Vị ấy) biết sự việc, biết nhân duyên, biết điều chế định, biết từ ngữ trước sau, biết sự liên kết và đường lối của câu văn. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì nên giải quyết (vụ việc) trong tăng chúng.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Chandāgatiṁ gacchati, dosāgatiṁ gacchati, mohāgatiṁ gacchati, bhayāgatiṁ gacchati, alajjī ca hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Na chandāgatiṁ gacchati, na dosāgatiṁ gacchati, na mohāgatiṁ gacchati, na bhayāgatiṁ gacchati, lajjī ca hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ.
A monk who has five other qualities also shouldn’t speak in the Sangha: he’s biased by desire, ill will, confusion, or fear, and he’s shameless. But a monk who has five qualities may speak in the Sangha: he’s not biased by desire, ill will, confusion, or fear, and he has a sense of conscience.
Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp khác nữa không nên giải quyết (công việc) trong hội chúng. Năm pháp ấy là gì? Đi vào con đường thiên vị vì thương, đi vào con đường thiên vị vì ghét, đi vào con đường thiên vị vì si, đi vào con đường thiên vị vì sợ, và là người không có tàm. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này không nên giải quyết (công việc) trong hội chúng. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp nên giải quyết (công việc) trong hội chúng. Năm pháp ấy là gì? Không đi vào con đường thiên vị vì thương, không đi vào con đường thiên vị vì ghét, không đi vào con đường thiên vị vì si, không đi vào con đường thiên vị vì sợ, và là người có tàm. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này nên giải quyết (công việc) trong hội chúng.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Chandāgatiṁ gacchati, dosāgatiṁ gacchati, mohāgatiṁ gacchati, bhayāgatiṁ gacchati, akusalo ca hoti vinaye—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Na chandāgatiṁ gacchati, na dosāgatiṁ gacchati, na mohāgatiṁ gacchati, na bhayāgatiṁ gacchati, kusalo ca hoti vinaye—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ.
A monk who has five other qualities also shouldn’t speak in the Sangha: he’s biased by desire, ill will, confusion, or fear, and he’s unskilled in the Monastic Law. But a monk who has five qualities may speak in the Sangha: he’s not biased by desire, ill will, confusion, or fear, and he’s skilled in the Monastic Law.
Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp khác nữa không nên giải quyết (công việc) trong hội chúng. Năm pháp ấy là gì? Đi vào con đường thiên vị vì thương, đi vào con đường thiên vị vì ghét, đi vào con đường thiên vị vì si, đi vào con đường thiên vị vì sợ, và không thiện xảo về Luật. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này không nên giải quyết (công việc) trong hội chúng. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp nên giải quyết (công việc) trong hội chúng. Năm pháp ấy là gì? Không đi vào con đường thiên vị vì thương, không đi vào con đường thiên vị vì ghét, không đi vào con đường thiên vị vì si, không đi vào con đường thiên vị vì sợ, và thiện xảo về Luật. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này nên giải quyết (công việc) trong hội chúng.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Ñattiṁ na jānāti, ñattiyā karaṇaṁ na jānāti, ñattiyā anussāvanaṁ na jānāti, ñattiyā samathaṁ na jānāti, ñattiyā vūpasamaṁ na jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Ñattiṁ jānāti, ñattiyā karaṇaṁ jānāti, ñattiyā anussāvanaṁ jānāti, ñattiyā samathaṁ jānāti, ñattiyā vūpasamaṁ jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ.
A monk who has five other qualities also shouldn’t speak in the Sangha: (1) he doesn’t know the motion; (2) he doesn’t know how the motion is done; (3) he doesn’t know the proclamation of the motion; (4) he doesn’t know settling through a motion; (5) he doesn’t know resolution through a motion. But a monk who has five qualities may speak in the Sangha: (1) he knows the motion; (2) he knows how the motion is done; (3) he knows the proclamation of the motion; (4) he knows settling by way of a motion; (5) he knows resolution by way of a motion.
Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp khác nữa không nên giải quyết (công việc) trong hội chúng. Năm pháp ấy là gì? Không biết về yết-ma, không biết về việc thực hiện của yết-ma, không biết về sự tuyên bố của yết-ma, không biết về sự dập tắt của yết-ma, không biết về sự lắng dịu của yết-ma. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này không nên giải quyết (công việc) trong hội chúng. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp nên giải quyết (công việc) trong hội chúng. Năm pháp ấy là gì? Biết về yết-ma, biết về việc thực hiện của yết-ma, biết về sự tuyên bố của yết-ma, biết về sự dập tắt của yết-ma, biết về sự lắng dịu của yết-ma. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này nên giải quyết (công việc) trong hội chúng.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Suttaṁ na jānāti, suttānulomaṁ na jānāti, vinayaṁ na jānāti, vinayānulomaṁ na jānāti, na ca ṭhānāṭhānakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Suttaṁ jānāti, suttānulomaṁ jānāti, vinayaṁ jānāti, vinayānulomaṁ jānāti, ṭhānāṭhānakusalo ca hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ.
A monk who has five other qualities also shouldn’t speak in the Sangha: (1) he doesn’t know the Monastic Code; (2) he doesn’t know what’s in accordance with the Monastic Code; (3) he doesn’t know the Monastic Law; (4) he doesn’t know what’s in accordance with the Monastic Law; (5) he’s not skilled in what is and is not possible. But a monk who has five qualities may speak in the Sangha: (1) he knows the Monastic Code; (2) he knows what’s in accordance with the Monastic Code; (3) he knows the Monastic Law; (4) he knows what’s in accordance with the Monastic Law; (5) he’s skilled in what is and is not possible.
Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp khác nữa không nên giải quyết (công việc) trong hội chúng. Năm pháp ấy là gì? Không biết về Kinh, không biết về sự tương ứng với Kinh, không biết về Luật, không biết về sự tương ứng với Luật, và không thiện xảo về trường hợp và phi trường hợp. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này không nên giải quyết (công việc) trong hội chúng. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp nên giải quyết (công việc) trong hội chúng. Năm pháp ấy là gì? Biết về Kinh, biết về sự tương ứng với Kinh, biết về Luật, biết về sự tương ứng với Luật, và thiện xảo về trường hợp và phi trường hợp. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này nên giải quyết (công việc) trong hội chúng.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Dhammaṁ na jānāti, dhammānulomaṁ na jānāti, vinayaṁ na jānāti, vinayānulomaṁ na jānāti, na ca pubbāparakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe na voharitabbaṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Dhammaṁ jānāti, dhammānulomaṁ jānāti, vinayaṁ jānāti, vinayānulomaṁ jānāti, pubbāparakusalo ca hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saṅghe voharitabban”ti.
A monk who has five other qualities also shouldn’t speak in the Sangha: (1) he doesn’t know the Teaching; (2) he doesn’t know what’s in accordance with the Teaching; (3) he doesn’t know the Monastic Law; (4) he doesn’t know what’s in accordance with the Monastic Law; (5) he’s not skilled in the right order. But a monk who has five qualities may speak in the Sangha: (1) he knows the Teaching; (2) he knows what’s in accordance with the Teaching; (3) he knows the Monastic Law; (4) he knows what’s in accordance with the Monastic Law; (5) he’s skilled in the right order.”
Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp khác nữa không nên giải quyết (công việc) trong hội chúng. Năm pháp ấy là gì? Không biết về Pháp, không biết về sự tương ứng với Pháp, không biết về Luật, không biết về sự tương ứng với Luật, và không thiện xảo về trước và sau. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này không nên giải quyết (công việc) trong hội chúng. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp nên giải quyết (công việc) trong hội chúng. Năm pháp ấy là gì? Biết về Pháp, biết về sự tương ứng với Pháp, biết về Luật, biết về sự tương ứng với Luật, và thiện xảo về trước và sau. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này nên giải quyết (công việc) trong hội chúng.
Vohāravaggo niṭṭhito tatiyo.
Tassuddānaṁ
The third subchapter on speech is finished.
This is the summary:
Phẩm Về Việc Giải Quyết, thứ ba, đã kết thúc.
Āpatti adhikaraṇaṁ, pasayhāpatti jānanā; Kammaṁ vatthuṁ alajjī ca, akusalo ca ñattiyā; Suttaṁ na jānāti dhammaṁ, tatiyo vaggasaṅgahoti.
“Offenses, legal issues, Forcefully, knowing offenses; Legal procedures, the actions that are the bases, and shameless, And unskilled, of the motion; He does not know the Monastic Code, or the Teaching—The compilation of the third subchapter is finished.”
Phạm tội, tranh tụng, cưỡng bức, biết về tội; Nghiệp sự, sự việc, không tàm, và không thiện xảo, về yết-ma; Không biết Kinh, Pháp, là phần tổng hợp của phẩm thứ ba.
4. Diṭṭhāvikammavagga
4. The subchapter on revealing one’s view
4. Phẩm Về Việc Bày Tỏ Quan Điểm
“Kati nu kho, bhante, adhammikā diṭṭhāvikammā”ti?
“Pañcime, upāli, adhammikā diṭṭhāvikammā. Katame pañca? Anāpattiyā diṭṭhiṁ āvi karoti, adesanāgāminiyā āpattiyā diṭṭhiṁ āvi karoti, desitāya āpattiyā diṭṭhiṁ āvi karoti, catūhi pañcahi diṭṭhiṁ āvi karoti, mano mānasena diṭṭhiṁ āvi karoti—ime kho, upāli, pañca adhammikā diṭṭhāvikammā.
“Sir, how many illegitimate kinds of revealing one’s view are there?”
“There are five, Upāli: (1) one reveals a view about a non-offense; (2) one reveals a view about an offense that isn’t clearable by confession; (3) one reveals a view about an offense that has been confessed; (4) one reveals a view to four or five people; (5) one reveals a view by mind.
425. “Bạch ngài, có bao nhiêu việc bày tỏ quan điểm là phi pháp?” “Này Upāli, có năm việc bày tỏ quan điểm là phi pháp này. Năm việc ấy là gì? Bày tỏ quan điểm về việc không phạm tội (là có tội), bày tỏ quan điểm về tội không phải sám hối (là có tội), bày tỏ quan điểm về tội đã được sám hối (là có tội), bày tỏ quan điểm với bốn hoặc năm vị, bày tỏ quan điểm bằng ý nghĩ trong tâm. Này Upāli, đây là năm việc bày tỏ quan điểm phi pháp.”
Pañcime, upāli, dhammikā diṭṭhāvikammā. Katame pañca? Āpattiyā diṭṭhiṁ āvi karoti, desanāgāminiyā āpattiyā diṭṭhiṁ āvi karoti, adesitāya āpattiyā diṭṭhiṁ āvi karoti, na catūhi pañcahi diṭṭhiṁ āvi karoti, na mano mānasena diṭṭhiṁ āvi karoti—ime kho, upāli, pañca dhammikā diṭṭhāvikammā.
But there are five legitimate kinds of revealing one’s view: (1) one reveals a view about an offense; (2) one reveals a view about an offense that’s clearable by confession; (3) one reveals a view about an offense that hasn’t been confessed; (4) one doesn’t reveal a view to four or five people; (5) one doesn’t reveal a view by mind.
“Này Upāli, có năm việc bày tỏ quan điểm là đúng pháp này. Năm việc ấy là gì? Bày tỏ quan điểm về việc có phạm tội (là có tội), bày tỏ quan điểm về tội phải sám hối (là có tội), bày tỏ quan điểm về tội chưa được sám hối (là có tội), không bày tỏ quan điểm với bốn hoặc năm vị, không bày tỏ quan điểm bằng ý nghĩ trong tâm. Này Upāli, đây là năm việc bày tỏ quan điểm đúng pháp.”
Aparepi, upāli, pañca adhammikā diṭṭhāvikammā. Katame pañca? Nānāsaṁvāsakassa santike diṭṭhiṁ āvi karoti, nānāsīmāya ṭhitassa santike diṭṭhiṁ āvi karoti, apakatattassa santike diṭṭhiṁ āvi karoti, catūhi pañcahi diṭṭhiṁ āvi karoti, mano mānasena diṭṭhiṁ āvi karoti—ime kho, upāli, pañca adhammikā diṭṭhāvikammā.
There are five other illegitimate kinds of revealing one’s view: (1) one reveals a view to someone who belongs to a different Buddhist sect; (2) one reveals a view to someone in a different monastery zone; (3) one reveals a view to someone who’s not a regular monk; (4) one reveals a view to four or five people; (5) one reveals a view by mind.
“Này Upāli, có năm việc bày tỏ quan điểm phi pháp khác nữa. Năm việc ấy là gì? Bày tỏ quan điểm trước mặt vị biệt trú, bày tỏ quan điểm trước mặt vị đang ở trong một giới trường khác, bày tỏ quan điểm trước mặt vị không có tư cách bình thường, bày tỏ quan điểm với bốn hoặc năm vị, bày tỏ quan điểm bằng ý nghĩ trong tâm. Này Upāli, đây là năm việc bày tỏ quan điểm phi pháp.”
Pañcime, upāli, dhammikā diṭṭhāvikammā. Katame pañca? Samānasaṁvāsakassa santike diṭṭhiṁ āvi karoti, samānasīmāya ṭhitassa santike diṭṭhiṁ āvi karoti, pakatattassa santike diṭṭhiṁ āvi karoti, na catūhi pañcahi diṭṭhiṁ āvi karoti, na mano mānasena diṭṭhiṁ āvi karoti—ime kho, upāli, pañca dhammikā diṭṭhāvikammā”ti.
But there are five legitimate kinds of revealing one’s view: (1) one reveals a view to someone who belongs to the same Buddhist sect; (2) one reveals a view to someone in the same monastery zone; (3) one reveals a view to a regular monk; (4) one doesn’t reveal a view to four or five people; (5) one doesn’t reveal a view by mind.”
Này Upāli, có năm việc trình bày quan điểm đúng Pháp này. Thế nào là năm? Trình bày quan điểm ở trước vị đồng trú, trình bày quan điểm ở trước vị đang ở trong cùng một khu vực sīmā, trình bày quan điểm ở trước vị có trạng thái bình thường, không trình bày quan điểm với bốn hoặc năm vị, không trình bày quan điểm bằng ý với ý. Này Upāli, đây là năm việc trình bày quan điểm đúng Pháp.
“Kati nu kho, bhante, adhammikā paṭiggahā”ti?
“Pañcime, upāli, adhammikā paṭiggahā. Katame pañca? Kāyena diyyamānaṁ kāyena appaṭiggahitaṁ, kāyena diyyamānaṁ kāyappaṭibaddhena appaṭiggahitaṁ, kāyappaṭibaddhena diyyamānaṁ kāyena appaṭiggahitaṁ, kāyappaṭibaddhena diyyamānaṁ kāyappaṭibaddhena appaṭiggahitaṁ, nissaggiyena diyyamānaṁ kāyena vā kāyappaṭibaddhena vā appaṭiggahitaṁ—ime kho, upāli, pañca adhammikā paṭiggahā.
“How many illegitimate kinds of receiving are there?”
“There are five: (1) when someone gives by body and one doesn’t receive by body; (2) when someone gives by body and one doesn’t receive with something connected to the body; (3) when someone gives with something connected to the body and one doesn’t receive by body; (4) when someone gives with something connected to the body and one doesn’t receive with something connected to the body; (5) when someone gives by releasing and one doesn’t receive by body or with something connected to the body.
426. – Bạch ngài, có bao nhiêu sự thọ nhận không đúng Pháp? – Này Upāli, có năm sự thọ nhận không đúng Pháp này. Thế nào là năm? Vật được dâng bằng tay đã không được thọ nhận bằng tay, vật được dâng bằng tay đã không được thọ nhận bằng vật liên hệ với thân, vật được dâng bằng vật liên hệ với thân đã không được thọ nhận bằng tay, vật được dâng bằng vật liên hệ với thân đã không được thọ nhận bằng vật liên hệ với thân, vật được dâng bằng cách buông rời đã không được thọ nhận bằng tay hoặc bằng vật liên hệ với thân. Này Upāli, đây là năm sự thọ nhận không đúng Pháp.
Pañcime, upāli, dhammikā paṭiggahā. Katame pañca? Kāyena diyyamānaṁ kāyena paṭiggahitaṁ, kāyena diyyamānaṁ kāyappaṭibaddhena paṭiggahitaṁ, kāyappaṭibaddhena diyyamānaṁ kāyena paṭiggahitaṁ, kāyappaṭibaddhena diyyamānaṁ kāyappaṭibaddhena paṭiggahitaṁ, nissaggiyena diyyamānaṁ kāyena vā kāyappaṭibaddhena vā paṭiggahitaṁ—ime kho, upāli, pañca dhammikā paṭiggahā”ti.
But there are five legitimate kinds of receiving: (1) when someone gives by body and one receives by body; (2) when someone gives by body and one receives with something connected to the body; (3) when someone gives with something connected to the body and one receives by body; (4) when someone gives with something connected to the body and one receives with something connected to the body; (5) when someone gives by releasing and one receives by body or with something connected to the body.”
Này Upāli, có năm sự thọ nhận đúng Pháp này. Thế nào là năm? Vật được dâng bằng tay đã được thọ nhận bằng tay, vật được dâng bằng tay đã được thọ nhận bằng vật liên hệ với thân, vật được dâng bằng vật liên hệ với thân đã được thọ nhận bằng tay, vật được dâng bằng vật liên hệ với thân đã được thọ nhận bằng vật liên hệ với thân, vật được dâng bằng cách buông rời đã được thọ nhận bằng tay hoặc bằng vật liên hệ với thân. Này Upāli, đây là năm sự thọ nhận đúng Pháp.
“Kati nu kho, bhante, anatirittā”ti?
“Pañcime, upāli, anatirittā. Katame pañca? Akappiyakataṁ hoti, appaṭiggahitakataṁ hoti anuccāritakataṁ hoti, ahatthapāse kataṁ hoti, alametaṁ sabbanti avuttaṁ hoti—ime kho, upāli, pañca anatirittā.
“In how many ways is something considered ‘not left over’?”
“In five ways: (1) the making it left over is done with food that’s unallowable; (2) it’s done with food that hasn’t been received; (3) it’s done with food that’s not held in hand; (4) it’s done by one who’s not within arm’s reach; (5) ‘I’ve had enough,’ hasn’t been said.
427. – Bạch ngài, có bao nhiêu (vật thực) không phải là dư thừa? – Này Upāli, có năm (vật thực) không phải là dư thừa này. Thế nào là năm? Là vật chưa được làm cho hợp lệ, là vật chưa được thọ nhận, là vật chưa được di chuyển, là vật được làm ở ngoài tầm tay, là vật chưa được nói rằng: ‘Tất cả cái này là đủ.’ Này Upāli, đây là năm (vật thực) không phải là dư thừa.
Pañcime, upāli, atirittā. Katame pañca? Kappiyakataṁ hoti, paṭiggahitakataṁ hoti, uccāritakataṁ hoti, hatthapāse kataṁ hoti, alametaṁ sabbanti vuttaṁ hoti—ime kho, upāli, pañca atirittā”ti.
And there are five aspects for something to be considered ‘left over’: (1) the making it left over is done with food that’s allowable; (2) it’s done with food that has been received; (3) it’s done with food that’s held in hand; (4) it’s done by one who’s within arm’s reach; (5) ‘I’ve had enough,’ has been said.”
Này Upāli, có năm (vật thực) là dư thừa này. Thế nào là năm? Là vật đã được làm cho hợp lệ, là vật đã được thọ nhận, là vật đã được di chuyển, là vật được làm ở trong tầm tay, là vật đã được nói rằng: ‘Tất cả cái này là đủ.’ Này Upāli, đây là năm (vật thực) là dư thừa.
“Katihi nu kho, bhante, ākārehi pavāraṇā paññāyatī”ti?
“Pañcahupāli, ākārehi pavāraṇā paññāyati. Katamehi pañcahi? Asanaṁ paññāyati, bhojanaṁ paññāyati, hatthapāse ṭhito abhiharati, paṭikkhepo paññāyati—imehi kho, upāli, pañcahākārehi pavāraṇā paññāyatī”ti.
“How many aspects are there of refusing an invitation to eat more?”
“There are five aspects: there is eating; there is cooked food; they stand within arm’s reach; there is an offering; there is a refusal.”
428. – Bạch ngài, sự từ chối được biết đến qua bao nhiêu cách thức? – Này Upāli, sự từ chối được biết đến qua năm cách thức. Thế nào là năm? Việc đang ăn được biết đến, vật thực được biết đến, vị ấy đang đứng trong tầm tay đưa đến, sự khước từ được biết đến. Này Upāli, sự từ chối được biết đến qua năm cách thức này.
“Kati nu kho, bhante, adhammikā paṭiññātakaraṇā”ti?
“Pañcime, upāli, adhammikā paṭiññātakaraṇā. Katame pañca? Bhikkhu pārājikaṁ ajjhāpanno hoti, pārājikena codiyamāno saṅghādisesaṁ ajjhāpanno paṭijānāti, taṁ saṅgho saṅghādisesena kāreti, adhammikaṁ paṭiññātakaraṇaṁ. Bhikkhu pārājikaṁ ajjhāpanno hoti, pārājikena codiyamāno pācittiyaṁ …pe… pāṭidesanīyaṁ … dukkaṭaṁ ajjhāpanno paṭijānāti, taṁ saṅgho dukkaṭena kāreti, adhammikaṁ paṭiññātakaraṇaṁ.
Bhikkhu saṅghādisesaṁ …pe…
pācittiyaṁ …
pāṭidesanīyaṁ …
dukkaṭaṁ ajjhāpanno hoti. Dukkaṭena codiyamāno pārājikaṁ ajjhāpanno paṭijānāti, taṁ saṅgho pārājikena kāreti, adhammikaṁ paṭiññātakaraṇaṁ. Bhikkhu dukkaṭaṁ ajjhāpanno hoti, dukkaṭena codiyamāno saṅghādisesaṁ …pe… pācittiyaṁ … pāṭidesanīyaṁ ajjhāpanno paṭijānāti, taṁ saṅgho pāṭidesanīyena kāreti, adhammikaṁ paṭiññātakaraṇaṁ. Ime kho, upāli, pañca adhammikā paṭiññātakaraṇā.
“How many illegitimate ways are there of acting according to what has been admitted?”
“There are five ways: (1) A monk has committed an offense entailing expulsion. When he’s accused of having committed such an offense, he admits to committing an offense entailing suspension. The Sangha deals with him for an offense entailing suspension. That acting according to what has been admitted is illegitimate. Again, a monk has committed an offense entailing expulsion. When he’s accused of having committed such an offense, he admits to committing an offense entailing confession … an offense entailing acknowledgment … an offense of wrong conduct. The Sangha deals with him for an offense of wrong conduct. That acting according to what has been admitted is illegitimate.
(2) A monk has committed an offense entailing suspension …
(3) A monk has committed an offense entailing confession …
(4) A monk has committed an offense entailing acknowledgment …
(5) A monk has committed an offense of wrong conduct. When he’s accused of having committed such an offense, he admits to committing an offense entailing expulsion. The Sangha deals with him for an offense entailing expulsion. That acting according to what has been admitted is illegitimate. Again, a monk has committed an offense of wrong conduct. When he’s accused of having committed such an offense, he admits to committing an offense entailing suspension … an offense entailing confession … an offense entailing acknowledgment. The Sangha deals with him for an offense entailing acknowledgment. That acting according to what has been admitted is illegitimate.
429. – Bạch ngài, có bao nhiêu việc thực hiện theo sự thú nhận không đúng Pháp? – Này Upāli, có năm việc thực hiện theo sự thú nhận không đúng Pháp này. Thế nào là năm? Vị tỳ khưu đã phạm tội pārājika, khi bị chất vấn về tội pārājika lại thú nhận đã phạm tội saṅghādisesa, Tăng chúng xử trị vị ấy về tội saṅghādisesa, đây là việc thực hiện theo sự thú nhận không đúng Pháp. Vị tỳ khưu đã phạm tội pārājika, khi bị chất vấn về tội pārājika lại thú nhận đã phạm tội pācittiya ... tội pāṭidesanīya ... tội dukkaṭa, Tăng chúng xử trị vị ấy về tội dukkaṭa, đây là việc thực hiện theo sự thú nhận không đúng Pháp. Vị tỳ khưu đã phạm tội saṅghādisesa ... tội pācittiya ... tội pāṭidesanīya ... tội dukkaṭa, khi bị chất vấn về tội dukkaṭa lại thú nhận đã phạm tội pārājika, Tăng chúng xử trị vị ấy về tội pārājika, đây là việc thực hiện theo sự thú nhận không đúng Pháp. Vị tỳ khưu đã phạm tội dukkaṭa, khi bị chất vấn về tội dukkaṭa lại thú nhận đã phạm tội saṅghādisesa ... tội pācittiya ... tội pāṭidesanīya, Tăng chúng xử trị vị ấy về tội pāṭidesanīya, đây là việc thực hiện theo sự thú nhận không đúng Pháp. Này Upāli, đây là năm việc thực hiện theo sự thú nhận không đúng Pháp.
Pañcime, upāli, dhammikā paṭiññātakaraṇā. Katame pañca? Bhikkhu pārājikaṁ ajjhāpanno hoti, pārājikena codiyamāno pārājikaṁ ajjhāpanno paṭijānāti, taṁ saṅgho pārājikena kāreti, dhammikaṁ paṭiññātakaraṇaṁ.
Bhikkhu saṅghādisesaṁ …pe…
pācittiyaṁ …
pāṭidesanīyaṁ …
dukkaṭaṁ ajjhāpanno hoti, dukkaṭena codiyamāno dukkaṭaṁ ajjhāpanno paṭijānāti, taṁ saṅgho dukkaṭena kāreti, dhammikaṁ paṭiññātakaraṇaṁ. Ime kho, upāli, pañca dhammikā paṭiññātakaraṇā”ti.
There are five ways of legitimately acting according to what has been admitted: (1) A monk has committed an offense entailing expulsion. When he’s accused of having committed such an offense, he admits it. The Sangha deals with him for an offense entailing expulsion. That acting according to what has been admitted is legitimate.
(2) A monk has committed an offense entailing suspension …
(3) A monk has committed an offense entailing confession …
(4) A monk has committed an offense entailing acknowledgment …
(5) A monk has committed an offense of wrong conduct. When he’s accused of having committed such an offense, he admits it. The Sangha deals with him for an offense of wrong conduct. That acting according to what has been admitted is legitimate.”
Này Upāli, có năm việc thực hiện theo sự thú nhận đúng Pháp này. Thế nào là năm? Vị tỳ khưu đã phạm tội pārājika, khi bị chất vấn về tội pārājika lại thú nhận đã phạm tội pārājika, Tăng chúng xử trị vị ấy về tội pārājika, đây là việc thực hiện theo sự thú nhận đúng Pháp. Vị tỳ khưu đã phạm tội saṅghādisesa ... tội pācittiya ... tội pāṭidesanīya ... tội dukkaṭa, khi bị chất vấn về tội dukkaṭa lại thú nhận đã phạm tội dukkaṭa, Tăng chúng xử trị vị ấy về tội dukkaṭa, đây là việc thực hiện theo sự thú nhận đúng Pháp. Này Upāli, đây là năm việc thực hiện theo sự thú nhận đúng Pháp.
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno okāsakammaṁ kārāpentassa nālaṁ okāsakammaṁ kātun”ti?
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno okāsakammaṁ kārāpentassa nālaṁ okāsakammaṁ kātuṁ. Katamehi pañcahi? Alajjī ca hoti, bālo ca, apakatatto ca, cāvanādhippāyo vattā hoti, no vuṭṭhānādhippāyo—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno okāsakammaṁ kārāpentassa nālaṁ okāsakammaṁ kātuṁ.
“Sir, what sort of monk is unqualified to ask for permission to correct someone?”
“One who has five qualities: (1) he’s shameless; (2) he’s ignorant; (3) he’s not a regular monk; (4) he speaks to make someone disrobe, (5) not with the aim of clearing their offenses.
430. – Bạch ngài, vị tỳ khưu hội đủ bao nhiêu chi phần thì không thích hợp để thực hiện việc cho phép đối với người đang yêu cầu thực hiện việc cho phép? – Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì không thích hợp để thực hiện việc cho phép đối với người đang yêu cầu thực hiện việc cho phép. Thế nào là năm? Vị ấy không có hổ thẹn, là người ngu dốt, không phải là người có trạng thái bình thường, là người nói với ý định làm cho lay chuyển, không phải là người nói với ý định làm cho đứng dậy. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì không thích hợp để thực hiện việc cho phép đối với người đang yêu cầu thực hiện việc cho phép.
Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno okāsakammaṁ kārāpentassa alaṁ okāsakammaṁ kātuṁ. Katamehi pañcahi? Lajjī ca hoti, paṇḍito ca, pakatatto ca, vuṭṭhānādhippāyo vattā hoti, no cāvanādhippāyo—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno okāsakammaṁ kārāpentassa alaṁ okāsakammaṁ kātun”ti.
But a monk who has five qualities is qualified to ask for permission to correct someone: (1) he has a sense of conscience; (2) he’s knowledgeable; (3) he’s a regular monk; (4) he speaks with the aim of clearing someone’s offense, (5) not to make them disrobe.”
Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì thích hợp để thực hiện việc cho phép đối với người đang yêu cầu thực hiện việc cho phép. Thế nào là năm? Vị ấy có hổ thẹn, là người có trí tuệ, là người có trạng thái bình thường, là người nói với ý định làm cho đứng dậy, không phải là người nói với ý định làm cho lay chuyển. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì thích hợp để thực hiện việc cho phép đối với người đang yêu cầu thực hiện việc cho phép.
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā saddhiṁ vinayo na sākacchitabbo”ti?
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā saddhiṁ vinayo na sākacchitabbo. Katamehi pañcahi? Vatthuṁ na jānāti, nidānaṁ na jānāti, paññattiṁ na jānāti, padapaccābhaṭṭhaṁ na jānāti, anusandhivacanapathaṁ na jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saddhiṁ vinayo na sākacchitabbo.
“What sort of monk should one not discuss the Monastic Law with?”
“One who has five qualities: (1) he doesn’t know the actions that are the bases for offenses; (2) he doesn’t know the origin stories; (3) he doesn’t know the rules; (4) he doesn’t know the right order of words; (5) he doesn’t know the sequence of statements.
431. – Bạch ngài, không nên thảo luận về Luật với vị tỳ khưu có đầy đủ bao nhiêu chi phần? – Này Upāli, không nên thảo luận về Luật với vị tỳ khưu có đầy đủ năm chi phần. Với năm chi phần nào? Không biết sự việc (vatthu), không biết nhân duyên (nidāna), không biết điều chế định (paññatti), không biết thứ tự của các từ ngữ (padapaccābhaṭṭha), không biết sự liên kết của câu văn (anusandhivacanapatha) – này Upāli, không nên thảo luận về Luật với vị tỳ khưu có đầy đủ năm chi phần này.
Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā saddhiṁ vinayo sākacchitabbo. Katamehi pañcahi? Vatthuṁ jānāti, nidānaṁ jānāti, paññattiṁ jānāti, padapaccābhaṭṭhaṁ jānāti, anusandhivacanapathaṁ jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saddhiṁ vinayo sākacchitabbo”ti.
But the Monastic Law may be discussed with a monk who has five qualities: (1) he knows the actions that are the bases for offenses; (2) he knows the origin stories; (3) he knows the rules; (4) he knows the right order of words; (5) he knows the sequence of statements.”
– Này Upāli, nên thảo luận về Luật với vị tỳ khưu có đầy đủ năm chi phần. Với năm chi phần nào? Biết sự việc (vatthu), biết nhân duyên (nidāna), biết điều chế định (paññatti), biết thứ tự của các từ ngữ (padapaccābhaṭṭha), biết sự liên kết của câu văn (anusandhivacanapatha) – này Upāli, nên thảo luận về Luật với vị tỳ khưu có đầy đủ năm chi phần này.
“Kati nu kho, bhante, pañhāpucchā”ti?
“Pañcimā, upāli, pañhāpucchā. Katamā pañca? Mandattā momūhattā pañhaṁ pucchati, pāpiccho icchāpakato pañhaṁ pucchati, paribhavā pañhaṁ pucchati, aññātukāmo pañhaṁ pucchati, sace me pañhaṁ puṭṭho sammadeva byākarissati iccetaṁ kusalaṁ no ce pañhaṁ puṭṭho sammadeva byākarissati ahamassa sammadeva byākarissāmīti pañhaṁ pucchati—imā kho, upāli, pañca pañhāpucchā”ti.
“How many kinds of questions and enquiries are there?”
“There are five: one asks (1) because of stupidity and folly; (2) because one is overcome by bad desires; (3) because of contempt; (4) because one desires to know; (5) because of the thought, ‘If he explains correctly when I ask him, all is well, but if he doesn’t, I’ll explain it correctly to him.’”
432. – Bạch ngài, có bao nhiêu cách đặt câu hỏi? – Này Upāli, có năm cách đặt câu hỏi này. Năm cách nào? Do ngu dốt, do si mê nên đặt câu hỏi. Do có ước muốn xấu xa, bị ước muốn chế ngự nên đặt câu hỏi. Do khinh miệt nên đặt câu hỏi. Do muốn biết nên đặt câu hỏi. Đặt câu hỏi với ý nghĩ rằng: ‘Nếu người được ta hỏi mà trả lời đúng đắn thì điều ấy là tốt. Nếu người được ta hỏi mà không trả lời đúng đắn thì chính ta sẽ trả lời đúng đắn cho vị ấy’ – này Upāli, đây là năm cách đặt câu hỏi.
“Kati nu kho, bhante, aññabyākaraṇā”ti?
“Pañcime, upāli, aññabyākaraṇā. Katame pañca? Mandattā momūhattā aññaṁ byākaroti, pāpiccho icchāpakato aññaṁ byākaroti, ummādā cittakkhepā aññaṁ byākaroti, adhimānena aññaṁ byākaroti, bhūtaṁ aññaṁ byākaroti—ime kho, upāli, pañca aññabyākaraṇā”ti.
“How many kinds of declaration of perfect insight are there?”
“There are five: one declares perfect insight (1) because of stupidity and folly; (2) because one is overcome by bad desires; (3) because of insanity and derangement; (4) because of overestimation; (5) because it’s true.”
433. – Bạch ngài, có bao nhiêu sự tuyên bố chứng đắc? – Này Upāli, có năm sự tuyên bố chứng đắc này. Năm loại nào? Do ngu dốt, do si mê nên tuyên bố chứng đắc. Do có ước muốn xấu xa, bị ước muốn chế ngự nên tuyên bố chứng đắc. Do điên cuồng, do tâm trí rối loạn nên tuyên bố chứng đắc. Do tăng thượng mạn nên tuyên bố chứng đắc. Do sự thật nên tuyên bố chứng đắc – này Upāli, đây là năm sự tuyên bố chứng đắc.
“Kati nu kho, bhante, visuddhiyo”ti?
“Pañcimā, upāli, visuddhiyo. Katamā pañca? Nidānaṁ uddisitvā avasesaṁ sutena sāvetabbaṁ ayaṁ paṭhamā visuddhi, nidānaṁ uddisitvā cattāri pārājikāni uddisitvā avasesaṁ sutena sāvetabbaṁ ayaṁ dutiyā visuddhi, nidānaṁ uddisitvā cattāri pārājikāni uddisitvā terasa saṅghādisese uddisitvā avasesaṁ sutena sāvetabbaṁ ayaṁ tatiyā visuddhi, nidānaṁ uddisitvā cattāri pārājikāni uddisitvā terasa saṅghādisese uddisitvā dve aniyate uddisitvā avasesaṁ sutena sāvetabbaṁ ayaṁ catutthā visuddhi, vitthāreneva pañcamī—imā kho, upāli, pañca visuddhiyo”ti.
“How many kinds of purification are there?”
“There are five: (1) After reciting the introduction, the rest is announced as if heard. (2) After reciting the introduction and the four rules entailing expulsion, the rest is announced as if heard. (3) After reciting the introduction, the four rules entailing expulsion, and the thirteen rules entailing suspension, the rest is announced as if heard. (4) After reciting the introduction, the four rules entailing expulsion, the thirteen rules entailing suspension, and the two undetermined rules, the rest is announced as if heard. (5) In full is the fifth.”
434. – Bạch ngài, có bao nhiêu sự thanh tịnh? – Này Upāli, có năm sự thanh tịnh này. Năm loại nào? Sau khi đọc phần nidāna (nhân duyên), phần còn lại nên được thông báo bằng lời ‘đã nghe,’ đây là sự thanh tịnh thứ nhất. Sau khi đọc phần nidāna, đọc bốn điều pārājika, phần còn lại nên được thông báo bằng lời ‘đã nghe,’ đây là sự thanh tịnh thứ hai. Sau khi đọc phần nidāna, đọc bốn điều pārājika, đọc mười ba điều saṅghādisesa, phần còn lại nên được thông báo bằng lời ‘đã nghe,’ đây là sự thanh tịnh thứ ba. Sau khi đọc phần nidāna, đọc bốn điều pārājika, đọc mười ba điều saṅghādisesa, đọc hai điều aniyata, phần còn lại nên được thông báo bằng lời ‘đã nghe,’ đây là sự thanh tịnh thứ tư. Sự thanh tịnh thứ năm là đọc toàn bộ một cách chi tiết – này Upāli, đây là năm sự thanh tịnh.
“Kati nu kho, bhante, bhojanā”ti?
“Pañcime, upāli, bhojanā. Katame pañca? Odano, kummāso, sattu, maccho, maṁsaṁ—ime kho, upāli, pañca bhojanā”ti.
“How many kinds of cooked food are there?”
“There are five: cooked grain, porridge, flour products, fish, and meat.”
435. – Bạch ngài, có bao nhiêu loại thực phẩm? – Này Upāli, có năm loại thực phẩm này. Năm loại nào? Cơm, cháo lúa mạch, bột rang, cá, thịt – này Upāli, đây là năm loại thực phẩm.
Diṭṭhāvikammavaggo niṭṭhito catuttho.
Tassuddānaṁ
The fourth subchapter on revealing one’s view is finished.
This is the summary:
Phẩm Diṭṭhāvikamma, phẩm thứ tư, đã kết thúc.
Diṭṭhāvikammā apare, paṭiggahānatirittā; Pavāraṇā paṭiññātaṁ, okāsaṁ sākacchena ca; Pañhaṁ aññabyākaraṇā, visuddhi cāpi bhojanāti.
“Revealing one’s view, other, Receiving, not left over; Refusing an invitation to eat more, according to what has been admitted, Permission, and with discussion; Question, declarations of perfect insight, And also purification, cooked food.”
Diṭṭhāvikamma (hành vi đã thấy) và apare (hành vi khác), paṭiggaha (sự thọ nhận) và anatiritta (không dư thừa); Pavāraṇā (lễ tự tứ), paṭiññāta (sự thừa nhận), okāsa (sự cho phép), và sākaccha (sự thảo luận); Pañha (câu hỏi), aññabyākaraṇa (sự tuyên bố), visuddhi (sự thanh tịnh), và bhojana (thực phẩm).
5. Attādānavagga
5. The subchapter on raising an issue
5. Phẩm Attādāna
“Codakena, bhante, bhikkhunā paraṁ codetukāmena kati dhamme ajjhattaṁ paccavekkhitvā paro codetabbo”ti?
“Codakenupāli, bhikkhunā paraṁ codetukāmena pañca dhamme ajjhattaṁ paccavekkhitvā paro codetabbo. Katame pañca? Codakenupāli, bhikkhunā paraṁ codetukāmena evaṁ paccavekkhitabbaṁ—‘Parisuddhakāyasamācāro nu khomhi, parisuddhenamhi kāyasamācārena samannāgato acchiddena appaṭimaṁsena, saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti. No ce, upāli, bhikkhu parisuddhakāyasamācāro hoti, parisuddhena kāyasamācārena samannāgato acchiddena appaṭimaṁsena, tassa bhavanti vattāro—‘iṅgha tāva āyasmā kāyikaṁ sikkhassū’ti itissa bhavanti vattāro.
“Sir, how many qualities should a monk see in himself before accusing another?”
“He should see five qualities in himself: (1) He should reflect: ‘Is my bodily conduct pure and flawless? Is this quality found in me or not?’ If it’s not, there will be those who say, ‘Please train your own bodily conduct first.’
436. – Bạch ngài, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác, sau khi tự mình xem xét bao nhiêu pháp rồi mới nên khiển trách người khác? – Này Upāli, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác, sau khi tự mình xem xét năm pháp rồi mới nên khiển trách người khác. Năm pháp nào? Này Upāli, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác nên xem xét như vầy: ‘Ta có thân hành trong sạch hay không? Ta có đầy đủ thân hành trong sạch, không tỳ vết, không khiếm khuyết hay không? Pháp này có nơi ta hay không có?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu không có thân hành trong sạch, không có đầy đủ thân hành trong sạch, không tỳ vết, không khiếm khuyết, thì sẽ có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này hiền giả, trước hết hãy thực hành về thân nghiệp đi đã.’ Như vậy, sẽ có những người nói với vị ấy.
Puna caparaṁ, upāli, codakena bhikkhunā paraṁ codetukāmena evaṁ paccavekkhitabbaṁ—‘parisuddhavacīsamācāro nu khomhi, parisuddhenamhi vacīsamācārena samannāgato acchiddena appaṭimaṁsena, saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti. No ce, upāli, bhikkhu parisuddhavacīsamācāro hoti, parisuddhena vacīsamācārena samannāgato acchiddena appaṭimaṁsena, tassa bhavanti vattāro—‘iṅgha tāva āyasmā vācasikaṁ sikkhassū’ti itissa bhavanti vattāro.
(2) He should reflect: ‘Is my verbal conduct pure and flawless? Is this quality found in me or not?’ If it’s not, there will be those who say, ‘Please train your own verbal conduct first.’
– Lại nữa, này Upāli, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác nên xem xét như vầy: ‘Ta có khẩu hành trong sạch hay không? Ta có đầy đủ khẩu hành trong sạch, không tỳ vết, không khiếm khuyết hay không? Pháp này có nơi ta hay không có?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu không có khẩu hành trong sạch, không có đầy đủ khẩu hành trong sạch, không tỳ vết, không khiếm khuyết, thì sẽ có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này hiền giả, trước hết hãy thực hành về khẩu nghiệp đi đã.’ Như vậy, sẽ có những người nói với vị ấy.
Puna caparaṁ, upāli, codakena bhikkhunā paraṁ codetukāmena evaṁ paccavekkhitabbaṁ—‘mettaṁ nu kho me cittaṁ paccupaṭṭhitaṁ sabrahmacārīsu anāghātaṁ, saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti. No ce, upāli, bhikkhuno mettaṁ cittaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu anāghātaṁ, tassa bhavanti vattāro—‘iṅgha tāva āyasmā sabrahmacārīsu mettaṁ cittaṁ upaṭṭhāpehī’ti itissa bhavanti vattāro.
(3) He should reflect: ‘Do I have a mind of good will toward my fellow monastics, a mind free from anger? Is this quality found in me or not?’ If it’s not, there will be those who say, ‘Please set up a mind of good will toward your fellow monastics first.’
– Lại nữa, này Upāli, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác nên xem xét như vầy: ‘Tâm từ không sân hận của ta có được thiết lập đối với các vị đồng phạm hạnh hay không? Pháp này có nơi ta hay không có?’ Này Upāli, nếu tâm từ không sân hận của vị tỳ khưu không được thiết lập đối với các vị đồng phạm hạnh, thì sẽ có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này hiền giả, trước hết hãy thiết lập tâm từ đối với các vị đồng phạm hạnh đi đã.’ Như vậy, sẽ có những người nói với vị ấy.
Puna caparaṁ, upāli, codakena bhikkhunā paraṁ codetukāmena evaṁ paccavekkhitabbaṁ—‘bahussuto nu khomhi sutadharo sutasannicayo, ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti, tathārūpā me dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā, saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti. No ce, upāli, bhikkhu bahussuto hoti sutadharo sutasannicayo, ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti, tathārūpassa dhammā na bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā, tassa bhavanti vattāro—‘iṅgha tāva āyasmā āgamaṁ pariyāpuṇassū’ti itissa bhavanti vattāro.
(4) He should reflect: ‘Have I learned much and do I retain and accumulate what I’ve learned? Those teachings that are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, that have a true goal and are well articulated, and that set out the perfectly complete and pure spiritual life—have I learned many such teachings, retained them in mind, recited them verbally, mentally investigated them, and penetrated them well by view? Is this quality found in me or not?’ If it’s not, there will be those who say, ‘Please learn the tradition first.’
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác nên quán xét như vầy: ‘Ta có phải là người đa văn, thọ trì những điều đã nghe, tích lũy những điều đã nghe không? Những pháp ấy, tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa, có văn cú, tuyên thuyết về phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch, những pháp như vậy đã được ta nghe nhiều, đã được thọ trì, đã được quen thuộc bằng lời nói, đã được quán xét bằng ý, đã được thông suốt bằng trí tuệ hay không? Pháp này có nơi ta hay không?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu không phải là người đa văn, không thọ trì những điều đã nghe, không tích lũy những điều đã nghe; những pháp ấy, tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa, có văn cú, tuyên thuyết về phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch, những pháp như vậy đã không được vị ấy nghe nhiều, không được thọ trì, không được quen thuộc bằng lời nói, không được quán xét bằng ý, không được thông suốt bằng trí tuệ, thì sẽ có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này hiền giả, trước tiên hãy học thuộc Thánh điển đi đã.’ Như vậy, sẽ có những người nói với vị ấy.”
Puna caparaṁ, upāli, codakena bhikkhunā paraṁ codetukāmena evaṁ paccavekkhitabbaṁ—‘ubhayāni kho me pātimokkhāni vitthārena svāgatāni honti suvibhattāni suppavattīni suvinicchitāni suttaso anubyañjanaso, saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti. No ce, upāli, bhikkhuno ubhayāni pātimokkhāni vitthārena svāgatāni honti suvibhattāni suppavattīni suvinicchitāni suttaso anubyañjanaso, ‘idaṁ panāvuso kattha vuttaṁ bhagavatā’ti iti puṭṭho na sampāyati, (…) tassa bhavanti vattāro—‘iṅgha tāva āyasmā vinayaṁ pariyāpuṇassū’ti itissa bhavanti vattāro. Codakenupāli, bhikkhunā paraṁ codetukāmena ime pañca dhamme ajjhattaṁ paccavekkhitvā paro codetabbo”ti.
(5) He should reflect: ‘Have I properly learned both Monastic Codes in detail; have I analyzed them well, thoroughly mastered them, and investigated them well, both in terms of the rules and their detailed exposition? Is this quality found in me or not?’ If it’s not, then when he’s asked, ‘Where was this said by the Buddha?’ he won’t be able to reply. And there will be those who say, ‘Please learn the Monastic Law first.’”
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác nên quán xét như vầy: ‘Hai bộ Pātimokkha đã được ta thuộc lòng một cách rộng rãi, đã được phân tích rành rẽ, đã được trôi chảy, đã được quyết đoán rành rẽ theo từng điều khoản và từng chi tiết hay không? Pháp này có nơi ta hay không?’ Này Upāli, nếu hai bộ Pātimokkha đã không được vị tỳ khưu thuộc lòng một cách rộng rãi, không được phân tích rành rẽ, không được trôi chảy, không được quyết đoán rành rẽ theo từng điều khoản và từng chi tiết, khi được hỏi: ‘Thưa hiền giả, điều này đã được đức Thế Tôn thuyết ở đâu?’ thì không thể trả lời đầy đủ, sẽ có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này hiền giả, trước tiên hãy học thuộc Luật tạng đi đã.’ Như vậy, sẽ có những người nói với vị ấy. Này Upāli, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác, sau khi đã quán xét năm pháp này ở nội tâm, rồi mới nên khiển trách người khác.”
“Codakena, bhante, bhikkhunā paraṁ codetukāmena kati dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paro codetabbo”ti?
“Codakenupāli, bhikkhunā paraṁ codetukāmena pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paro codetabbo. Katame pañca? Kālena vakkhāmi no akālena, bhūtena vakkhāmi no abhūtena, saṇhena vakkhāmi no pharusena, atthasaṁhitena vakkhāmi no anatthasaṁhitena, mettācitto vakkhāmi no dosantaroti—codakenupāli, bhikkhunā paraṁ codetukāmena ime pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paro codetabbo”ti.
“Sir, how many qualities should a monk set up in himself before accusing another?”
“He should set up five qualities in himself: (1) ‘I’ll speak at an appropriate time, not at an inappropriate one; (2) I’ll speak the truth, not falsehood; (3) I’ll speak gently, not harshly; (4) I’ll speak what’s beneficial, not what’s unbeneficial; (5) I’ll speak with a mind of good will, not with ill will.’”
437. “Bạch ngài, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác, sau khi đã thiết lập bao nhiêu pháp ở nội tâm, rồi mới nên khiển trách người khác?” “Này Upāli, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác, sau khi đã thiết lập năm pháp ở nội tâm, rồi mới nên khiển trách người khác. Năm pháp ấy là gì? (Ta sẽ nghĩ:) ‘Ta sẽ nói đúng lúc, không nói phi lúc; ta sẽ nói sự thật, không nói điều không thật; ta sẽ nói lời nhu hòa, không nói lời thô lỗ; ta sẽ nói lời có lợi ích, không nói lời vô ích; ta sẽ nói với tâm từ, không nói với tâm sân.’ Này Upāli, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác, sau khi đã thiết lập năm pháp này ở nội tâm, rồi mới nên khiển trách người khác.”
“Codakena, bhante, bhikkhunā paraṁ codetukāmena kati dhamme ajjhattaṁ manasi karitvā paro codetabbo”ti?
“Codakenupāli, bhikkhunā paraṁ codetukāmena pañca dhamme ajjhattaṁ manasi karitvā paro codetabbo. Katame pañca? Kāruññatā, hitesitā, anukampatā, āpattivuṭṭhānatā, vinayapurekkhāratā—codakenupāli, bhikkhunā paraṁ codetukāmena ime pañca dhamme ajjhattaṁ manasi karitvā paro codetabbo”ti.
“How many qualities should a monk attend to in himself before accusing another?”
“He should attend to five qualities in himself: compassion, being of benefit, sympathy, the idea of clearing offenses, and the idea of prioritizing the training.”
438. “Bạch ngài, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác, sau khi đã tác ý bao nhiêu pháp ở nội tâm, rồi mới nên khiển trách người khác?” “Này Upāli, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác, sau khi đã tác ý năm pháp ở nội tâm, rồi mới nên khiển trách người khác. Năm pháp ấy là gì? Lòng bi mẫn, sự mong muốn lợi ích, lòng thương xót, sự mong muốn cho ra khỏi tội, và sự tôn trọng Luật. Này Upāli, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác, sau khi đã tác ý năm pháp này ở nội tâm, rồi mới nên khiển trách người khác.”
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno okāsakammaṁ kārāpentassa nālaṁ okāsakammaṁ kātun”ti?
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno okāsakammaṁ kārāpentassa nālaṁ okāsakammaṁ kātuṁ. Katamehi pañcahi? Aparisuddhakāyasamācāro hoti, aparisuddhavacīsamācāro hoti, aparisuddhājīvo hoti, bālo hoti abyatto, na paṭibalo anuyuñjiyamāno anuyogaṁ dātuṁ—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno okāsakammaṁ kārāpentassa nālaṁ okāsakammaṁ kātuṁ.
“What sort of monk is unqualified to ask for permission to correct someone?”
“One who has five qualities: (1) he’s impure in bodily conduct; (2) he’s impure in verbal conduct; (3) he’s impure in livelihood; (4) he’s ignorant and incompetent; (5) he’s incapable of answering properly when questioned.”
439. “Bạch ngài, vị tỳ khưu có đầy đủ bao nhiêu chi phần, khi được yêu cầu cho phép, thì không thích hợp để cho phép?” “Này Upāli, vị tỳ khưu có đầy đủ năm chi phần, khi được yêu cầu cho phép, thì không thích hợp để cho phép. Năm chi phần ấy là gì? Có thân nghiệp không trong sạch, có khẩu nghiệp không trong sạch, có mạng sống không trong sạch, là người ngu si, không khéo léo, khi bị chất vấn không có khả năng trả lời. Này Upāli, vị tỳ khưu có đầy đủ năm chi phần này, khi được yêu cầu cho phép, thì không thích hợp để cho phép.”
Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno okāsakammaṁ kārāpentassa alaṁ okāsakammaṁ kātuṁ. Katamehi pañcahi? Parisuddhakāyasamācāro hoti, parisuddhavacīsamācāro hoti, parisuddhājīvo hoti, paṇḍito hoti byatto paṭibalo anuyuñjiyamāno anuyogaṁ dātuṁ—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno okāsakammaṁ kārāpentassa alaṁ okāsakammaṁ kātun”ti.
But a monk who has five qualities is qualified to ask for permission to correct someone: (1) he’s pure in bodily conduct; (2) he’s pure in verbal conduct; (3) he’s pure in livelihood; (4) he’s knowledgeable and competent; (5) he’s capable of answering properly when questioned.”
“Này Upāli, vị tỳ khưu có đầy đủ năm chi phần, khi được yêu cầu cho phép, thì thích hợp để cho phép. Năm chi phần ấy là gì? Có thân nghiệp trong sạch, có khẩu nghiệp trong sạch, có mạng sống trong sạch, là người có trí tuệ, khéo léo, khi bị chất vấn có khả năng trả lời. Này Upāli, vị tỳ khưu có đầy đủ năm chi phần này, khi được yêu cầu cho phép, thì thích hợp để cho phép.”
“Attādānaṁ ādātukāmena, bhante, bhikkhunā katihaṅgehi samannāgataṁ attādānaṁ ādātabban”ti?
“Attādānaṁ ādātukāmenupāli, bhikkhunā pañcaṅgasamannāgataṁ attādānaṁ ādātabbaṁ. Katame pañca? Attādānaṁ ādātukāmena, upāli, bhikkhunā evaṁ paccavekkhitabbaṁ—‘yaṁ kho ahaṁ imaṁ attādānaṁ ādātukāmo, kālo nu kho imaṁ attādānaṁ ādātuṁ udāhu no’ti. Sace, upāli, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti—‘akālo imaṁ attādānaṁ ādātuṁ no kālo’ti, na taṁ, upāli, attādānaṁ ādātabbaṁ.
“Sir, if a monk wishes to raise an issue, what factors should be fulfilled?”
“Five factors should be fulfilled: He should reflect whether it’s the right time to raise it. If he knows it’s the wrong time, he shouldn’t raise it.
440. “Bạch ngài, vị tỳ khưu muốn tự mình đảm nhận vụ tranh tụng thì nên đảm nhận vụ tranh tụng có đầy đủ bao nhiêu chi phần?” “Này Upāli, vị tỳ khưu muốn tự mình đảm nhận vụ tranh tụng thì nên đảm nhận vụ tranh tụng có đầy đủ năm chi phần. Năm chi phần ấy là gì? Này Upāli, vị tỳ khưu muốn tự mình đảm nhận vụ tranh tụng nên quán xét như vầy: ‘Vụ tranh tụng mà ta muốn đảm nhận này, có phải là đúng lúc để đảm nhận hay không?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong khi quán xét biết như vầy: ‘Đây là không đúng lúc để đảm nhận vụ tranh tụng này, không phải là đúng lúc,’ thì này Upāli, không nên đảm nhận vụ tranh tụng ấy.”
Sace panupāli, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti—‘kālo imaṁ attādānaṁ ādātuṁ no akālo’ti, tenupāli, bhikkhunā uttari paccavekkhitabbaṁ—‘yaṁ kho ahaṁ imaṁ attādānaṁ ādātukāmo bhūtaṁ nu kho idaṁ attādānaṁ udāhu no’ti. Sace, upāli, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti—‘abhūtaṁ idaṁ attādānaṁ no bhūtan’ti, na taṁ, upāli, attādānaṁ ādātabbaṁ.
(1) But if he knows it’s the right time, he should reflect further whether it’s a real issue. If he knows it’s not, he shouldn’t raise it.
“Và này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong khi quán xét biết như vầy: ‘Đây là đúng lúc để đảm nhận vụ tranh tụng này, không phải là không đúng lúc,’ thì này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên quán xét thêm: ‘Vụ tranh tụng mà ta muốn đảm nhận này, có phải là sự thật hay không?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong khi quán xét biết như vầy: ‘Vụ tranh tụng này không phải là sự thật, không có thật,’ thì này Upāli, không nên đảm nhận vụ tranh tụng ấy.”
Sace panupāli, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti—‘bhūtaṁ idaṁ attādānaṁ no abhūtan’ti, tenupāli, bhikkhunā uttari paccavekkhitabbaṁ—‘yaṁ kho ahaṁ imaṁ attādānaṁ ādātukāmo, atthasaṁhitaṁ nu kho idaṁ attādānaṁ udāhu no’ti. Sace, upāli, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti—‘anatthasaṁhitaṁ idaṁ attādānaṁ no atthasaṁhitan’ti, na taṁ, upāli, attādānaṁ ādātabbaṁ.
(2) But if he knows it is, he should reflect further whether raising the issue will be beneficial. If he knows it won’t, he shouldn’t raise it.
Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong khi xem xét biết được như vầy: ‘Sự tranh tụng tự mình đảm nhận này là có thật, không phải không có thật,’ này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên xem xét thêm nữa rằng: ‘Sự tranh tụng tự mình đảm nhận mà ta muốn đảm nhận đây, sự tranh tụng tự mình đảm nhận này có liên hệ đến lợi ích hay không?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong khi xem xét biết được như vầy: ‘Sự tranh tụng tự mình đảm nhận này không liên hệ đến lợi ích, không phải có liên hệ đến lợi ích,’ này Upāli, không nên đảm nhận sự tranh tụng tự mình đảm nhận ấy.
Sace panupāli, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti—‘atthasaṁhitaṁ idaṁ attādānaṁ no anatthasaṁhitan’ti, tenupāli, bhikkhunā uttari paccavekkhitabbaṁ—‘imaṁ kho ahaṁ attādānaṁ ādiyamāno labhissāmi sandiṭṭhe sambhatte bhikkhū dhammato vinayato pakkhe udāhu no’ti. Sace, upāli, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti—‘imaṁ kho ahaṁ attādānaṁ ādiyamāno na labhissāmi sandiṭṭhe sambhatte bhikkhū dhammato vinayato pakkhe’ti, na taṁ, upāli, attādānaṁ ādātabbaṁ.
(3) But if he knows it will, he should reflect further whether the monks who are on the side of the Teaching and the Monastic Law will support him. If he knows that they won’t, he shouldn’t raise it.
Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong khi xem xét biết được như vầy: ‘Sự tranh tụng tự mình đảm nhận này có liên hệ đến lợi ích, không phải không liên hệ đến lợi ích,’ này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên xem xét thêm nữa rằng: ‘Khi ta đảm nhận sự tranh tụng tự mình đảm nhận này, ta sẽ có được các vị tỳ khưu đồng kiến, thân hữu, cùng phe về phương diện Pháp và Luật hay không?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong khi xem xét biết được như vầy: ‘Khi ta đảm nhận sự tranh tụng tự mình đảm nhận này, ta sẽ không có được các vị tỳ khưu đồng kiến, thân hữu, cùng phe về phương diện Pháp và Luật,’ này Upāli, không nên đảm nhận sự tranh tụng tự mình đảm nhận ấy.
Sace panupāli, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti—‘idaṁ kho ahaṁ attādānaṁ ādiyamāno labhissāmi sandiṭṭhe sambhatte bhikkhū dhammato vinayato pakkhe’ti, tenupāli, bhikkhunā uttari paccavekkhitabbaṁ—‘imaṁ kho me attādānaṁ ādiyato bhavissati saṅghassa tatonidānaṁ bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo saṅghabhedo saṅgharāji saṅghavavatthānaṁ saṅghanānākaraṇaṁ udāhu no’ti. Sace, upāli, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti—‘imaṁ kho me attādānaṁ ādiyato bhavissati saṅghassa tatonidānaṁ bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo saṅghabhedo saṅgharāji saṅghavavatthānaṁ saṅghanānākaraṇan’ti, na taṁ, upāli, attādānaṁ ādātabbaṁ.
(4) But if he knows that they will, he should reflect further whether raising the issue will lead to arguments and disputes, to fracture and schism in the Sangha. If he knows it will, he shouldn’t raise it.
Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong khi xem xét biết được như vầy: ‘Khi ta đảm nhận sự tranh tụng tự mình đảm nhận này, ta sẽ có được các vị tỳ khưu đồng kiến, thân hữu, cùng phe về phương diện Pháp và Luật,’ này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên xem xét thêm nữa rằng: ‘Do duyên cớ ấy, việc ta đảm nhận sự tranh tụng tự mình đảm nhận này có thể sẽ là sự cãi vã, sự tranh chấp, sự xung đột, sự luận쟁, sự chia rẽ Tăng chúng, sự rạn nứt trong Tăng chúng, sự phân ly trong Tăng chúng, sự hành sự riêng rẽ trong Tăng chúng của Tăng chúng hay không?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong khi xem xét biết được như vầy: ‘Do duyên cớ ấy, việc ta đảm nhận sự tranh tụng tự mình đảm nhận này có thể sẽ là sự cãi vã, sự tranh chấp, sự xung đột, sự luận쟁, sự chia rẽ Tăng chúng, sự rạn nứt trong Tăng chúng, sự phân ly trong Tăng chúng, sự hành sự riêng rẽ trong Tăng chúng của Tăng chúng,’ này Upāli, không nên đảm nhận sự tranh tụng tự mình đảm nhận ấy.
Sace panupāli, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti—‘imaṁ kho me attādānaṁ ādiyato na bhavissati saṅghassa tatonidānaṁ bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo saṅghabhedo saṅgharāji saṅghavavatthānaṁ saṅghanānākaraṇan’ti, taṁ ādātabbaṁ, upāli, attādānaṁ. Evaṁ pañcaṅgasamannāgataṁ kho, upāli, attādānaṁ ādinnaṁ pacchāpi avippaṭisārakaraṁ bhavissatī”ti.
(5) But if he knows it won’t, he may raise it. In this way, when five factors are fulfilled, he won’t regret raising that issue.”
Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong khi xem xét biết được như vầy: ‘Do duyên cớ ấy, việc ta đảm nhận sự tranh tụng tự mình đảm nhận này sẽ không là sự cãi vã, sự tranh chấp, sự xung đột, sự luận쟁, sự chia rẽ Tăng chúng, sự rạn nứt trong Tăng chúng, sự phân ly trong Tăng chúng, sự hành sự riêng rẽ trong Tăng chúng của Tăng chúng,’ này Upāli, nên đảm nhận sự tranh tụng tự mình đảm nhận ấy. Này Upāli, sự tranh tụng tự mình đảm nhận được đảm nhận như vậy, hội đủ năm yếu tố, về sau cũng sẽ không gây ra hối tiếc.
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgato bhikkhu adhikaraṇajātānaṁ bhikkhūnaṁ bahūpakāro hotī”ti?
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu adhikaraṇajātānaṁ bhikkhūnaṁ bahūpakāro hoti. Katamehi pañcahi? Sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu; bahussuto hoti sutadharo sutasannicayo; ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti tathārūpassa dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā, ubhayāni kho panassa pātimokkhāni vitthārena svāgatāni honti suvibhattāni suppavattīni suvinicchitāni suttaso anubyañjanaso; vinaye kho pana ṭhito hoti asaṁhīro; paṭibalo hoti ubho atthapaccatthike assāsetuṁ saññāpetuṁ nijjhāpetuṁ pekkhetuṁ pasādetuṁ—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu adhikaraṇajātānaṁ bhikkhūnaṁ bahūpakāro hoti.
“What sort of monk is of great help to monks involved in a legal issue?”
“One who has five qualities: (1) He’s virtuous and restrained by the Monastic Code. His conduct is good, he associates with the right people, and he sees danger in minor faults. He undertakes and trains in the training rules. (2) He has learned much, and he retains and accumulates what he has learned. (3) Those teachings that are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, that have a true goal and are well articulated, and that set out the perfectly complete and pure spiritual life—he has learned many such teachings, retained them in mind, recited them verbally, mentally investigated them, and penetrated them well by view. (4) He’s firmly committed to the Monastic Law. (5) He’s capable of making both sides relax, of persuading them, of convincing them, of making them see, of reconciling them.
441. Bạch Thế Tôn, vị tỳ khưu hội đủ bao nhiêu yếu tố thì có thể giúp ích nhiều cho các vị tỳ khưu có sự tranh tụng phát sanh? Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố thì có thể giúp ích nhiều cho các vị tỳ khưu có sự tranh tụng phát sanh. Thế nào là năm? Vị ấy có giới hạnh, sống được chế ngự bởi sự thu thúc của giới Bổn, có đầy đủ oai nghi và nơi hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học giới; vị ấy là người đa văn, ghi nhớ điều đã nghe, tích lũy điều đã nghe; những pháp nào toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú, tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch, những pháp như vậy đã được vị ấy nghe nhiều, ghi nhớ, thực hành bằng lời nói, quán xét bằng ý, và khéo thông đạt bằng tri kiến; lại nữa, cả hai bộ giới Bổn đã được vị ấy khéo tiếp thu một cách rộng rãi, khéo phân tích, khéo thực hành, khéo quyết đoán theo từng điều luật và theo từng chi tiết; lại nữa, vị ấy vững vàng trong Luật, không dao động; vị ấy có khả năng làm cho cả hai bên đối nghịch được an lòng, được hiểu rõ, được thẩm xét, được xem xét, được hoan hỷ. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này thì có thể giúp ích nhiều cho các vị tỳ khưu có sự tranh tụng phát sanh.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu adhikaraṇajātānaṁ bhikkhūnaṁ bahūpakāro hoti. Katamehi pañcahi? Parisuddhakāyasamācāro hoti, parisuddhavacīsamācāro hoti, parisuddhājīvo hoti, paṇḍito hoti byatto, paṭibalo anuyuñjiyamāno anuyogaṁ dātuṁ—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu adhikaraṇajātānaṁ bhikkhūnaṁ bahūpakāro hoti.
A monk who has five other qualities is also of great help to monks involved in a legal issue: he’s pure in bodily conduct; he’s pure in verbal conduct; he’s pure in livelihood; he’s knowledgeable and competent; he’s capable of answering properly when questioned.
Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác thì có thể giúp ích nhiều cho các vị tỳ khưu có sự tranh tụng phát sanh. Thế nào là năm? Vị ấy có thân hành trong sạch, có khẩu hành trong sạch, có mạng sống trong sạch; vị ấy là bậc hiền trí, sáng suốt, có khả năng trả lời khi được chất vấn. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này thì có thể giúp ích nhiều cho các vị tỳ khưu có sự tranh tụng phát sanh.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu adhikaraṇajātānaṁ bhikkhūnaṁ bahūpakāro hoti. Katamehi pañcahi? Vatthuṁ jānāti, nidānaṁ jānāti, paññattiṁ jānāti, padapaccābhaṭṭhaṁ jānāti, anusandhivacanapathaṁ jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu adhikaraṇajātānaṁ bhikkhūnaṁ bahūpakāro hotī”ti.
A monk who has five other qualities is also of great help to monks involved in a legal issue: he knows the actions that are the bases for offenses; he knows the origin stories; he knows the rules; he knows the right order of words; he knows the sequence of statements.”
Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác thì có thể giúp ích nhiều cho các vị tỳ khưu có sự tranh tụng phát sanh. Thế nào là năm? Vị ấy biết rõ sự việc, biết rõ nguyên nhân, biết rõ điều chế định, biết rõ từ ngữ trước sau, biết rõ sự liên kết của lời nói. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này thì có thể giúp ích nhiều cho các vị tỳ khưu có sự tranh tụng phát sanh.
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā nānuyuñjitabban”ti?
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā nānuyuñjitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Suttaṁ na jānāti, suttānulomaṁ na jānāti, vinayaṁ na jānāti, vinayānulomaṁ na jānāti, na ca ṭhānāṭhānakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā nānuyuñjitabbaṁ.
“Sir, what sort of monk shouldn’t be examined?”
“One who has five qualities: (1) he doesn’t know the Monastic Code; (2) he doesn’t know what is in accordance with the Monastic Code; (3) he doesn’t know the Monastic Law; (4) he doesn’t know what’s in accordance with the Monastic Law; (5) he’s not skilled in what is and is not possible.
442. Bạch Thế Tôn, vị tỳ khưu hội đủ bao nhiêu yếu tố thì không nên chất vấn? Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố thì không nên chất vấn. Thế nào là năm? Vị ấy không biết Kinh, không biết điều tương ứng với Kinh; không biết Luật, không biết điều tương ứng với Luật; và không khéo léo về trường hợp và phi trường hợp. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này thì không nên chất vấn.
Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā anuyuñjitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Suttaṁ jānāti, suttānulomaṁ jānāti, vinayaṁ jānāti, vinayānulomaṁ jānāti, ṭhānāṭhānakusalo ca hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā anuyuñjitabbaṁ.
But a monk who has five qualities may be examined: (1) he knows the Monastic Code; (2) he knows what’s in accordance with the Monastic Code; (3) he knows the Monastic Law; (4) he knows what’s in accordance with the Monastic Law; (5) he’s skilled in what is and is not possible.
“Này Upāli, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp thì nên được tra vấn. Do năm pháp nào? Vị ấy biết Kinh (sutta), biết sự tương ứng với Kinh (suttānuloma), biết Luật (vinaya), biết sự tương ứng với Luật (vinayānuloma), và là người thiện xảo về trường hợp và phi trường hợp. Này Upāli, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp này thì nên được tra vấn.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā nānuyuñjitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Dhammaṁ na jānāti, dhammānulomaṁ na jānāti, vinayaṁ na jānāti, vinayānulomaṁ na jānāti, na ca pubbāparakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā nānuyuñjitabbaṁ.
A monk who has five other qualities also shouldn’t be examined: (1) he doesn’t know the Teaching; (2) he doesn’t know what’s in accordance with the Teaching; (3) he doesn’t know the Monastic Law; (4) he doesn’t know what’s in accordance with the Monastic Law; (5) he’s not skilled in the right order.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp khác thì không nên được tra vấn. Do năm pháp nào? Vị ấy không biết Pháp (dhamma), không biết sự tương ứng với Pháp (dhammānuloma), không biết Luật (vinaya), không biết sự tương ứng với Luật (vinayānuloma), và không là người thiện xảo về trước sau. Này Upāli, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp này thì không nên được tra vấn.”
Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā anuyuñjitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Dhammaṁ jānāti, dhammānulomaṁ jānāti, vinayaṁ jānāti, vinayānulomaṁ jānāti, pubbāparakusalo ca hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā anuyuñjitabbaṁ.
But a monk who has five qualities may be examined: (1) he knows the Teaching; (2) he knows what’s in accordance with the Teaching; (3) he knows the Monastic Law; (4) he knows what’s in accordance with the Monastic Law; (5) he’s skilled in the right order.
“Này Upāli, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp thì nên được tra vấn. Do năm pháp nào? Vị ấy biết Pháp (dhamma), biết sự tương ứng với Pháp (dhammānuloma), biết Luật (vinaya), biết sự tương ứng với Luật (vinayānuloma), và là người thiện xảo về trước sau. Này Upāli, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp này thì nên được tra vấn.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā nānuyuñjitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Vatthuṁ na jānāti, nidānaṁ na jānāti, paññattiṁ na jānāti, padapaccābhaṭṭhaṁ na jānāti, anusandhivacanapathaṁ na jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā nānuyuñjitabbaṁ.
A monk who has five other qualities also shouldn’t be examined: (1) he doesn’t know the actions that are the bases for offenses; (2) he doesn’t know the origin stories; (3) he doesn’t know the rules; (4) he doesn’t know the right order of words; (5) he doesn’t know the sequence of statements.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp khác thì không nên được tra vấn. Do năm pháp nào? Vị ấy không biết sự việc (vatthu), không biết nhân duyên (nidāna), không biết sự chế định (paññatti), không biết từ ngữ và sự liên quan (padapaccābhaṭṭha), không biết sự nối kết và văn cú (anusandhivacanapatha). Này Upāli, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp này thì không nên được tra vấn.”
Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā anuyuñjitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Vatthuṁ jānāti, nidānaṁ jānāti, paññattiṁ jānāti, padapaccābhaṭṭhaṁ jānāti, anusandhivacanapathaṁ jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā anuyuñjitabbaṁ.
But a monk who has five qualities may be examined: (1) he knows the actions that are the bases for offenses; (2) he knows the origin stories; (3) he knows the rules; (4) he knows the right order of words; (5) he knows the sequence of statements.
“Này Upāli, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp thì nên được tra vấn. Do năm pháp nào? Vị ấy biết sự việc (vatthu), biết nhân duyên (nidāna), biết sự chế định (paññatti), biết từ ngữ và sự liên quan (padapaccābhaṭṭha), biết sự nối kết và văn cú (anusandhivacanapatha). Này Upāli, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp này thì nên được tra vấn.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā nānuyuñjitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Āpattiṁ na jānāti, āpattisamuṭṭhānaṁ na jānāti, āpattiyā payogaṁ na jānāti, āpattiyā vūpasamaṁ na jānāti, āpattiyā na vinicchayakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā nānuyuñjitabbaṁ.
A monk who has five other qualities also shouldn’t be examined: (1) he doesn’t know the offenses; (2) he doesn’t know the origination of the offenses; (3) he doesn’t know the kind of effort required to commit the offenses; (4) he doesn’t know the settling of offenses; (5) he’s not skilled in deciding on offenses.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp khác thì không nên được tra vấn. Do năm pháp nào? Vị ấy không biết tội (āpatti), không biết sự phát sanh của tội (āpattisamuṭṭhāna), không biết sự nỗ lực (để phạm) tội (āpattiyā payoga), không biết sự dập tắt của tội (āpattiyā vūpasama), và không là người thiện xảo trong việc xét xử tội (āpattiyā vinicchayakusalo). Này Upāli, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp này thì không nên được tra vấn.”
Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā anuyuñjitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Āpattiṁ jānāti, āpattisamuṭṭhānaṁ jānāti, āpattiyā payogaṁ jānāti, āpattiyā vūpasamaṁ jānāti, āpattiyā vinicchayakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā anuyuñjitabbaṁ.
But a monk who has five qualities may be examined: (1) he knows the offenses; (2) he knows the origination of the offenses; (3) he knows the kind of effort required to commit the offenses; (4) he knows the settling of offenses; (5) he’s skilled in deciding on offenses.
“Này Upāli, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp thì nên được tra vấn. Do năm pháp nào? Vị ấy biết tội (āpatti), biết sự phát sanh của tội (āpattisamuṭṭhāna), biết sự nỗ lực (để phạm) tội (āpattiyā payoga), biết sự dập tắt của tội (āpattiyā vūpasama), và là người thiện xảo trong việc xét xử tội (āpattiyā vinicchayakusalo). Này Upāli, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp này thì nên được tra vấn.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā nānuyuñjitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Adhikaraṇaṁ na jānāti, adhikaraṇasamuṭṭhānaṁ na jānāti, adhikaraṇassa payogaṁ na jānāti, adhikaraṇassa vūpasamaṁ na jānāti, adhikaraṇassa na vinicchayakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā nānuyuñjitabbaṁ.
A monk who has five other qualities also shouldn’t be examined: (1) he doesn’t know the legal issues; (2) he doesn’t know the origination of the legal issues; (3) he doesn’t know the kind of effort that’s the source of the legal issues; (4) he doesn’t know the settling of legal issues; (5) he’s not skilled in deciding legal issues.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp khác thì không nên được tra vấn. Do năm pháp nào? Vị ấy không biết sự tranh tụng (adhikaraṇa), không biết sự phát sanh của sự tranh tụng (adhikaraṇasamuṭṭhāna), không biết sự nỗ lực (để có) sự tranh tụng (adhikaraṇassa payoga), không biết sự dập tắt của sự tranh tụng (adhikaraṇassa vūpasama), và không là người thiện xảo trong việc xét xử sự tranh tụng (adhikaraṇassa vinicchayakusalo). Này Upāli, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp này thì không nên được tra vấn.”
Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā anuyuñjitabbaṁ. Katamehi pañcahi? Adhikaraṇaṁ jānāti, adhikaraṇasamuṭṭhānaṁ jānāti, adhikaraṇassa payogaṁ jānāti, adhikaraṇassa vūpasamaṁ jānāti, adhikaraṇassa vinicchayakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā anuyuñjitabban”ti.
But a monk who has five qualities may be examined: (1) he knows the legal issues; (2) he knows the origination of the legal issues; (3) he knows the kind of effort that’s the source of the legal issues; (4) he knows the settling of legal issues; (5) he’s skilled in deciding legal issues.”
“Này Upāli, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp thì nên được tra vấn. Do năm pháp nào? Vị ấy biết sự tranh tụng (adhikaraṇa), biết sự phát sanh của sự tranh tụng (adhikaraṇasamuṭṭhāna), biết sự nỗ lực (để có) sự tranh tụng (adhikaraṇassa payoga), biết sự dập tắt của sự tranh tụng (adhikaraṇassa vūpasama), và là người thiện xảo trong việc xét xử sự tranh tụng (adhikaraṇassa vinicchayakusalo). Này Upāli, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp này thì nên được tra vấn.”
Attādānavaggo niṭṭhito pañcamo.
Tassuddānaṁ
The fifth subchapter on raising an issue is finished.
This is the summary:
Phẩm Attādāna, thứ năm, đã kết thúc.
Parisuddhañca kālena, Kāruññaṁ okāsena ca; Attādānaṁ adhikaraṇaṁ, Aparehipi vatthuñca; Suttaṁ dhammaṁ puna vatthuñca, Āpatti adhikaraṇena cāti.
“And pure, at an appropriate time, Compassion, and with permission; Raising an issue, legal issue, And also other, and the actions that are the bases; The Monastic Code, the Teaching, and the actions that are the bases, Offense, and with legal issue.”
Sự trong sạch và thời điểm, lòng bi mẫn và sự cho phép; Sự tự mình gánh lấy, sự tranh tụng, và các trường hợp khác cùng với sự việc; Kinh, Pháp, lại nữa là sự việc, tội và cùng với sự tranh tụng.
6. Dhutaṅgavagga
6. The subchapter on ascetic practices
6. Phẩm về Hạnh Đầu-đà
“Kati nu kho, bhante, āraññikā”ti?
“Pañcime, upāli, āraññikā. Katame pañca? Mandattā momūhattā āraññiko hoti, pāpiccho icchāpakato āraññiko hoti, ummādā cittakkhepā āraññiko hoti, vaṇṇitaṁ buddhehi buddhasāvakehīti āraññiko hoti, api ca appicchaññeva nissāya santuṭṭhiññeva nissāya, sallekhaññeva nissāya pavivekaññeva nissāya idamatthitaññeva nissāya āraññiko hoti—ime kho, upāli, pañca āraññikā”ti.
“Sir, how many kinds of wilderness dwellers are there?”
“There are five kinds: those who are wilderness dwellers: (1) because of stupidity and folly; (2) because they are overcome by bad desires; (3) because of insanity and derangement; (4) because it is praised by the Buddhas and their disciples; (5) because of fewness of wishes, contentment, self-effacement, seclusion, and not needing anything else.”
443. “‘Bạch ngài, có bao nhiêu hạng người sống ở rừng?’ ‘Này Upāli, có năm hạng người sống ở rừng này. Năm hạng nào? Do sự đần độn, do sự ngu si, có người sống ở rừng. Do có ác dục, bị ước muốn xấu xa chi phối, có người sống ở rừng. Do sự điên cuồng, do tâm bị rối loạn, có người sống ở rừng. Với ý nghĩ rằng: “(Hạnh này) được các vị Phật và các đệ tử của Phật tán thán,” có người sống ở rừng. Và lại nữa, chỉ nương vào sự ít ham muốn, chỉ nương vào sự biết đủ, chỉ nương vào sự khắc khổ, chỉ nương vào sự độc cư, chỉ nương vào mục đích này, có người sống ở rừng. Này Upāli, có năm hạng người sống ở rừng này.’”
“Kati nu kho, bhante, piṇḍapātikāti …pe… kati nu kho, bhante, paṁsukūlikāti …pe… kati nu kho, bhante, rukkhamūlikāti …pe… kati nu kho, bhante, sosānikāti …pe… kati nu kho, bhante, abbhokāsikāti …pe… kati nu kho, bhante, tecīvarikāti …pe… kati nu kho, bhante, sapadānacārikāti …pe… kati nu kho, bhante, nesajjikāti …pe… kati nu kho, bhante, yathāsanthatikāti …pe… kati nu kho, bhante, ekāsanikāti …pe… kati nu kho, bhante, khalupacchābhattikāti …pe… kati nu kho, bhante, pattapiṇḍikā”ti?
“Pañcime, upāli, pattapiṇḍikā. Katame pañca? Mandattā momūhattā pattapiṇḍiko hoti, pāpiccho icchāpakato pattapiṇḍiko hoti, ummādā cittakkhepā pattapiṇḍiko hoti, vaṇṇitaṁ buddhehi buddhasāvakehīti pattapiṇḍiko hoti, api ca appicchaññeva nissāya santuṭṭhiññeva nissāya sallekhaññeva nissāya pavivekaññeva nissāya idamatthitaññeva nissāya pattapiṇḍiko hoti—ime kho, upāli, pañca pattapiṇḍikā”ti.
“How many kinds of people are there who only eat almsfood?” … “How many kinds of rag-robe wearers are there?” … “How many kinds of people are there who live at the foot of a tree?” … “How many kinds of people are there who live in charnel grounds?” … “How many kinds of people are there who live out in the open?” … “How many kinds of people are there who only have three robes?” … “How many kinds of people are there who go on continuous almsround?” … “How many kinds of people are there who never lie down?” … “How many kinds of people are there who accept any kind of resting place?” … “How many kinds of people are there who eat in one sitting per day?” … “How many kinds of people are there who refuse to accept food offered after the meal has begun?” … “How many kinds of people are there who eat only from the almsbowl?”
“There are five kinds: those who eat only from the almsbowl: (1) because of stupidity and folly; (2) because they are overcome by bad desires; (3) because of insanity and derangement; (4) because it is praised by the Buddhas and their disciples; (5) because of fewness of wishes, contentment, self-effacement, seclusion, and not needing anything else.”
“Bạch ngài, có bao nhiêu hạng người thực hành hạnh đầu đà khất thực? ... cho đến ... Bạch ngài, có bao nhiêu hạng người thực hành hạnh đầu đà chỉ ăn trong bình bát?” “Này Upāli, có năm hạng người thực hành hạnh đầu đà chỉ ăn trong bình bát này. Thế nào là năm? Do sự đần độn, do sự si mê, vị ấy trở thành người thực hành hạnh đầu đà chỉ ăn trong bình bát; do có ước muốn xấu xa, bị ước muốn chi phối, vị ấy trở thành người thực hành hạnh đầu đà chỉ ăn trong bình bát; do sự điên cuồng, do sự loạn tâm, vị ấy trở thành người thực hành hạnh đầu đà chỉ ăn trong bình bát; với ý nghĩ rằng: ‘(Hạnh này) đã được các đức Phật và các vị đệ tử của đức Phật tán thán,’ vị ấy trở thành người thực hành hạnh đầu đà chỉ ăn trong bình bát; và còn nữa, chỉ nương vào sự thiểu dục, chỉ nương vào sự biết đủ, chỉ nương vào sự khắc khổ, chỉ nương vào sự độc cư, chỉ nương vào sự cần thiết này, vị ấy trở thành người thực hành hạnh đầu đà chỉ ăn trong bình bát. Này Upāli, đây chính là năm hạng người thực hành hạnh đầu đà chỉ ăn trong bình bát.”
Dhutaṅgavaggo niṭṭhito chaṭṭho.
Tassuddānaṁ
The sixth subchapter on ascetic practices is finished.
This is the summary:
Phẩm về Hạnh Đầu Đà, phẩm thứ sáu, đã kết thúc.
Āraññiko piṇḍipaṁsu, Rukkhasusānapañcamaṁ; Abbho tecīvarañceva, Sapadānanesajjikā; Santhatekāsanañceva, Khalupacchā pattapiṇḍikāti.
“Wilderness dweller, almsfood, rag-robe, Tree, charnel ground is the fifth; Out in the open, and the three robes, Continuous, those who never lie down; Resting place, and one sitting, After, those who eat only from the bowl.”
Hạnh ở rừng, hạnh khất thực, hạnh y phấn tảo, hạnh ở gốc cây, thứ năm là hạnh ở nghĩa địa; hạnh ở ngoài trời và hạnh ba y, hạnh khất thực từng nhà và hạnh ngồi; hạnh ở chỗ nào cũng được và hạnh ngồi ăn một lần, hạnh không ăn thêm sau khi đã thôi, và hạnh chỉ ăn trong bình bát.
7. Musāvādavagga
7. The subchapter on lying
7. Phẩm Nói Dối
“Kati nu kho, bhante, musāvādā”ti?
“Pañcime, upāli, musāvādā. Katame pañca? Atthi musāvādo pārājikagāmī, atthi musāvādo saṅghādisesagāmī, atthi musāvādo thullaccayagāmī, atthi musāvādo pācittiyagāmī, atthi musāvādo dukkaṭagāmī—ime kho, upāli, pañca musāvādā”ti.
“Sir, how many kinds of lying are there?”
“There are five kinds: (1) there’s lying that leads to an offense entailing expulsion; (2) there’s lying that leads to an offense entailing suspension; (3) there’s lying that leads to a serious offense; (4) there’s lying that leads to an offense entailing confession; (5) there’s lying that leads to an offense of wrong conduct.”
444. “Bạch ngài, có bao nhiêu loại nói dối?” “Này Upāli, có năm loại nói dối này. Thế nào là năm? Có lời nói dối dẫn đến tội pārājika, có lời nói dối dẫn đến tội saṅghādisesa, có lời nói dối dẫn đến tội thullaccaya, có lời nói dối dẫn đến tội pācittiya, có lời nói dối dẫn đến tội dukkaṭa. Này Upāli, đây chính là năm loại nói dối.”
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno saṅghamajjhe uposathaṁ vā pavāraṇaṁ vā ṭhapentassa—‘alaṁ, bhikkhu, mā bhaṇḍanaṁ, mā kalahaṁ, mā viggahaṁ, mā vivādan’ti omadditvā saṅghena uposatho vā pavāraṇā vā kātabbā”ti?
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno saṅghamajjhe uposathaṁ vā pavāraṇaṁ vā ṭhapentassa—‘alaṁ, bhikkhu, mā bhaṇḍanaṁ, mā kalahaṁ, mā viggahaṁ, mā vivādan’ti omadditvā saṅghena uposatho vā pavāraṇā vā kātabbā. Katamehi pañcahi? Alajjī ca hoti, bālo ca, apakatatto ca, cāvanādhippāyo vattā hoti, no vuṭṭhānādhippāyo—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno saṅghamajjhe uposathaṁ vā pavāraṇaṁ vā ṭhapentassa—‘alaṁ, bhikkhu, mā bhaṇḍanaṁ, mā kalahaṁ, mā viggahaṁ, mā vivādan’ti omadditvā saṅghena uposatho vā pavāraṇā vā kātabbā.
“A monk may be canceling someone’s observance day or invitation in the midst of the Sangha. Among such monks, what sort should be pressed: ‘Enough. No more arguing and disputing,’ with the Sangha then doing the observance-day ceremony or the invitation ceremony?”
“A monk who has five qualities: he’s shameless; he’s ignorant; he’s not a regular monk; he speaks to make someone disrobe, not with the aim of clearing their offenses.
445. “Bạch ngài, vị tỳ khưu có đầy đủ bao nhiêu chi phần, trong khi đang đình chỉ lễ uposatha hay lễ pavāraṇā giữa Tăng chúng, thì bị Tăng chúng áp đảo bằng cách nói: ‘Thôi đủ rồi, này tỳ khưu, đừng tranh cãi, đừng cãi vã, đừng xung đột, đừng tranh luận,’ rồi lễ uposatha hay lễ pavāraṇā nên được Tăng chúng tiến hành?” “Này Upāli, vị tỳ khưu có đầy đủ năm chi phần, trong khi đang đình chỉ lễ uposatha hay lễ pavāraṇā giữa Tăng chúng, thì bị Tăng chúng áp đảo bằng cách nói: ‘Thôi đủ rồi, này tỳ khưu, đừng tranh cãi, đừng cãi vã, đừng xung đột, đừng tranh luận,’ rồi lễ uposatha hay lễ pavāraṇā nên được Tăng chúng tiến hành. Thế nào là năm? Vị ấy vừa không có hổ thẹn, vừa ngu si, vừa không phải là người bình thường, vừa là người nói với ý định làm cho (người khác) bị sa sút, chứ không phải với ý định làm cho (người khác) được ra khỏi (tội). Này Upāli, vị tỳ khưu có đầy đủ năm chi phần này, trong khi đang đình chỉ lễ uposatha hay lễ pavāraṇā giữa Tăng chúng, thì bị Tăng chúng áp đảo bằng cách nói: ‘Thôi đủ rồi, này tỳ khưu, đừng tranh cãi, đừng cãi vã, đừng xung đột, đừng tranh luận,’ rồi lễ uposatha hay lễ pavāraṇā nên được Tăng chúng tiến hành.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno saṅghamajjhe uposathaṁ vā pavāraṇaṁ vā ṭhapentassa—‘alaṁ, bhikkhu, mā bhaṇḍanaṁ, mā kalahaṁ, mā viggahaṁ, mā vivādan’ti omadditvā saṅghena uposatho vā pavāraṇā vā kātabbā. Katamehi pañcahi? Aparisuddhakāyasamācāro hoti, aparisuddhavacīsamācāro hoti, aparisuddhājīvo hoti, bālo hoti abyatto, bhaṇḍanakārako hoti kalahakārako—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno saṅghamajjhe uposathaṁ vā pavāraṇaṁ vā ṭhapentassa—‘alaṁ, bhikkhu, mā bhaṇḍanaṁ, mā kalahaṁ, mā viggahaṁ, mā vivādan’ti omadditvā saṅghena uposatho vā pavāraṇā vā kātabbā”ti.
The same procedure should be followed also for a monk who has five other qualities: he’s impure in bodily conduct; he’s impure in verbal conduct; he’s impure in livelihood; he’s ignorant and incompetent; he’s quarrelsome and argumentative.”
“Này Upāli, còn có năm chi phần khác mà vị tỳ khưu có đầy đủ, trong khi đang đình chỉ lễ uposatha hay lễ pavāraṇā giữa Tăng chúng, thì bị Tăng chúng áp đảo bằng cách nói: ‘Thôi đủ rồi, này tỳ khưu, đừng tranh cãi, đừng cãi vã, đừng xung đột, đừng tranh luận,’ rồi lễ uposatha hay lễ pavāraṇā nên được Tăng chúng tiến hành. Thế nào là năm? Vị ấy có thân nghiệp không trong sạch, có khẩu nghiệp không trong sạch, có mạng sống không trong sạch, là người ngu si, không sáng suốt, là người hay gây tranh cãi, hay gây cãi vã. Này Upāli, vị tỳ khưu có đầy đủ năm chi phần này, trong khi đang đình chỉ lễ uposatha hay lễ pavāraṇā giữa Tăng chúng, thì bị Tăng chúng áp đảo bằng cách nói: ‘Thôi đủ rồi, này tỳ khưu, đừng tranh cãi, đừng cãi vã, đừng xung đột, đừng tranh luận,’ rồi lễ uposatha hay lễ pavāraṇā nên được Tăng chúng tiến hành.”
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno anuyogo na dātabbo”ti?
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno anuyogo na dātabbo. Katamehi pañcahi? Āpattānāpattiṁ na jānāti, lahukagarukaṁ āpattiṁ na jānāti, sāvasesānavasesaṁ āpattiṁ na jānāti, duṭṭhullāduṭṭhullaṁ āpattiṁ na jānāti, sappaṭikammāpaṭikammaṁ āpattiṁ na jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno anuyogo na dātabbo.
“What sort of monk shouldn’t be allowed to question?”
“One who has five qualities: (1) he doesn’t know the offenses and non-offenses; (2) he doesn’t know the light and heavy offenses; (3) he doesn’t know the curable and incurable offenses; (4) he doesn’t know the grave and minor offenses; (5) he doesn’t know the offenses that are clearable by making amends and the offenses that are not clearable by making amends.
446. “Bạch ngài, vị tỳ khưu có đầy đủ bao nhiêu chi phần thì không nên bị chất vấn?” “Này Upāli, vị tỳ khưu có đầy đủ năm chi phần thì không nên bị chất vấn. Thế nào là năm? Vị ấy không biết tội và không phải tội, không biết tội nhẹ và tội nặng, không biết tội có dư tàn và tội không có dư tàn, không biết tội thô và tội không thô, không biết tội có thể sửa trị và tội không thể sửa trị. Này Upāli, vị tỳ khưu có đầy đủ năm chi phần này thì không nên bị chất vấn.”
Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno anuyogo dātabbo. Katamehi pañcahi? Āpattānāpattiṁ jānāti, lahukagarukaṁ āpattiṁ jānāti, sāvasesānavasesaṁ āpattiṁ jānāti, duṭṭhullāduṭṭhullaṁ āpattiṁ jānāti, sappaṭikammāpaṭikammaṁ āpattiṁ jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno anuyogo dātabbo”ti.
But a monk who has five other qualities may question: (1) he knows the offenses and non-offenses; (2) he knows the light and heavy offenses; (3) he knows the curable and incurable offenses; (4) he knows the grave and minor offenses; (5) he knows the offenses that are clearable by making amends and the offenses that are not clearable by making amends.”
“Này Upāli, vị tỳ khưu có đầy đủ năm chi phần thì nên được chất vấn. Thế nào là năm? Vị ấy biết tội và không phải tội, biết tội nhẹ và tội nặng, biết tội có dư tàn và tội không có dư tàn, biết tội thô và tội không thô, biết tội có thể sửa trị và tội không thể sửa trị. Này Upāli, vị tỳ khưu có đầy đủ năm chi phần này thì nên được chất vấn.”
“Katihi nu kho, bhante, ākārehi bhikkhu āpattiṁ āpajjatī”ti?
“Pañcahupāli, ākārehi bhikkhu āpattiṁ āpajjati. Katamehi pañcahi? Alajjitā, aññāṇatā, kukkuccapakatatā, akappiye kappiyasaññitā, kappiye akappiyasaññitā—imehi kho, upāli, pañcahākārehi bhikkhu āpattiṁ āpajjati.
“For how many reasons does a monk commit an offense?”
“For five reasons: because of shamelessness; because of ignorance; because of being overcome by anxiety; because of perceiving what’s unallowable as allowable; because of perceiving what’s allowable as unallowable.
447. “Bạch ngài, do bao nhiêu cách thức mà một vị tỳ khưu phạm tội?” “Này Upāli, do năm cách thức mà một vị tỳ khưu phạm tội. Thế nào là năm? Do không hổ thẹn, do không biết, do bị hối hận chi phối, do tưởng rằng điều không hợp lệ là hợp lệ, do tưởng rằng điều hợp lệ là không hợp lệ. Này Upāli, do năm cách thức này mà một vị tỳ khưu phạm tội.”
Aparehipi, upāli, pañcahākārehi bhikkhu āpattiṁ āpajjati. Katamehi pañcahi? Adassanena, assavanena, pasuttakatā, tathāsaññī, satisammosā—imehi kho, upāli, pañcahākārehi bhikkhu āpattiṁ āpajjatī”ti.
A monk also commits an offense for five other reasons: because of not seeing; because of not hearing; because of sleeping; because of perceiving it as allowable; because of absentmindedness.”
“Này Upāli, còn có năm cách thức khác mà một vị tỳ khưu phạm tội. Thế nào là năm? Do không thấy, do không nghe, do trạng thái ngủ gật, do có tưởng như vậy, do thất niệm. Này Upāli, do năm cách thức này mà một vị tỳ khưu phạm tội.”
“Kati nu kho, bhante, verā”ti?
“Pañcime, upāli, verā. Katame pañca? Pāṇātipāto, adinnādānaṁ, kāmesumicchācāro, musāvādo, surāmerayamajjappamādaṭṭhānaṁ—ime kho, upāli, pañca verā”ti.
“How many kinds of hostility are there?”
“There are five: killing living beings; stealing; sexual misconduct; lying; alcohol, which causes heedlessness.”
448. – Bạch ngài, có bao nhiêu sự hận thù? – Này Upāli, có năm sự hận thù này. Thế nào là năm? Sát sanh, trộm cắp, tà dâm trong các dục, nói dối, và cơ sở của sự dể duôi (là) chất say rượu men rượu bia. Này Upāli, đây là năm sự hận thù.
“Kati nu kho, bhante, veramaṇiyo”ti?
“Pañcimā, upāli, veramaṇiyo. Katamā pañca? Pāṇātipātā veramaṇī, adinnādānā veramaṇī, kāmesumicchācārā veramaṇī, musāvādā veramaṇī, surāmerayamajjappamādaṭṭhānā veramaṇī—imā kho, upāli, pañca veramaṇiyo”ti.
“How many kinds of abstention are there?”
“There are five: abstention from killing living beings; from stealing; from sexual misconduct; from lying; from alcohol, which causes heedlessness.”
– Bạch ngài, có bao nhiêu sự kiêng tránh? – Này Upāli, có năm sự kiêng tránh này. Thế nào là năm? Kiêng tránh sát sanh, kiêng tránh trộm cắp, kiêng tránh tà dâm trong các dục, kiêng tránh nói dối, kiêng tránh cơ sở của sự dể duôi (là) chất say rượu men rượu bia. Này Upāli, đây là năm sự kiêng tránh.
“Kati nu kho, bhante, byasanānī”ti?
“Pañcimāni, upāli, byasanāni. Katamāni pañca? Ñātibyasanaṁ, bhogabyasanaṁ, rogabyasanaṁ, sīlabyasanaṁ, diṭṭhibyasanaṁ—imāni kho, upāli, pañca byasanānī”ti.
“How many kinds of loss are there?”
“There are five: loss of relatives, property, health, morality, and view.”
449. – Bạch ngài, có bao nhiêu sự tổn thất? – Này Upāli, có năm sự tổn thất này. Thế nào là năm? Tổn thất về quyến thuộc, tổn thất về tài sản, tổn thất về bệnh tật, tổn thất về giới hạnh, tổn thất về tri kiến. Này Upāli, đây là năm sự tổn thất.
“Kati nu kho, bhante, sampadā”ti?
“Pañcimā, upāli, sampadā. Katamā pañca? Ñātisampadā, bhogasampadā, ārogyasampadā, sīlasampadā, diṭṭhisampadā—imā kho, upāli, pañca sampadā”ti.
“How many kinds of success are there?”
“There are five: success in relatives, property, health, morality, and view.”
– Bạch ngài, có bao nhiêu sự thành tựu? – Này Upāli, có năm sự thành tựu này. Thế nào là năm? Thành tựu về quyến thuộc, thành tựu về tài sản, thành tựu về sức khỏe, thành tựu về giới hạnh, thành tựu về tri kiến. Này Upāli, đây là năm sự thành tựu.
Musāvādavaggo niṭṭhito sattamo.
Tassuddānaṁ
The seventh subchapter on lying is finished.
This is the summary:
Phẩm Nói Dối, thứ bảy, đã kết thúc.
Musāvādo ca omaddi, aparehi anuyogo; Āpattiñca aparehi, verā veramaṇīpi ca; Byasanaṁ sampadā ceva, sattamo vaggasaṅgahoti.
“And lying, pressed, Other, question; And offense, other, Hostility, and abstention; Loss, and success—The compilation of the seventh subchapter is finished.”
Nói dối và áp đảo, các (pháp) khác và tra hỏi; Phạm tội và các (pháp) khác, hận thù và cả sự kiêng tránh; Tổn thất và cả sự thành tựu, (đây là) sự tập hợp các phẩm thứ bảy.
8. Bhikkhunovādavagga
8. The subchapter on instructing the nuns
8. Phẩm Giáo Giới Tỳ Khưu Ni
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno bhikkhunisaṅgheneva kammaṁ kātabban”ti?
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno bhikkhunisaṅgheneva kammaṁ kātabbaṁ, avandiyo so bhikkhu bhikkhunisaṅghena. Katamehi pañcahi? Vivaritvā kāyaṁ bhikkhunīnaṁ dasseti, ūruṁ dasseti, aṅgajātaṁ dasseti, ubho aṁsakūṭe dasseti, obhāsati, gihī sampayojeti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno bhikkhunisaṅgheneva kammaṁ kātabbaṁ. Avandiyo so bhikkhu bhikkhunisaṅghena.
“Sir, against what sort of monk should the Sangha of nuns do a legal procedure?”
“They should do a legal procedure, prohibiting the Sangha of nuns from paying respect to him, against a monk who has five qualities: (1) he exposes his body to the nuns; (2) he exposes his thighs to the nuns; (3) he exposes his genitals to the nuns; (4) he exposes both shoulders to the nuns; (5) he speaks indecently to the nuns; he associates inappropriately with householders.
450. – Bạch ngài, vị tỳ khưu thành tựu bao nhiêu chi pháp thì nên được chúng tỳ khưu ni thực hiện yết-ma? – Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi pháp thì nên được chúng tỳ khưu ni thực hiện yết-ma, vị tỳ khưu ấy không đáng được chúng tỳ khưu ni đảnh lễ. Thế nào là năm? Vị ấy phô bày thân thể cho các tỳ khưu ni xem, phô bày đùi, phô bày bộ phận sinh dục, phô bày cả hai xương vai, nói lời khiếm nhã, tác hợp người thế tục. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi pháp này thì nên được chúng tỳ khưu ni thực hiện yết-ma. Vị tỳ khưu ấy không đáng được chúng tỳ khưu ni đảnh lễ.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno bhikkhunisaṅgheneva kammaṁ kātabbaṁ, avandiyo so bhikkhu bhikkhunisaṅghena. Katamehi pañcahi? Bhikkhunīnaṁ alābhāya parisakkati, bhikkhunīnaṁ anatthāya parisakkati, bhikkhunīnaṁ avāsāya parisakkati, bhikkhuniyo akkosati paribhāsati, bhikkhū bhikkhunīhi bhedeti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno bhikkhunisaṅgheneva kammaṁ kātabbaṁ, avandiyo so bhikkhu bhikkhunisaṅghena.
They should do the same legal procedure also against a monk who has five other qualities: (1) he’s trying to stop nuns from getting material support; (2) he’s trying to harm nuns; (3) he’s trying to get nuns to lose their place of residence; (4) he abuses and reviles nuns; (5) he causes division between the monks and the nuns.
– Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu thành tựu năm chi pháp khác thì nên được chúng tỳ khưu ni thực hiện yết-ma, vị tỳ khưu ấy không đáng được chúng tỳ khưu ni đảnh lễ. Thế nào là năm? Vị ấy cố gắng để các tỳ khưu ni không được lợi lộc, cố gắng để các tỳ khưu ni bị bất lợi, cố gắng để các tỳ khưu ni không có chỗ ở, mắng nhiếc chửi rủa các tỳ khưu ni, chia rẽ các tỳ khưu với các tỳ khưu ni. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi pháp này thì nên được chúng tỳ khưu ni thực hiện yết-ma, vị tỳ khưu ấy không đáng được chúng tỳ khưu ni đảnh lễ.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno bhikkhunisaṅgheneva kammaṁ kātabbaṁ, avandiyo so bhikkhu bhikkhunisaṅghena. Katamehi pañcahi? Bhikkhunīnaṁ alābhāya parisakkati, bhikkhunīnaṁ anatthāya parisakkati, bhikkhunīnaṁ avāsāya parisakkati, bhikkhuniyo akkosati paribhāsati, bhikkhū bhikkhunīhi sampayojeti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno bhikkhunisaṅgheneva kammaṁ kātabbaṁ, avandiyo so bhikkhu bhikkhunisaṅghenā”ti.
They should do the same legal procedure also against a monk who has five other qualities: (1) he’s trying to stop nuns from getting material support; (2) he’s trying to harm nuns; (3) he’s trying to get nuns to lose their place of residence; (4) he abuses and reviles nuns; (5) he causes the monks to associate inappropriately with the nuns.”
– Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu thành tựu năm chi pháp khác thì nên được chúng tỳ khưu ni thực hiện yết-ma, vị tỳ khưu ấy không đáng được chúng tỳ khưu ni đảnh lễ. Thế nào là năm? Vị ấy cố gắng để các tỳ khưu ni không được lợi lộc, cố gắng để các tỳ khưu ni bị bất lợi, cố gắng để các tỳ khưu ni không có chỗ ở, mắng nhiếc chửi rủa các tỳ khưu ni, tác hợp các tỳ khưu với các tỳ khưu ni. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi pháp này thì nên được chúng tỳ khưu ni thực hiện yết-ma, vị tỳ khưu ấy không đáng được chúng tỳ khưu ni đảnh lễ.
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgatāya bhikkhuniyā kammaṁ kātabban”ti?
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatāya bhikkhuniyā kammaṁ kātabbaṁ. Katamehi pañcahi? Vivaritvā kāyaṁ bhikkhūnaṁ dasseti, ūruṁ dasseti, aṅgajātaṁ dasseti, ubho aṁsakūṭe dasseti, obhāsati, gihī sampayojeti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatāya bhikkhuniyā kammaṁ kātabbaṁ.
“Against what sort of nun should a legal procedure be done?”
“One who has five qualities: (1) she exposes her body to the monks; (2) she exposes her thighs to the monks; (3) she exposes her genitals to the monks; (4) she exposes both shoulders to the monks; (5) she speaks indecently to the monks; she associates inappropriately with householders.
451. – Bạch ngài, vị tỳ khưu ni thành tựu bao nhiêu chi pháp thì nên bị thực hiện yết-ma? – Này Upāli, vị tỳ khưu ni thành tựu năm chi pháp thì nên bị thực hiện yết-ma. Thế nào là năm? Vị ấy phô bày thân thể cho các tỳ khưu xem, phô bày đùi, phô bày bộ phận sinh dục, phô bày cả hai xương vai, nói lời khiếm nhã, tác hợp người thế tục. Này Upāli, vị tỳ khưu ni thành tựu năm chi pháp này thì nên bị thực hiện yết-ma.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatāya bhikkhuniyā kammaṁ kātabbaṁ. Katamehi pañcahi? Bhikkhūnaṁ alābhāya parisakkati, bhikkhūnaṁ anatthāya parisakkati, bhikkhūnaṁ avāsāya parisakkati, bhikkhū akkosati paribhāsati, bhikkhuniyo bhikkhūhi bhedeti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatāya bhikkhuniyā kammaṁ kātabbaṁ.
A legal procedure should be done also against a nun who has five other qualities: (1) she’s trying to stop monks from getting material support; (2) she’s trying to harm monks; (3) she’s trying to get monks to lose their place of residence; (4) she abuses and reviles monks; (5) she causes division between the nuns and the monks.
– Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu ni thành tựu năm chi pháp khác thì nên bị thực hiện yết-ma. Thế nào là năm? Vị ấy cố gắng để các tỳ khưu không được lợi lộc, cố gắng để các tỳ khưu bị bất lợi, cố gắng để các tỳ khưu không có chỗ ở, mắng nhiếc chửi rủa các tỳ khưu, chia rẽ các tỳ khưu ni với các tỳ khưu. Này Upāli, vị tỳ khưu ni thành tựu năm chi pháp này thì nên bị thực hiện yết-ma.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatāya bhikkhuniyā kammaṁ kātabbaṁ. Katamehi pañcahi? Bhikkhūnaṁ alābhāya parisakkati, bhikkhūnaṁ anatthāya parisakkati, bhikkhūnaṁ avāsāya parisakkati, bhikkhū akkosati paribhāsati, bhikkhuniyo bhikkhūhi sampayojeti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatāya bhikkhuniyā kammaṁ kātabban”ti.
A legal procedure should be done also against a nun who has five other qualities: (1) she’s trying to stop monks from getting material support; (2) she’s trying to harm monks; (3) she’s trying to get monks to lose their place of residence; (4) she abuses and reviles monks; (5) she causes the nuns to associate inappropriately with the monks.”
– Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu ni thành tựu năm chi pháp khác thì nên bị thực hiện yết-ma. Thế nào là năm? Vị ấy cố gắng để các tỳ khưu không được lợi lộc, cố gắng để các tỳ khưu bị bất lợi, cố gắng để các tỳ khưu không có chỗ ở, mắng nhiếc chửi rủa các tỳ khưu, tác hợp các tỳ khưu ni với các tỳ khưu. Này Upāli, vị tỳ khưu ni thành tựu năm chi pháp này thì nên bị thực hiện yết-ma.
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā bhikkhunīnaṁ ovādo na ṭhapetabbo”ti?
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā bhikkhunīnaṁ ovādo na ṭhapetabbo. Katamehi pañcahi? Alajjī ca hoti, bālo ca, apakatatto ca, cāvanādhippāyo vattā hoti, no vuṭṭhānādhippāyo—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā bhikkhunīnaṁ ovādo na ṭhapetabbo.
“What sort of monk shouldn’t cancel the nuns’ instruction?”
“One who has five qualities: he’s shameless; he’s ignorant; he’s not a regular monk; he speaks to make someone disrobe, not with the aim of clearing their offenses.
452. – Bạch ngài, vị tỳ khưu thành tựu bao nhiêu chi pháp thì không nên được chỉ định giáo giới các tỳ khưu ni? – Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi pháp thì không nên được chỉ định giáo giới các tỳ khưu ni. Thế nào là năm? Vị ấy không có hổ thẹn, là người ngu dốt, không có tư cách bình thường, là người nói với ý định làm cho (họ) từ bỏ (phạm hạnh), không (nói) với ý định làm cho (họ) ra khỏi (tội). Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi pháp này thì không nên được chỉ định giáo giới các tỳ khưu ni.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā bhikkhunīnaṁ ovādo na ṭhapetabbo. Katamehi pañcahi? Aparisuddhakāyasamācāro hoti, aparisuddhavacīsamācāro hoti, aparisuddhājīvo hoti, bālo hoti, abyatto, na paṭibalo anuyuñjiyamāno anuyogaṁ dātuṁ—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā bhikkhunīnaṁ ovādo na ṭhapetabbo.
A monk who has five other qualities also shouldn’t cancel the nuns’ instruction: he’s impure in bodily conduct; he’s impure in verbal conduct; he’s impure in livelihood; he’s ignorant and incompetent; he’s incapable of answering properly when questioned.
Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp khác nữa không nên được chỉ định để giáo giới các tỳ khưu ni. Năm pháp ấy là gì? (Vị ấy) có thân nghiệp không trong sạch, có khẩu nghiệp không trong sạch, có mạng sống không trong sạch, là người ngu si, không khéo léo, khi bị chất vấn thì không có khả năng trả lời câu hỏi. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này không nên được chỉ định để giáo giới các tỳ khưu ni.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā bhikkhunīnaṁ ovādo na ṭhapetabbo. Katamehi pañcahi? Kāyikena anācārena samannāgato hoti, vācasikena anācārena samannāgato hoti, kāyikavācasikena anācārena samannāgato hoti, bhikkhunīnaṁ akkosakaparibhāsako hoti, bhikkhunīhi saddhiṁ saṁsaṭṭho viharati ananulomikena saṁsaggena—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā bhikkhunīnaṁ ovādo na ṭhapetabbo.
A monk who has five other qualities also shouldn’t cancel the nuns’ instruction: he’s improperly behaved by body; he’s improperly behaved by speech; he’s improperly behaved by body and speech; he abuses and reviles nuns; he socializes improperly with the nuns.
Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp khác nữa không nên được chỉ định để giáo giới các tỳ khưu ni. Năm pháp ấy là gì? (Vị ấy) có hành vi không đúng đắn về thân, có hành vi không đúng đắn về lời nói, có hành vi không đúng đắn về thân và lời nói, là người mắng nhiếc, phỉ báng các tỳ khưu ni, sống chung đụng với các tỳ khưu ni bằng sự giao du không thích hợp. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này không nên được chỉ định để giáo giới các tỳ khưu ni.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā bhikkhunīnaṁ ovādo na ṭhapetabbo. Katamehi pañcahi? Alajjī ca hoti, bālo ca, apakatatto ca, bhaṇḍanakārako ca hoti kalahakārako, sikkhāya ca na paripūrikārī—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā bhikkhunīnaṁ ovādo na ṭhapetabbo”ti.
A monk who has five other qualities also shouldn’t cancel the nuns’ instruction: he’s shameless, ignorant, and not a regular monk, and he’s quarrelsome and argumentative, and he doesn’t fulfill the training.”
Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp khác nữa không nên được chỉ định để giáo giới các tỳ khưu ni. Năm pháp ấy là gì? (Vị ấy) là người không có hổ thẹn, là người ngu si, là người không có tư cách, là người hay gây gổ và là người hay tranh cãi, và là người không thực hành đầy đủ các học giới. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này không nên được chỉ định để giáo giới các tỳ khưu ni.
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā bhikkhunīnaṁ ovādo na gahetabbo”ti?
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā bhikkhunīnaṁ ovādo na gahetabbo. Katamehi pañcahi? Kāyikena anācārena samannāgato hoti, vācasikena anācārena samannāgato hoti, kāyikavācasikena anācārena samannāgato hoti, bhikkhunīnaṁ akkosakaparibhāsako hoti, bhikkhunīhi saddhiṁ saṁsaṭṭho viharati ananulomikena saṁsaggena—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā bhikkhunīnaṁ ovādo na gahetabbo.
“What sort of monk shouldn’t agree to instruct the nuns?”
“One who has five qualities: he’s improperly behaved by body; he’s improperly behaved by speech; he’s improperly behaved by body and speech; he abuses and reviles nuns; he socializes improperly with the nuns.
453. ‘Bạch ngài, vị tỳ khưu thành tựu bao nhiêu pháp thì lời giáo giới của vị ấy đối với các tỳ khưu ni không nên được chấp nhận?’ ‘Này Upāli, lời giáo giới của vị tỳ khưu thành tựu năm pháp không nên được chấp nhận đối với các tỳ khưu ni. Năm pháp ấy là gì? (Vị ấy) có hành vi không đúng đắn về thân, có hành vi không đúng đắn về lời nói, có hành vi không đúng đắn về thân và lời nói, là người mắng nhiếc, phỉ báng các tỳ khưu ni, sống chung đụng với các tỳ khưu ni bằng sự giao du không thích hợp. Này Upāli, lời giáo giới của vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này không nên được chấp nhận đối với các tỳ khưu ni.’
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā bhikkhunīnaṁ ovādo na gahetabbo. Katamehi pañcahi? Alajjī ca hoti, bālo ca, apakatatto ca, gamiko vā hoti, gilāno vā—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā bhikkhunīnaṁ ovādo na gahetabbo”ti.
A monk who has five other qualities also shouldn’t agree to instruct the nuns: he’s shameless, ignorant, and not a regular monk, or he’s about to depart, or he’s sick.”
Này Upāli, lời giáo giới của vị tỳ khưu thành tựu năm pháp khác nữa không nên được chấp nhận đối với các tỳ khưu ni. Năm pháp ấy là gì? (Vị ấy) là người không có hổ thẹn, là người ngu si, là người không có tư cách, hoặc là người đang đi đường, hoặc là người bị bệnh. Này Upāli, lời giáo giới của vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này không nên được chấp nhận đối với các tỳ khưu ni.
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā saddhiṁ na sākacchitabbo”ti?
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā saddhiṁ na sākacchitabbo. Katamehi pañcahi? Na asekkhena sīlakkhandhena samannāgato hoti, na asekkhena samādhikkhandhena samannāgato hoti, na asekkhena paññākkhandhena samannāgato hoti, na asekkhena vimuttikkhandhena samannāgato hoti, na asekkhena vimuttiñāṇadassanakkhandhena samannāgato hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saddhiṁ na sākacchitabbo. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā saddhiṁ sākacchitabbo. Katamehi pañcahi? Asekkhena sīlakkhandhena samannāgato hoti, asekkhena samādhikkhandhena samannāgato hoti, asekkhena paññākkhandhena samannāgato hoti, asekkhena vimuttikkhandhena samannāgato hoti, asekkhena vimuttiñāṇadassanakkhandhena samannāgato hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saddhiṁ sākacchitabbo.
“What sort of monk should one not have a discussion with?”
“One who has five qualities: he doesn’t have the virtue, stillness, wisdom, freedom, or knowledge and vision of freedom of one who’s fully trained. But one may have a discussion with a monk who has five qualities: he has the virtue, stillness, wisdom, freedom, and knowledge and vision of freedom of one who’s fully trained.
454. ‘Bạch ngài, không nên đàm luận với vị tỳ khưu thành tựu bao nhiêu pháp?’ ‘Này Upāli, không nên đàm luận với vị tỳ khưu thành tựu năm pháp. Năm pháp ấy là gì? (Vị ấy) không thành tựu giới uẩn vô học, không thành tựu định uẩn vô học, không thành tựu tuệ uẩn vô học, không thành tựu giải thoát uẩn vô học, không thành tựu giải thoát tri kiến uẩn vô học. Này Upāli, không nên đàm luận với vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này. Này Upāli, nên đàm luận với vị tỳ khưu thành tựu năm pháp. Năm pháp ấy là gì? (Vị ấy) thành tựu giới uẩn vô học, thành tựu định uẩn vô học, thành tựu tuệ uẩn vô học, thành tựu giải thoát uẩn vô học, thành tựu giải thoát tri kiến uẩn vô học. Này Upāli, nên đàm luận với vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này.’
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saddhiṁ na sākacchitabbo. Katamehi pañcahi? Na atthapaṭisambhidāpatto hoti, na dhammapaṭisambhidāpatto hoti, na niruttipaṭisambhidāpatto hoti, na paṭibhānapaṭisambhidāpatto hoti, yathāvimuttaṁ cittaṁ na paccavekkhitā—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saddhiṁ na sākacchitabbo. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā saddhiṁ sākacchitabbo. Katamehi pañcahi? Atthapaṭisambhidāpatto hoti, dhammapaṭisambhidāpatto hoti, niruttipaṭisambhidāpatto hoti, paṭibhānapaṭisambhidāpatto hoti, yathāvimuttaṁ cittaṁ paccavekkhitā—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā saddhiṁ sākacchitabbo”ti.
One also shouldn’t have a discussion with a monk who has five other qualities: he hasn’t achieved the analysis of meaning, the analysis of text, the analysis of terminology, and the analysis of articulation, and he hasn’t reviewed the extent of his mind’s freedom. But one may have a discussion with a monk who has five qualities: he has achieved the analysis of meaning, the analysis of text, the analysis of terminology, and the analysis of articulation, and he reviews the extent of his mind’s freedom.”
Này Upāli, không nên đàm luận với vị tỳ khưu thành tựu năm pháp khác nữa. Năm pháp ấy là gì? (Vị ấy) không chứng đắc nghĩa vô ngại giải, không chứng đắc pháp vô ngại giải, không chứng đắc từ vô ngại giải, không chứng đắc biện tài vô ngại giải, không quán xét tâm đã được giải thoát như thế nào. Này Upāli, không nên đàm luận với vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này. Này Upāli, nên đàm luận với vị tỳ khưu thành tựu năm pháp. Năm pháp ấy là gì? (Vị ấy) chứng đắc nghĩa vô ngại giải, chứng đắc pháp vô ngại giải, chứng đắc từ vô ngại giải, chứng đắc biện tài vô ngại giải, quán xét tâm đã được giải thoát như thế nào. Này Upāli, nên đàm luận với vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này.
Bhikkhunovādavaggo niṭṭhito aṭṭhamo.
Tassuddānaṁ
The eighth subchapter on instructing the nuns is finished.
This is the summary:
Phẩm Giáo Giới Tỳ Khưu Ni, phẩm thứ tám, đã kết thúc.
Bhikkhunīheva kātabbaṁ, aparehi tathā duve; Bhikkhunīnaṁ tayo kammā, na ṭhapetabbā dve dukā; Na gahetabbā dve vuttā, sākacchāsu ca dve dukāti.
“The nuns should do, And another two of the same; Three on legal procedures against nuns, Twice two on shouldn’t cancel; Two were spoken on shouldn’t agree, And twice two on discussions.”
Nhóm năm về nghiệp sự chỉ do Tỳ-khưu-ni thực hiện, và hai nhóm năm tương tự khác; ba nhóm năm về nghiệp sự đối với các Tỳ-khưu-ni, hai nhóm đôi về việc không nên đình chỉ; hai nhóm năm về việc không nên chấp nhận đã được thuyết giảng, và trong các cuộc thảo luận là hai nhóm đôi.
9. Ubbāhikavagga
9. The subchapter on committees
9. Phẩm Ubbāhika
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya na sammannitabbo”ti?
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya na sammannitabbo. Katamehi pañcahi? Na atthakusalo hoti, na dhammakusalo hoti, na niruttikusalo hoti, na byañjanakusalo hoti, na pubbāparakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya na sammannitabbo. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya sammannitabbo. Katamehi pañcahi? Atthakusalo hoti, dhammakusalo hoti, niruttikusalo hoti, byañjanakusalo hoti, pubbāparakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya sammannitabbo.
“What sort of monk shouldn’t be appointed to a committee?”
“One who has five qualities: he’s not skilled in the meaning, the Teaching, the terminology, the wording, or the right order. But a monk who has five qualities may be appointed to a committee: he’s skilled in the meaning, the Teaching, the terminology, the wording, and the right order.
455. “Bạch ngài, vị tỳ khưu hội đủ bao nhiêu chi phần thì không nên được chỉ định bởi ubbāhikā?” “Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì không nên được chỉ định bởi ubbāhikā. Do năm chi phần nào? Không thiện xảo về ý nghĩa, không thiện xảo về Pháp, không thiện xảo về ngữ nguyên, không thiện xảo về văn tự, không thiện xảo về trước sau. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì không nên được chỉ định bởi ubbāhikā. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì nên được chỉ định bởi ubbāhikā. Do năm chi phần nào? Thiện xảo về ý nghĩa, thiện xảo về Pháp, thiện xảo về ngữ nguyên, thiện xảo về văn tự, thiện xảo về trước sau. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì nên được chỉ định bởi ubbāhikā.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya na sammannitabbo. Katamehi pañcahi? Kodhano hoti kodhābhibhūto, makkhī hoti makkhābhibhūto, paḷāsī hoti paḷāsābhibhūto, issukī hoti issābhibhūto, sandiṭṭhiparāmāsī hoti ādhānaggāhī duppaṭinissaggī—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya na sammannitabbo. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya sammannitabbo. Katamehi pañcahi? Na kodhano hoti na kodhābhibhūto, na makkhī hoti na makkhābhibhūto, na paḷāsī hoti na paḷāsābhibhūto, na issukī hoti na issābhibhūto, asandiṭṭhiparāmāsī hoti anādhānaggāhī suppaṭinissaggī—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya sammannitabbo.
A monk who has five other qualities also shouldn’t be appointed to a committee: (1) he’s angry, overcome by anger; (2) he’s denigrating, overcome by denigration; (3) he’s domineering, overcome by being domineering; (4) he’s envious, overcome by envy; (5) he obstinately grasps his own views and only gives them up with difficulty. But a monk who has five qualities may be appointed to a committee: (1) he’s not angry or overcome by anger; (2) he’s not denigrating or overcome by denigration; (3) he’s not domineering or overcome by being domineering; (4) he’s not envious or overcome by envy; (5) he doesn’t obstinately grasp his own views and gives them up with ease.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần khác thì không nên được chỉ định bởi ubbāhikā. Do năm chi phần nào? Là người hay phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục; là người hay gièm pha, bị sự gièm pha chinh phục; là người hay ganh đua, bị sự ganh đua chinh phục; là người hay ganh tỵ, bị sự ganh tỵ chinh phục; là người chấp thủ tà kiến, nắm giữ một cách kiên quyết, khó từ bỏ. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì không nên được chỉ định bởi ubbāhikā. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì nên được chỉ định bởi ubbāhikā. Do năm chi phần nào? Không phải là người hay phẫn nộ, không bị phẫn nộ chinh phục; không phải là người hay gièm pha, không bị sự gièm pha chinh phục; không phải là người hay ganh đua, không bị sự ganh đua chinh phục; không phải là người hay ganh tỵ, không bị sự ganh tỵ chinh phục; là người không chấp thủ tà kiến, không nắm giữ một cách kiên quyết, dễ từ bỏ. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì nên được chỉ định bởi ubbāhikā.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya na sammannitabbo. Katamehi pañcahi? Kuppati, byāpajjati, patiṭṭhiyati, kopaṁ janeti, akkhamo hoti apadakkhiṇaggāhī anusāsaniṁ—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya na sammannitabbo. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya sammannitabbo. Katamehi pañcahi? Na kuppati, na byāpajjati, na patiṭṭhiyati, na kopaṁ janeti, khamo hoti padakkhiṇaggāhī anusāsaniṁ—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya sammannitabbo.
A monk who has five other qualities also shouldn’t be appointed to a committee: he (1) gets agitated, (2) has ill will, (3) becomes hardhearted, (4) gives rise to anger, and (5) is resistant and doesn’t receive instructions respectfully. But a monk who has five qualities may be appointed to a committee: he (1) doesn’t get agitated, (2) doesn’t have ill will, (3) doesn’t become hardhearted, (4) doesn’t give rise to anger, and (5) isn’t resistant but receives instructions respectfully.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần khác thì không nên được chỉ định bởi ubbāhikā. Do năm chi phần nào? Hay tức giận, hay ác ý, hay chống đối, hay sinh ra sự tức giận, không kham nhẫn, không tiếp thu lời giáo huấn một cách đúng đắn. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì không nên được chỉ định bởi ubbāhikā. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì nên được chỉ định bởi ubbāhikā. Do năm chi phần nào? Không tức giận, không ác ý, không chống đối, không sinh ra sự tức giận, kham nhẫn, tiếp thu lời giáo huấn một cách đúng đắn. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì nên được chỉ định bởi ubbāhikā.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya na sammannitabbo. Katamehi pañcahi? Pasāretā hoti no sāretā, anokāsakammaṁ kāretvā pavattā hoti, na yathādhamme yathāvinaye yathāpattiyā codetā hoti, na yathādhamme yathāvinaye yathāpattiyā kāretā hoti, na yathādiṭṭhiyā byākatā hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya na sammannitabbo. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya sammannitabbo. Katamehi pañcahi? Sāretā hoti no pasāretā, okāsakammaṁ kāretvā pavattā hoti, yathādhamme yathāvinaye yathāpattiyā codetā hoti, yathādhamme yathāvinaye yathāpattiyā kāretā hoti, yathādiṭṭhiyā byākatā hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya sammannitabbo.
A monk who has five other qualities also shouldn’t be appointed to a committee: (1) he causes confusion, not recollection; (2) he speaks without having gotten permission; (3) he doesn’t accuse others according to the Teaching, the Monastic Law, or their offense; (4) he doesn’t act according to the Teaching, the Monastic Law, or his offenses; (5) he doesn’t explain things according to his own view. But a monk who has five qualities may be appointed to a committee: (1) he causes recollection, not confusion; (2) he speaks after getting permission; (3) he accuses others according to the Teaching, the Monastic Law, and their offense; (4) he acts according to the Teaching, the Monastic Law, and his offenses; (5) he explains things according to his own view.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần khác thì không nên được chỉ định bởi ubbāhikā. Do năm chi phần nào? Là người làm cho lầm lẫn, không phải là người làm cho nhớ lại; là người nói sau khi đã không tạo cơ hội; không phải là người chất vấn đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo tội trạng; không phải là người làm cho thừa nhận đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo tội trạng; không phải là người giải thích đúng theo tri kiến. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì không nên được chỉ định bởi ubbāhikā. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì nên được chỉ định bởi ubbāhikā. Do năm chi phần nào? Là người làm cho nhớ lại, không phải là người làm cho lầm lẫn; là người nói sau khi đã tạo cơ hội; là người chất vấn đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo tội trạng; là người làm cho thừa nhận đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo tội trạng; là người giải thích đúng theo tri kiến. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì nên được chỉ định bởi ubbāhikā.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya na sammannitabbo. Katamehi pañcahi? Chandāgatiṁ gacchati, dosāgatiṁ gacchati, mohāgatiṁ gacchati, bhayāgatiṁ gacchati, alajjī ca hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya na sammannitabbo. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya sammannitabbo. Katamehi pañcahi? Na chandāgatiṁ gacchati, na dosāgatiṁ gacchati, na mohāgatiṁ gacchati, na bhayāgatiṁ gacchati, lajjī ca hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya sammannitabbo.
A monk who has five other qualities also shouldn’t be appointed to a committee: he’s biased by desire, ill will, confusion, or fear, and he’s shameless. But a monk who has five qualities may be appointed to a committee: he’s not biased by desire, ill will, confusion, or fear, and he has a sense of conscience.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần khác thì không nên được chỉ định bởi ubbāhikā. Do năm chi phần nào? Đi đến thiên vị vì tham muốn, đi đến thiên vị vì sân hận, đi đến thiên vị vì si mê, đi đến thiên vị vì sợ hãi, và là người không có hổ thẹn. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì không nên được chỉ định bởi ubbāhikā. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì nên được chỉ định bởi ubbāhikā. Do năm chi phần nào? Không đi đến thiên vị vì tham muốn, không đi đến thiên vị vì sân hận, không đi đến thiên vị vì si mê, không đi đến thiên vị vì sợ hãi, và là người có hổ thẹn. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì nên được chỉ định bởi ubbāhikā.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya na sammannitabbo. Katamehi pañcahi? Chandāgatiṁ gacchati, dosāgatiṁ gacchati, mohāgatiṁ gacchati, bhayāgatiṁ gacchati, akusalo ca hoti vinaye—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya na sammannitabbo. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya sammannitabbo. Katamehi pañcahi? Na chandāgatiṁ gacchati, na dosāgatiṁ gacchati, na mohāgatiṁ gacchati, na bhayāgatiṁ gacchati, kusalo ca hoti vinaye—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya sammannitabbo”ti.
A monk who has five other qualities also shouldn’t be appointed to a committee: he’s biased by desire, ill will, confusion, or fear, and he’s unskilled in the Monastic Law. But a monk who has five qualities may be appointed to a committee: he’s not biased by desire, ill will, confusion, or fear, and he’s skilled in the Monastic Law.”
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần khác thì không nên được chỉ định bởi ubbāhikā. Do năm chi phần nào? Đi đến thiên vị vì tham muốn, đi đến thiên vị vì sân hận, đi đến thiên vị vì si mê, đi đến thiên vị vì sợ hãi, và không thiện xảo về Luật. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì không nên được chỉ định bởi ubbāhikā. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì nên được chỉ định bởi ubbāhikā. Do năm chi phần nào? Không đi đến thiên vị vì tham muốn, không đi đến thiên vị vì sân hận, không đi đến thiên vị vì si mê, không đi đến thiên vị vì sợ hãi, và thiện xảo về Luật. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì nên được chỉ định bởi ubbāhikā.”
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgato bhikkhu bālotveva saṅkhaṁ gacchatī”ti?
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu bālotveva saṅkhaṁ gacchati. Katamehi pañcahi? Suttaṁ na jānāti, suttānulomaṁ na jānāti, vinayaṁ na jānāti, vinayānulomaṁ na jānāti, na ca ṭhānāṭhānakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu bālotveva saṅkhaṁ gacchati. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu paṇḍitotveva saṅkhaṁ gacchati. Katamehi pañcahi? Suttaṁ jānāti, suttānulomaṁ jānāti, vinayaṁ jānāti, vinayānulomaṁ jānāti, ṭhānāṭhānakusalo ca hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu paṇḍitotveva saṅkhaṁ gacchati.
“What sort of monk is considered ignorant?”
“One who has five qualities: (1) he doesn’t know the Monastic Code; (2) he doesn’t know what’s in accordance with the Monastic Code; (3) he doesn’t know the Monastic Law; (4) he doesn’t know what’s in accordance with the Monastic Law; (5) he’s not skilled in what is and is not possible. But a monk who has five qualities is considered learned: (1) he knows the Monastic Code; (2) he knows what’s in accordance with the Monastic Code; (3) he knows the Monastic Law; (4) he knows what’s in accordance with the Monastic Law; (5) he’s skilled in what is and isn’t possible.
456. – ‘Bạch ngài, vị tỳ khưu hội đủ bao nhiêu chi phần thì được xem là kẻ ngu si?’ – ‘Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì được xem là kẻ ngu si. Năm chi phần nào? Không biết Kinh, không biết điều tương ứng với Kinh, không biết Luật, không biết điều tương ứng với Luật, và không thiện xảo về điều là trường hợp và không phải là trường hợp. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì được xem là kẻ ngu si. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì được xem là người có trí. Năm chi phần nào? Biết Kinh, biết điều tương ứng với Kinh, biết Luật, biết điều tương ứng với Luật, và thiện xảo về điều là trường hợp và không phải là trường hợp. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì được xem là người có trí.’
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu bālotveva saṅkhaṁ gacchati. Katamehi pañcahi? Dhammaṁ na jānāti, dhammānulomaṁ jānāti, vinayaṁ na jānāti, vinayānulomaṁ na jānāti, na ca pubbāparakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu bālotveva saṅkhaṁ gacchati. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu paṇḍitotveva saṅkhaṁ gacchati. Katamehi pañcahi? Dhammaṁ jānāti, dhammānulomaṁ jānāti, vinayaṁ jānāti, vinayānulomaṁ jānāti, pubbāparakusalo ca hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu paṇḍitotveva saṅkhaṁ gacchati.
A monk who has five other qualities is also considered ignorant: (1) he doesn’t know the Teaching; (2) he doesn’t know what’s in accordance with the Teaching; (3) he doesn’t know the Monastic Law; (4) he doesn’t know what’s in accordance with the Monastic Law; (5) he’s not skilled in the right order. But a monk who has five qualities is considered learned: (1) he knows the Teaching; (2) he knows what’s in accordance with the Teaching; (3) he knows the Monastic Law; (4) he knows what’s in accordance with the Monastic Law; (5) he’s skilled in the right order.
‘Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần khác cũng được xem là kẻ ngu si. Năm chi phần nào? Không biết Pháp, không biết điều tương ứng với Pháp, không biết Luật, không biết điều tương ứng với Luật, và không thiện xảo về trước và sau. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì được xem là kẻ ngu si. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì được xem là người có trí. Năm chi phần nào? Biết Pháp, biết điều tương ứng với Pháp, biết Luật, biết điều tương ứng với Luật, và thiện xảo về trước và sau. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì được xem là người có trí.’
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu bālotveva saṅkhaṁ gacchati. Katamehi pañcahi? Vatthuṁ na jānāti, nidānaṁ na jānāti, paññattiṁ na jānāti, padapaccābhaṭṭhaṁ na jānāti, anusandhivacanapathaṁ na jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu bālotveva saṅkhaṁ gacchati. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu paṇḍitotveva saṅkhaṁ gacchati. Katamehi pañcahi? Vatthuṁ jānāti, nidānaṁ jānāti, paññattiṁ jānāti, padapaccābhaṭṭhaṁ jānāti, anusandhivacanapathaṁ jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu paṇḍitotveva saṅkhaṁ gacchati.
A monk who has five other qualities is also considered ignorant: (1) he doesn’t know the actions that are the bases for offenses; (2) he doesn’t know the origin stories; (3) he doesn’t know the rules; (4) he doesn’t know the right order of words; (5) he doesn’t know the sequence of statements. But a monk who has five qualities is considered learned: (1) he knows the actions that are the bases for offenses; (2) he knows the origin stories; (3) he knows the rules; (4) he knows the right order of words; (5) he knows the sequence of statements.
‘Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần khác cũng được xem là kẻ ngu si. Năm chi phần nào? Không biết sự việc, không biết duyên khởi, không biết điều chế định, không biết từ ngữ được đề cập trước, không biết sự liên kết của lời nói. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì được xem là kẻ ngu si. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì được xem là người có trí. Năm chi phần nào? Biết sự việc, biết duyên khởi, biết điều chế định, biết từ ngữ được đề cập trước, biết sự liên kết của lời nói. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì được xem là người có trí.’
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu bālotveva saṅkhaṁ gacchati. Katamehi pañcahi? Āpattiṁ na jānāti, āpattisamuṭṭhānaṁ na jānāti, āpattiyā payogaṁ na jānāti, āpattiyā vūpasamaṁ na jānāti, āpattiyā na vinicchayakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu bālotveva saṅkhaṁ gacchati. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu paṇḍitotveva saṅkhaṁ gacchati. Katamehi pañcahi? Āpattiṁ jānāti, āpattisamuṭṭhānaṁ jānāti, āpattiyā payogaṁ jānāti, āpattiyā vūpasamaṁ jānāti, āpattiyā vinicchayakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu paṇḍitotveva saṅkhaṁ gacchati.
A monk who has five other qualities is also considered ignorant: (1) he doesn’t know the offenses; (2) he doesn’t know the origination of the offenses; (3) he doesn’t know the kind of effort required to commit the offenses; (4) he doesn’t know the settling of offenses; (5) he’s not skilled in deciding on offenses. But a monk who has five qualities is considered learned: (1) he knows the offenses; (2) he knows the origination of the offenses; (3) he knows the kind of effort required to commit the offenses; (4) he knows the settling of offenses; (5) he’s skilled in deciding on offenses.
‘Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần khác cũng được xem là kẻ ngu si. Năm chi phần nào? Không biết tội, không biết sự phát sanh của tội, không biết sự cố gắng (để phạm) tội, không biết sự dập tắt tội, không thiện xảo trong việc phán quyết về tội. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì được xem là kẻ ngu si. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì được xem là người có trí. Năm chi phần nào? Biết tội, biết sự phát sanh của tội, biết sự cố gắng (để phạm) tội, biết sự dập tắt tội, thiện xảo trong việc phán quyết về tội. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì được xem là người có trí.’
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu bālotveva saṅkhaṁ gacchati. Katamehi pañcahi? Adhikaraṇaṁ na jānāti, adhikaraṇasamuṭṭhānaṁ na jānāti, adhikaraṇassa payogaṁ na jānāti, adhikaraṇassa vūpasamaṁ na jānāti, adhikaraṇassa na vinicchayakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu bālotveva saṅkhaṁ gacchati. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu paṇḍitotveva saṅkhaṁ gacchati. Katamehi pañcahi? Adhikaraṇaṁ jānāti, adhikaraṇasamuṭṭhānaṁ jānāti, adhikaraṇassa payogaṁ jānāti, adhikaraṇassa vūpasamaṁ jānāti, adhikaraṇassa vinicchayakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu paṇḍitotveva saṅkhaṁ gacchatī”ti.
A monk who has five other qualities is also considered ignorant: (1) he doesn’t know the legal issues; (2) he doesn’t know the origination of the legal issues; (3) he doesn’t know the kind of effort that’s the source of the legal issues; (4) he doesn’t know the settling of legal issues; (5) he’s not skilled in deciding legal issues. But a monk who has five qualities is considered learned: (1) he knows the legal issues; (2) he knows the origination of the legal issues; (3) he knows the kind of effort that is the source of the legal issues; (4) he knows the settling of legal issues; (5) he’s skilled in deciding legal issues.”
‘Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần khác cũng được xem là kẻ ngu si. Năm chi phần nào? Không biết sự tranh tụng, không biết sự phát sanh của sự tranh tụng, không biết sự cố gắng (liên quan đến) sự tranh tụng, không biết sự dập tắt sự tranh tụng, không thiện xảo trong việc phán quyết về sự tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì được xem là kẻ ngu si. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần thì được xem là người có trí. Năm chi phần nào? Biết sự tranh tụng, biết sự phát sanh của sự tranh tụng, biết sự cố gắng (liên quan đến) sự tranh tụng, biết sự dập tắt sự tranh tụng, thiện xảo trong việc phán quyết về sự tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu hội đủ năm chi phần này thì được xem là người có trí.’
Ubbāhikavaggo niṭṭhito navamo.
Tassuddānaṁ
The ninth subchapter on committees is finished.
This is the summary:
Phẩm Ubbāhika thứ chín đã chấm dứt.
Na atthakusalo ceva, kodhano kuppatī ca yo; Pasāretā chandāgatiṁ, akusalo tatheva ca.
“And not skilled in the meaning, Angry, and one who is agitated; One who confuses, biased by desire, And so unskilled.
Không thiện xảo về ý nghĩa, người hay phẫn nộ, và người hay tức giận; người duỗi tay, thiên vị, và cũng tương tự là không thiện xảo.
Suttaṁ dhammañca vatthuñca, āpatti adhikaraṇaṁ; Dve dve pakāsitā sabbe, kaṇhasukkaṁ vijānathāti.
The Monastic Code, and the Teaching, and the actions that are the bases, Offense, legal issue—All proclaimed in groups of two: You should understand the dark and the bright.”
Kinh, Pháp, và sự việc, tội, sự tranh tụng; tất cả đều được trình bày theo hai phương diện, hãy biết đến phần đen và phần trắng.
10. Adhikaraṇavūpasamavagga
10. The subchapter on the resolving of legal issues
10. Phẩm Dập Tắt Sự Tranh Tụng
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgato bhikkhu nālaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametun”ti?
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu nālaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Katamehi pañcahi? Āpattiṁ na jānāti, āpattisamuṭṭhānaṁ na jānāti, āpattiyā payogaṁ na jānāti, āpattiyā vūpasamaṁ na jānāti, āpattiyā na vinicchayakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu nālaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu alaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Katamehi pañcahi? Āpattiṁ jānāti, āpattisamuṭṭhānaṁ jānāti, āpattiyā payogaṁ jānāti, āpattiyā vūpasamaṁ jānāti, āpattiyā vinicchayakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu alaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ.
“What sort of monk is unqualified to resolve a legal issue?”
“One who has five qualities: (1) he doesn’t know the offenses; (2) he doesn’t know the origination of the offenses; (3) he doesn’t know the kind of effort required to commit the offenses; (4) he doesn’t know the settling of offenses; (5) he’s not skilled in deciding on offenses. But monk who has five qualities is qualified to resolve a legal issue: (1) he knows the offenses; (2) he knows the origination of the offenses; (3) he knows the kind of effort required to commit the offenses; (4) he knows the settling of offenses; (5) he’s skilled in deciding on offenses.
457. “Bạch ngài, vị tỳ khưu thành tựu bao nhiêu chi phần thì không có khả năng dập tắt vụ tranh tụng?” “Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần thì không có khả năng dập tắt vụ tranh tụng. Thế nào là năm? Không biết về tội, không biết về sự phát sanh của tội, không biết về sự nỗ lực của tội, không biết về sự dập tắt của tội, không khéo léo trong việc xét xử về tội. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần này thì không có khả năng dập tắt vụ tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần thì có khả năng dập tắt vụ tranh tụng. Thế nào là năm? Biết về tội, biết về sự phát sanh của tội, biết về sự nỗ lực của tội, biết về sự dập tắt của tội, khéo léo trong việc xét xử về tội. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần này thì có khả năng dập tắt vụ tranh tụng.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu nālaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Katamehi pañcahi? Adhikaraṇaṁ na jānāti, adhikaraṇasamuṭṭhānaṁ na jānāti, adhikaraṇassa payogaṁ na jānāti, adhikaraṇassa vūpasamaṁ na jānāti, adhikaraṇassa na vinicchayakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu nālaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ.
A monk who has five other qualities is also unqualified to resolve a legal issue: (1) he doesn’t know the legal issues; (2) he doesn’t know the origination of the legal issues; (3) he doesn’t know the kind of effort that’s the source of the legal issues; (4) he doesn’t know the settling of legal issues; (5) he’s not skilled in deciding legal issues.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần khác thì không có khả năng dập tắt vụ tranh tụng. Thế nào là năm? Không biết về vụ tranh tụng, không biết về sự phát sanh của vụ tranh tụng, không biết về sự nỗ lực của vụ tranh tụng, không biết về sự dập tắt của vụ tranh tụng, không khéo léo trong việc xét xử về vụ tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần này thì không có khả năng dập tắt vụ tranh tụng.”
Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu alaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Katamehi pañcahi? Adhikaraṇaṁ jānāti, adhikaraṇasamuṭṭhānaṁ jānāti, adhikaraṇassa payogaṁ jānāti, adhikaraṇassa vūpasamaṁ jānāti, adhikaraṇassa vinicchayakusalo hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu alaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ.
But a monk who has five qualities is qualified to resolve a legal issue: (1) he knows the legal issues; (2) he knows the origination of the legal issues; (3) he knows the kind of effort that’s the source of the legal issues; (4) he knows the settling of legal issues; (5) he’s skilled in deciding legal issues.
“Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần thì có khả năng dập tắt vụ tranh tụng. Thế nào là năm? Biết về vụ tranh tụng, biết về sự phát sanh của vụ tranh tụng, biết về sự nỗ lực của vụ tranh tụng, biết về sự dập tắt của vụ tranh tụng, khéo léo trong việc xét xử về vụ tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần này thì có khả năng dập tắt vụ tranh tụng.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu nālaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Katamehi pañcahi? Chandāgatiṁ gacchati, dosāgatiṁ gacchati, mohāgatiṁ gacchati, bhayāgatiṁ gacchati, alajjī ca hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu nālaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu alaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Katamehi pañcahi? Na chandāgatiṁ gacchati, na dosāgatiṁ gacchati, na mohāgatiṁ gacchati, na bhayāgatiṁ gacchati, lajjī ca hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu alaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ.
A monk who has five other qualities is also unqualified to resolve a legal issue: he’s biased by desire, ill will, confusion, or fear, and he’s shameless. But a monk who has five qualities is qualified to resolve a legal issue: he’s not biased by desire, ill will, confusion, or fear, and he has a sense of conscience.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần khác thì không có khả năng dập tắt vụ tranh tụng. Thế nào là năm? Đi vào đường lối sai lạc do thiên vị, đi vào đường lối sai lạc do sân hận, đi vào đường lối sai lạc do si mê, đi vào đường lối sai lạc do sợ hãi, và là người không có tàm. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần này thì không có khả năng dập tắt vụ tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần thì có khả năng dập tắt vụ tranh tụng. Thế nào là năm? Không đi vào đường lối sai lạc do thiên vị, không đi vào đường lối sai lạc do sân hận, không đi vào đường lối sai lạc do si mê, không đi vào đường lối sai lạc do sợ hãi, và là người có tàm. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần này thì có khả năng dập tắt vụ tranh tụng.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu nālaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Katamehi pañcahi? Chandāgatiṁ gacchati, dosāgatiṁ gacchati, mohāgatiṁ gacchati, bhayāgatiṁ gacchati, appassuto ca hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu nālaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu alaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Katamehi pañcahi? Na chandāgatiṁ gacchati, na dosāgatiṁ gacchati, na mohāgatiṁ gacchati, na bhayāgatiṁ gacchati, bahussuto ca hoti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu alaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ.
A monk who has five other qualities is also unqualified to resolve a legal issue: he’s biased by desire, ill will, confusion, or fear, and he’s ignorant. But a monk who has five qualities is qualified to resolve a legal issue: he’s not biased by desire, ill will, confusion, or fear, and he’s learned.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần khác thì không có khả năng dập tắt vụ tranh tụng. Thế nào là năm? Đi vào đường lối sai lạc do thiên vị, đi vào đường lối sai lạc do sân hận, đi vào đường lối sai lạc do si mê, đi vào đường lối sai lạc do sợ hãi, và là người ít học. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần này thì không có khả năng dập tắt vụ tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần thì có khả năng dập tắt vụ tranh tụng. Thế nào là năm? Không đi vào đường lối sai lạc do thiên vị, không đi vào đường lối sai lạc do sân hận, không đi vào đường lối sai lạc do si mê, không đi vào đường lối sai lạc do sợ hãi, và là người học rộng. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần này thì có khả năng dập tắt vụ tranh tụng.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu nālaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Katamehi pañcahi? Vatthuṁ na jānāti, nidānaṁ na jānāti, paññattiṁ na jānāti, padapaccābhaṭṭhaṁ na jānāti, anusandhivacanapathaṁ na jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu nālaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu alaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Katamehi pañcahi? Vatthuṁ jānāti, nidānaṁ jānāti, paññattiṁ jānāti, padapaccābhaṭṭhaṁ jānāti, anusandhivacanapathaṁ jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu alaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ.
A monk who has five other qualities is also unqualified to resolve a legal issue: (1) he doesn’t know the actions that are the bases for offenses; (2) he doesn’t know the origin stories; (3) he doesn’t know the rules; (4) he doesn’t know the right order of words; (5) he doesn’t know the sequence of statements. But a monk who has five qualities is qualified to resolve a legal issue: (1) he knows the actions that are the bases for offenses; (2) he knows the origin stories; (3) he knows the rules; (4) he knows the right order of words; (5) he knows the sequence of statements.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần khác thì không có khả năng dập tắt vụ tranh tụng. Thế nào là năm? Không biết sự việc, không biết duyên khởi, không biết điều chế định, không biết từ ngữ và sự liên quan, không biết sự nối kết và ý nghĩa. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần này thì không có khả năng dập tắt vụ tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần thì có khả năng dập tắt vụ tranh tụng. Thế nào là năm? Biết sự việc, biết duyên khởi, biết điều chế định, biết từ ngữ và sự liên quan, biết sự nối kết và ý nghĩa. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần này thì có khả năng dập tắt vụ tranh tụng.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu nālaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Katamehi pañcahi? Chandāgatiṁ gacchati, dosāgatiṁ gacchati, mohāgatiṁ gacchati, bhayāgatiṁ gacchati, akusalo ca hoti vinaye—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu nālaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu alaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Katamehi pañcahi? Na chandāgatiṁ gacchati, na dosāgatiṁ gacchati, na mohāgatiṁ gacchati, na bhayāgatiṁ gacchati, kusalo ca hoti vinaye—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu alaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ.
A monk who has five other qualities is also unqualified to resolve a legal issue: he’s biased by desire, ill will, confusion, or fear, and he’s unskilled in the Monastic Law. But a monk who has five qualities is qualified to resolve a legal issue: he’s not biased by desire, ill will, confusion, or fear, and he’s skilled in the Monastic Law.
“Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần khác thì không có khả năng dập tắt vụ tranh tụng. Thế nào là năm? Đi vào đường lối sai lạc do thiên vị, đi vào đường lối sai lạc do sân hận, đi vào đường lối sai lạc do si mê, đi vào đường lối sai lạc do sợ hãi, và không khéo léo về Luật. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần này thì không có khả năng dập tắt vụ tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần thì có khả năng dập tắt vụ tranh tụng. Thế nào là năm? Không đi vào đường lối sai lạc do thiên vị, không đi vào đường lối sai lạc do sân hận, không đi vào đường lối sai lạc do si mê, không đi vào đường lối sai lạc do sợ hãi, và khéo léo về Luật. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu năm chi phần này thì có khả năng dập tắt vụ tranh tụng.”
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu nālaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Katamehi pañcahi? Chandāgatiṁ gacchati, dosāgatiṁ gacchati, mohāgatiṁ gacchati, bhayāgatiṁ gacchati, puggalagaru hoti no saṅghagaru—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu nālaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu alaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Katamehi pañcahi? Na chandāgatiṁ gacchati, na dosāgatiṁ gacchati, na mohāgatiṁ gacchati, na bhayāgatiṁ gacchati, saṅghagaru hoti no puggalagaru—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu alaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ.
A monk who has five other qualities is also unqualified to resolve a legal issue: he’s biased by desire, ill will, confusion, or fear, and he respects individuals, not the Sangha. But a monk who has five qualities is qualified to resolve a legal issue: he’s not biased by desire, ill will, confusion, or fear, and he respects the Sangha, not individuals.
Này Upāli, vị tỳ khưu có đủ năm chi phần khác nữa thì không có khả năng dàn xếp tranh tụng. Do năm chi phần nào? Vị ấy đi theo thiên vị, đi theo sân hận, đi theo si mê, đi theo sợ hãi, tôn trọng cá nhân mà không tôn trọng Tăng chúng. Này Upāli, chính do năm chi phần này mà vị tỳ khưu có đủ thì không có khả năng dàn xếp tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu có đủ năm chi phần thì có khả năng dàn xếp tranh tụng. Do năm chi phần nào? Vị ấy không đi theo thiên vị, không đi theo sân hận, không đi theo si mê, không đi theo sợ hãi, tôn trọng Tăng chúng mà không tôn trọng cá nhân. Này Upāli, chính do năm chi phần này mà vị tỳ khưu có đủ thì có khả năng dàn xếp tranh tụng.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu nālaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Katamehi pañcahi? Chandāgatiṁ gacchati, dosāgatiṁ gacchati, mohāgatiṁ gacchati, bhayāgatiṁ gacchati, āmisagaru hoti no saddhammagaru—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu nālaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhikkhu alaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Katamehi pañcahi? Na chandāgatiṁ gacchati, na dosāgatiṁ gacchati, na mohāgatiṁ gacchati, na bhayāgatiṁ gacchati, saddhammagaru hoti no āmisagaru—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu alaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametun”ti.
A monk who has five other qualities is also unqualified to resolve a legal issue: he’s biased by desire, ill will, confusion, or fear; and he values worldly things, not the true Teaching. But a monk who has five qualities is qualified to resolve a legal issue: he’s not biased by desire, ill will, confusion, or fear; and he values the true Teaching, not worldly things.”
Này Upāli, vị tỳ khưu có đủ năm chi phần khác nữa thì không có khả năng dàn xếp tranh tụng. Do năm chi phần nào? Vị ấy đi theo thiên vị, đi theo sân hận, đi theo si mê, đi theo sợ hãi, tôn trọng tài vật mà không tôn trọng Chánh pháp. Này Upāli, chính do năm chi phần này mà vị tỳ khưu có đủ thì không có khả năng dàn xếp tranh tụng. Này Upāli, vị tỳ khưu có đủ năm chi phần thì có khả năng dàn xếp tranh tụng. Do năm chi phần nào? Vị ấy không đi theo thiên vị, không đi theo sân hận, không đi theo si mê, không đi theo sợ hãi, tôn trọng Chánh pháp mà không tôn trọng tài vật. Này Upāli, chính do năm chi phần này mà vị tỳ khưu có đủ thì có khả năng dàn xếp tranh tụng.
“Katihi nu kho, bhante, ākārehi saṅgho bhijjatī”ti?
“Pañcahupāli, ākārehi saṅgho bhijjati. Katamehi pañcahi? Kammena, uddesena, voharanto, anussāvanena, salākaggāhena—imehi kho, upāli, pañcahākārehi saṅgho bhijjatī”ti.
“Sir, in how many ways is there schism in the Sangha?”
“In five ways, Upāli: through a legal procedure, through recitation, through speaking, through a proclamation, and through voting.”
458. Bạch ngài, do bao nhiêu cách thức mà Tăng chúng bị chia rẽ? Này Upāli, do năm cách thức mà Tăng chúng bị chia rẽ. Do năm cách thức nào? Do yết-ma, do việc thuyết giảng, do việc nói, do việc loan truyền, do việc lấy thẻ. Này Upāli, chính do năm cách thức này mà Tăng chúng bị chia rẽ.
“Saṅgharāji saṅgharājīti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, saṅgharāji hoti no ca saṅghabhedo? Kittāvatā ca pana saṅgharāji ceva hoti saṅghabhedo cā”ti?
“Paññattetaṁ, upāli, mayā āgantukānaṁ bhikkhūnaṁ āgantukavattaṁ. Evaṁ supaññatte kho, upāli, mayā sikkhāpade āgantukā bhikkhū āgantukavatte na vattanti. Evampi kho, upāli, saṅgharāji hoti no ca saṅghabhedo.
Paññattetaṁ, upāli, mayā āvāsikānaṁ bhikkhūnaṁ āvāsikavattaṁ. Evaṁ supaññatte kho, upāli, mayā sikkhāpade āvāsikā bhikkhū āvāsikavatte na vattanti. Evampi kho, upāli, saṅgharāji hoti no ca saṅghabhedo.
Paññattetaṁ, upāli, mayā bhikkhūnaṁ bhattagge bhattaggavattaṁ—yathāvuḍḍhaṁ yathārattaṁ yathāpatirūpaṁ aggāsanaṁ aggodakaṁ aggapiṇḍaṁ. Evaṁ supaññatte kho, upāli, mayā sikkhāpade navā bhikkhū bhattagge therānaṁ bhikkhūnaṁ āsanaṁ paṭibāhanti. Evampi kho, upāli, saṅgharāji hoti no ca saṅghabhedo.
Paññattetaṁ, upāli, mayā bhikkhūnaṁ senāsane senāsanavattaṁ—yathāvuḍḍhaṁ yathārattaṁ yathāpatirūpaṁ. Evaṁ supaññatte kho, upāli, mayā sikkhāpade navā bhikkhū therānaṁ bhikkhūnaṁ senāsanaṁ paṭibāhanti. Evampi kho, upāli, saṅgharāji hoti no ca saṅghabhedo.
Paññattetaṁ, upāli, mayā bhikkhūnaṁ antosīmāya ekaṁ uposathaṁ ekaṁ pavāraṇaṁ ekaṁ saṅghakammaṁ ekaṁ kammākammaṁ. Evaṁ supaññatte kho, upāli, mayā sikkhāpade tattheva antosīmāya āvenibhāvaṁ karitvā gaṇaṁ bandhitvā āveniṁ uposathaṁ karonti āveniṁ pavāraṇaṁ karonti āveniṁ saṅghakammaṁ karonti āveniṁ kammākammāni karonti. Evaṁ kho, upāli, saṅgharāji ceva hoti saṅghabhedo cā”ti.
“Sir, we speak of ‘fracture in the Sangha’. But how is there fracture in the Sangha, yet not schism? And how is there both fracture and schism in the Sangha?”
“(1) Upāli, I’ve laid down the proper conduct for newly-arrived monks. Even though I’ve carefully laid down the training rules, the newly-arrived monks don’t practice that proper conduct. In this way, there’s fracture in the Sangha, but not schism.
(2) I’ve laid down the proper conduct for resident monks. Even though I’ve carefully laid down the training rules, the resident monks don’t practice that proper conduct. In this way, there’s fracture in the Sangha, but not schism.
(3) I’ve laid down the proper conduct for monks in the dining hall: the best seat, the best water, and the best almsfood is to be given out according to seniority and according to what’s proper. Even though I’ve carefully laid down the training rules, the junior monks block the senior monks from seats. In this way, there’s fracture in the Sangha, but not schism.
(4) I’ve laid down the proper conduct for the monks in regard to dwellings: they’re to be given out according to seniority and according to what’s proper. Even though I’ve carefully laid down the training rules, the junior monks block the senior monks from dwellings. In this way, there’s fracture in the Sangha, but not schism.
(5) For monks within the same monastery zone, I’ve laid down this: a joint observance-day ceremony; a joint invitation ceremony; joint legal procedures of the Sangha; joint legal procedures of whatever kind. Even though I’ve carefully laid down the training rules, they form a faction, a subgroup, right there within the monastery zone. They then do a separate observance-day ceremony, a separate invitation ceremony, separate legal procedures of the Sangha, or separate legal procedures of whatever kind. In this way, there’s both fracture and schism in the Sangha.”
Bạch ngài, có lời nói rằng: ‘Sự rạn nứt trong Tăng chúng, sự rạn nứt trong Tăng chúng.’ Bạch ngài, cho đến như thế nào là có sự rạn nứt trong Tăng chúng mà không phải là sự chia rẽ Tăng chúng? Và cho đến như thế nào là vừa có sự rạn nứt trong Tăng chúng, vừa có sự chia rẽ Tăng chúng? Này Upāli, Như Lai đã chế định phận sự của tỳ khưu khách đối với các vị tỳ khưu khách. Này Upāli, trong khi học giới đã được Như Lai chế định tốt đẹp như thế, các vị tỳ khưu khách không thực hành phận sự của tỳ khưu khách. Này Upāli, như vậy cũng là có sự rạn nứt trong Tăng chúng mà không phải là sự chia rẽ Tăng chúng. Này Upāli, Như Lai đã chế định phận sự của tỳ khưu trú ngụ đối với các vị tỳ khưu trú ngụ. Này Upāli, trong khi học giới đã được Như Lai chế định tốt đẹp như thế, các vị tỳ khưu trú ngụ không thực hành phận sự của tỳ khưu trú ngụ. Này Upāli, như vậy cũng là có sự rạn nứt trong Tăng chúng mà không phải là sự chia rẽ Tăng chúng. Này Upāli, Như Lai đã chế định phận sự ở nhà ăn đối với các vị tỳ khưu ở nhà ăn – theo hạ lạp, theo số đêm, theo sự thích hợp về chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, vật thực tốt nhất. Này Upāli, trong khi học giới đã được Như Lai chế định tốt đẹp như thế, các vị tỳ khưu mới ở nhà ăn đã ngăn cản chỗ ngồi của các vị tỳ khưu trưởng lão. Này Upāli, như vậy cũng là có sự rạn nứt trong Tăng chúng mà không phải là sự chia rẽ Tăng chúng. Này Upāli, Như Lai đã chế định phận sự ở trú xứ đối với các vị tỳ khưu ở trú xứ – theo hạ lạp, theo số đêm, theo sự thích hợp. Này Upāli, trong khi học giới đã được Như Lai chế định tốt đẹp như thế, các vị tỳ khưu mới đã ngăn cản trú xứ của các vị tỳ khưu trưởng lão. Này Upāli, như vậy cũng là có sự rạn nứt trong Tăng chúng mà không phải là sự chia rẽ Tăng chúng. Này Upāli, Như Lai đã chế định cho các vị tỳ khưu ở bên trong cùng một giới trường về việc cùng một lễ Bố-tát, cùng một lễ Tự tứ, cùng một Tăng sự, cùng một việc làm lớn nhỏ. Này Upāli, trong khi học giới đã được Như Lai chế định tốt đẹp như thế, ở ngay bên trong cùng một giới trường, sau khi tạo ra sự riêng rẽ, sau khi lập thành bè phái, họ thực hiện lễ Bố-tát riêng, thực hiện lễ Tự tứ riêng, thực hiện Tăng sự riêng, thực hiện các việc làm lớn nhỏ riêng. Này Upāli, như vậy là vừa có sự rạn nứt trong Tăng chúng, vừa có sự chia rẽ Tăng chúng.
Adhikaraṇavūpasamavaggo niṭṭhito dasamo.
Tassuddānaṁ
The tenth subchapter on the resolving of legal issues is finished.
This is the summary:
Phẩm Dàn Xếp Tranh Tụng, thứ mười, đã kết thúc.
Āpattiṁ adhikaraṇaṁ, chandā appassutena ca; Vatthuñca akusalo ca, puggalo āmisena ca; Bhijjati saṅgharāji ca, saṅghabhedo tatheva cāti.
“Offenses, legal issues, Desire, and with ignorant; And the actions that are the bases, and unskilled, Individual, and with worldly things; Schism, and fracture in the Sangha, And so too schism in the Sangha.”
Phạm tội, tranh tụng, thiên vị, và ít học; Sự việc, không thiện xảo, cá nhân, và tài vật; Chia rẽ, sự rạn nứt trong Tăng chúng, và sự chia rẽ Tăng chúng cũng tương tự như vậy.
11. Saṅghabhedakavagga
11. The subchapter on schism in the Sangha
11. Phẩm Kẻ Gây Chia Rẽ Tăng Chúng
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgato saṅghabhedako āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho”ti?
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato saṅghabhedako āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho. Katamehi pañcahi? Idhupāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti, avinayaṁ vinayoti dīpeti, vinayaṁ avinayoti dīpeti, vinidhāya diṭṭhiṁ kammena—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho.
“Sir, what sort of monk who has caused a schism in the Sangha is irredeemably destined to an eon in hell?”
“One who has five qualities, Upāli: (1) a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it, (2) what’s in accordance with the Teaching as contrary to it, (3) what’s contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, (4) what’s in accordance with the Monastic Law as contrary to it, and (5) he misrepresents his view of what’s true during the legal procedure.
459. Bạch ngài, do có đủ bao nhiêu chi phần mà kẻ gây chia rẽ Tăng chúng sẽ sanh vào cõi khổ, sẽ sanh vào địa ngục, tồn tại suốt kiếp, không thể cứu chữa? Này Upāli, do có đủ năm chi phần mà kẻ gây chia rẽ Tăng chúng sẽ sanh vào cõi khổ, sẽ sanh vào địa ngục, tồn tại suốt kiếp, không thể cứu chữa. Do năm chi phần nào? Này Upāli, ở đây, vị tỳ khưu giảng phi pháp là Chánh pháp, giảng Chánh pháp là phi pháp, giảng phi luật là Chánh luật, giảng Chánh luật là phi luật, sau khi xác lập tà kiến, bằng yết-ma. Này Upāli, chính do năm chi phần này mà kẻ gây chia rẽ Tăng chúng có đủ thì sẽ sanh vào cõi khổ, sẽ sanh vào địa ngục, tồn tại suốt kiếp, không thể cứu chữa.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho. Katamehi pañcahi? Idhupāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti, avinayaṁ vinayoti dīpeti, vinayaṁ avinayoti dīpeti, vinidhāya diṭṭhiṁ uddesena—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho.
When one who has caused a schism in the Sangha has five other qualities, he’s also irredeemably destined to an eon in hell: (1) a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it, (2) what’s in accordance with the Teaching as contrary to it, (3) what’s contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, (4) what’s in accordance with the Monastic Law as contrary to it, and (5) he misrepresents his view of what’s true during the recitation.
Này Upāli, do có đủ năm chi phần khác nữa mà kẻ gây chia rẽ Tăng chúng sẽ sanh vào cõi khổ, sẽ sanh vào địa ngục, tồn tại suốt kiếp, không thể cứu chữa. Do năm chi phần nào? Này Upāli, ở đây, vị tỳ khưu giảng phi pháp là Chánh pháp, giảng Chánh pháp là phi pháp, giảng phi luật là Chánh luật, giảng Chánh luật là phi luật, sau khi xác lập tà kiến, bằng việc thuyết giảng. Này Upāli, chính do năm chi phần này mà kẻ gây chia rẽ Tăng chúng có đủ thì sẽ sanh vào cõi khổ, sẽ sanh vào địa ngục, tồn tại suốt kiếp, không thể cứu chữa.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho. Katamehi pañcahi? Idhupāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti, avinayaṁ vinayoti dīpeti, vinayaṁ avinayoti dīpeti, vinidhāya diṭṭhi voharanto—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho.
When one who has caused a schism in the Sangha has five other qualities, he’s also irredeemably destined to an eon in hell: (1) a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it, (2) what’s in accordance with the Teaching as contrary to it, (3) what’s contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, (4) what’s in accordance with the Monastic Law as contrary to it, and (5) he misrepresents his view of what’s true while he speaks.
Này Upāli, vị phá hòa Tăng hội đủ năm pháp khác nữa thì bị sanh vào cõi dữ, bị sanh vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được. Thế nào là năm? Này Upāli, ở đây, vị tỳ khưu trình bày điều phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp, trình bày điều phi Luật là Luật, trình bày Luật là phi Luật, và sau khi đã xác lập tri kiến thì nói lên lời nói. Này Upāli, vị phá hòa Tăng hội đủ năm pháp này thì bị sanh vào cõi dữ, bị sanh vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho. Katamehi pañcahi? Idhupāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti, avinayaṁ vinayoti dīpeti, vinayaṁ avinayoti dīpeti, vinidhāya diṭṭhiṁ anussāvanena—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho.
When one who has caused a schism in the Sangha has five other qualities, he’s also irredeemably destined to an eon in hell: (1) a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it, (2) what’s in accordance with the Teaching as contrary to it, (3) what’s contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, (4) what’s in accordance with the Monastic Law as contrary to it, and (5) he misrepresents his view of what’s true during the proclamation.
Này Upāli, vị phá hòa Tăng hội đủ năm pháp khác nữa thì bị sanh vào cõi dữ, bị sanh vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được. Thế nào là năm? Này Upāli, ở đây, vị tỳ khưu trình bày điều phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp, trình bày điều phi Luật là Luật, trình bày Luật là phi Luật, và sau khi đã xác lập tri kiến thì cho loan truyền. Này Upāli, vị phá hòa Tăng hội đủ năm pháp này thì bị sanh vào cõi dữ, bị sanh vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho. Katamehi pañcahi? Idhupāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti, avinayaṁ vinayoti dīpeti, vinayaṁ avinayoti dīpeti, vinidhāya diṭṭhiṁ salākaggāhena—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho.
When one who has caused a schism in the Sangha has five other qualities, he’s also irredeemably destined to an eon in hell: (1) a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it, (2) what’s in accordance with the Teaching as contrary to it, (3) what’s contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, (4) what’s in accordance with the Monastic Law as contrary to it, and (5) he misrepresents his view of what’s true during the voting.
Này Upāli, vị phá hòa Tăng hội đủ năm pháp khác nữa thì bị sanh vào cõi dữ, bị sanh vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được. Thế nào là năm? Này Upāli, ở đây, vị tỳ khưu trình bày điều phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp, trình bày điều phi Luật là Luật, trình bày Luật là phi Luật, và sau khi đã xác lập tri kiến thì cho lấy thẻ biểu quyết. Này Upāli, vị phá hòa Tăng hội đủ năm pháp này thì bị sanh vào cõi dữ, bị sanh vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho. Katamehi pañcahi? Idhupāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti, avinayaṁ vinayoti dīpeti, vinayaṁ avinayoti dīpeti, vinidhāya khantiṁ kammena …pe…
vinidhāya khantiṁ uddesena …pe…
vinidhāya khantiṁ voharanto …pe…
vinidhāya khantiṁ anussāvanena …pe…
vinidhāya khantiṁ salākaggāhena—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho.
When one who has caused a schism in the Sangha has five other qualities, he’s also irredeemably destined to an eon in hell: (1) a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it, (2) what’s in accordance with the Teaching as contrary to it, (3) what’s contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, (4) what’s in accordance with the Monastic Law as contrary to it, and (5) he misrepresents his belief of what’s true during the legal procedure.
… (5) he misrepresents his belief of what’s true during the recitation.
… (5) he misrepresents his belief of what’s true while he speaks.
… (5) he misrepresents his belief of what’s true during the proclamation.
… (5) he misrepresents his belief of what’s true during the voting.
Này Upāli, vị phá hòa Tăng hội đủ năm pháp khác nữa thì bị sanh vào cõi dữ, bị sanh vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được. Thế nào là năm? Này Upāli, ở đây, vị tỳ khưu trình bày điều phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp, trình bày điều phi Luật là Luật, trình bày Luật là phi Luật, và sau khi đã xác lập sự ưa thích thì thực hiện nghiệp sự ... cho đến ... sau khi đã xác lập sự ưa thích thì cho lấy thẻ biểu quyết. Này Upāli, vị phá hòa Tăng hội đủ năm pháp này thì bị sanh vào cõi dữ, bị sanh vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho. Katamehi pañcahi? Idhupāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti avinayaṁ vinayoti dīpeti, vinayaṁ avinayoti dīpeti, vinidhāya ruciṁ kammena …pe…
vinidhāya ruciṁ uddesena …pe…
vinidhāya ruciṁ voharanto …pe…
vinidhāya ruciṁ anussāvanena …pe…
vinidhāya ruciṁ salākaggāhena—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho.
When one who has caused a schism in the Sangha has five other qualities, he’s also irredeemably destined to an eon in hell: (1) a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it, (2) what’s in accordance with the Teaching as contrary to it, (3) what’s contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, (4) what’s in accordance with the Monastic Law as contrary to it, and (5) he misrepresents his acceptance of what’s true during the legal procedure.
… (5) he misrepresents his acceptance of what’s true during the recitation.
… (5) he misrepresents his acceptance of what’s true while he speaks.
… (5) he misrepresents his acceptance of what’s true during the proclamation.
… (5) he misrepresents his acceptance of what’s true during the voting.
Này Upāli, vị phá hòa Tăng hội đủ năm pháp khác nữa thì bị sanh vào cõi dữ, bị sanh vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được. Thế nào là năm? Này Upāli, ở đây, vị tỳ khưu trình bày điều phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp, trình bày điều phi Luật là Luật, trình bày Luật là phi Luật, và sau khi đã xác lập sự hứng thú thì thực hiện nghiệp sự ... cho đến ... sau khi đã xác lập sự hứng thú thì cho lấy thẻ biểu quyết. Này Upāli, vị phá hòa Tăng hội đủ năm pháp này thì bị sanh vào cõi dữ, bị sanh vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho. Katamehi pañcahi? Idhupāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti, avinayaṁ vinayoti dīpeti, vinayaṁ avinayoti dīpeti, vinidhāya saññaṁ kammena …pe…
vinidhāya saññaṁ uddesena …pe…
vinidhāya saññaṁ voharanto …pe…
vinidhāya saññaṁ anussāvanena …pe…
vinidhāya saññaṁ salākaggāhena—
imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho”ti.When one who has caused a schism in the Sangha has five other qualities, he’s also irredeemably destined to an eon in hell: (1) a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it, (2) what’s in accordance with the Teaching as contrary to it, (3) what’s contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, (4) what’s in accordance with the Monastic Law as contrary to it, and (5) he misrepresents his perception of what’s true during the legal procedure.
… (5) he misrepresents his perception of what’s true during the recitation.
… (5) he misrepresents his perception of what’s true while he speaks.
… (5) he misrepresents his perception of what’s true during the proclamation.
… (5) he misrepresents his perception of what’s true during the voting.”
Này Upāli, vị phá hòa Tăng hội đủ năm pháp khác nữa thì bị sanh vào cõi dữ, bị sanh vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được. Thế nào là năm? Này Upāli, ở đây, vị tỳ khưu trình bày điều phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp, trình bày điều phi Luật là Luật, trình bày Luật là phi Luật, và sau khi đã xác lập tưởng thì thực hiện nghiệp sự ... cho đến ... sau khi đã xác lập tưởng thì cho lấy thẻ biểu quyết. Này Upāli, vị phá hòa Tăng hội đủ năm pháp này thì bị sanh vào cõi dữ, bị sanh vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được.
Saṅghabhedakavaggo niṭṭhito ekādasamo.
Tassuddānaṁ
The eleventh subchapter on schism in the Sangha is finished.
This is the summary:
Phẩm Phá Hòa Tăng thứ mười một đã kết thúc.
Vinidhāya diṭṭhiṁ kammena, uddese voharena ca; Anussāvane salākena, pañcete diṭṭhinissitā; Khantiṁ ruciñca saññañca, tayo te pañcadhā nayāti.
“He misrepresents his view during the legal procedure, During the recitation, and while he speaks; During the proclamation, during the voting—These five are dependent on view; Belief, and acceptance, and perception—These three by the fivefold method.”
Sau khi xác lập tri kiến bằng nghiệp sự, bằng việc đề xướng, và bằng lời nói; bằng việc loan truyền, bằng thẻ biểu quyết, năm điều này dựa vào tri kiến; sự ưa thích, sự hứng thú, và tưởng, ba phương thức ấy có năm loại.
12. Dutiyasaṅghabhedakavagga
12. The second subchapter on schism in the Sangha
12. Phẩm Phá Hòa Tăng Thứ Hai
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgato saṅghabhedako na āpāyiko na nerayiko na kappaṭṭho na atekiccho”ti?
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato saṅghabhedako na āpāyiko na nerayiko na kappaṭṭho na atekiccho. Katamehi pañcahi? Idhupāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti, avinayaṁ vinayoti dīpeti, vinayaṁ avinayoti dīpeti, avinidhāya diṭṭhiṁ kammena—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako na āpāyiko na nerayiko na kappaṭṭho na atekiccho.
“Sir, what sort of monk who has caused a schism in the Sangha is redeemable, not destined to an eon in hell?”
“One who has five qualities, Upāli: (1) a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it, (2) what’s in accordance with the Teaching as contrary to it, (3) what’s contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, (4) what’s in accordance with the Monastic Law as contrary to it, but (5) he doesn’t misrepresent his view of what’s true during the legal procedure.
460. – Bạch ngài, vị phá hòa Tăng hội đủ bao nhiêu pháp thì không bị sanh vào cõi dữ, không bị sanh vào địa ngục, không tồn tại suốt một kiếp, và có thể cứu chữa được? – Này Upāli, vị phá hòa Tăng hội đủ năm pháp thì không bị sanh vào cõi dữ, không bị sanh vào địa ngục, không tồn tại suốt một kiếp, và có thể cứu chữa được. Thế nào là năm? Này Upāli, ở đây, vị tỳ khưu trình bày điều phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp, trình bày điều phi Luật là Luật, trình bày Luật là phi Luật, và không xác lập tri kiến mà thực hiện nghiệp sự. Này Upāli, vị phá hòa Tăng hội đủ năm pháp này thì không bị sanh vào cõi dữ, không bị sanh vào địa ngục, không tồn tại suốt một kiếp, và có thể cứu chữa được.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako na āpāyiko na nerayiko na kappaṭṭho na atekiccho. Katamehi pañcahi? Idhupāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti, avinayaṁ vinayoti dīpeti, vinayaṁ avinayoti dīpeti, avinidhāya diṭṭhiṁ uddesena—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako na āpāyiko na nerayiko na kappaṭṭho na atekiccho.
When one who has caused a schism in the Sangha has five other qualities, he’s also redeemable, not destined to an eon in hell: (1) a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it, (2) what’s in accordance with the Teaching as contrary to it, (3) what’s contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, (4) what’s in accordance with the Monastic Law as contrary to it, but (5) he doesn’t misrepresent his view of what’s true during the recitation.
Này Upāli, vị phá hòa Tăng hội đủ năm pháp khác nữa thì không bị sanh vào cõi dữ, không bị sanh vào địa ngục, không tồn tại suốt một kiếp, và có thể cứu chữa được. Thế nào là năm? Này Upāli, ở đây, vị tỳ khưu trình bày điều phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp, trình bày điều phi Luật là Luật, trình bày Luật là phi Luật, và không xác lập tri kiến mà cho đề xướng. Này Upāli, vị phá hòa Tăng hội đủ năm pháp này thì không bị sanh vào cõi dữ, không bị sanh vào địa ngục, không tồn tại suốt một kiếp, và có thể cứu chữa được.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako na āpāyiko na nerayiko na kappaṭṭho na atekiccho. Katamehi pañcahi? Idhupāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti, avinayaṁ vinayoti dīpeti, vinayaṁ avinayoti dīpeti, avinidhāya diṭṭhiṁ voharanto. Imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako na āpāyiko na nerayiko na kappaṭṭho na atekiccho.
When one who has caused a schism in the Sangha has five other qualities, he’s also redeemable, not destined to an eon in hell: (1) a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it, (2) what’s in accordance with the Teaching as contrary to it, (3) what’s contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, (4) what’s in accordance with the Monastic Law as contrary to it, but (5) he doesn’t misrepresent his view of what’s true while he speaks.
Này Upāli, vị tỳ khưu phá hòa hợp Tăng hội đủ năm pháp khác nữa thì không bị sanh vào đọa xứ, không bị sanh vào địa ngục, không tồn tại đến hết kiếp, và có thể sửa chữa được. Do năm pháp nào? Này Upāli, ở đây, vị tỳ khưu trình bày phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp, trình bày phi Luật là Luật, trình bày Luật là phi Luật, và nói lên lời nói trong khi chưa xác lập tri kiến. Này Upāli, chính do năm pháp này, vị tỳ khưu phá hòa hợp Tăng hội đủ năm pháp này thì không bị sanh vào đọa xứ, không bị sanh vào địa ngục, không tồn tại đến hết kiếp, và có thể sửa chữa được.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako na āpāyiko na nerayiko na kappaṭṭho na atekiccho. Katamehi pañcahi? Idhupāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti, avinayaṁ vinayoti dīpeti, vinayaṁ avinayoti dīpeti, avinidhāya diṭṭhiṁ anussāvanena—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako na āpāyiko na nerayiko na kappaṭṭho na atekiccho.
When one who has caused a schism in the Sangha has five other qualities, he’s also redeemable, not destined to an eon in hell: (1) a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it, (2) what’s in accordance with the Teaching as contrary to it, (3) what’s contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, (4) what’s in accordance with the Monastic Law as contrary to it, but (5) he doesn’t misrepresent his view of what’s true during the proclamation.
Này Upāli, vị tỳ khưu phá hòa hợp Tăng hội đủ năm pháp khác nữa thì không bị sanh vào đọa xứ, không bị sanh vào địa ngục, không tồn tại đến hết kiếp, và có thể sửa chữa được. Do năm pháp nào? Này Upāli, ở đây, vị tỳ khưu trình bày phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp, trình bày phi Luật là Luật, trình bày Luật là phi Luật, và (phá Tăng) bằng cách thông báo trong khi chưa xác lập tri kiến. Này Upāli, chính do năm pháp này, vị tỳ khưu phá hòa hợp Tăng hội đủ năm pháp này thì không bị sanh vào đọa xứ, không bị sanh vào địa ngục, không tồn tại đến hết kiếp, và có thể sửa chữa được.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako na āpāyiko na nerayiko na kappaṭṭho na atekiccho. Katamehi pañcahi? Idhupāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti, avinayaṁ vinayoti dīpeti, vinayaṁ avinayoti dīpeti, avinidhāya diṭṭhiṁ salākaggāhena—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako na āpāyiko na nerayiko na kappaṭṭho na atekiccho.
When one who has caused a schism in the Sangha has five other qualities, he’s also redeemable, not destined to an eon in hell: (1) a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it, (2) what’s in accordance with the Teaching as contrary to it, (3) what’s contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, (4) what’s in accordance with the Monastic Law as contrary to it, but (5) he doesn’t misrepresent his view of what’s true during the voting.
Này Upāli, vị tỳ khưu phá hòa hợp Tăng hội đủ năm pháp khác nữa thì không bị sanh vào đọa xứ, không bị sanh vào địa ngục, không tồn tại đến hết kiếp, và có thể sửa chữa được. Do năm pháp nào? Này Upāli, ở đây, vị tỳ khưu trình bày phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp, trình bày phi Luật là Luật, trình bày Luật là phi Luật, và (phá Tăng) bằng cách lấy thẻ biểu quyết trong khi chưa xác lập tri kiến. Này Upāli, chính do năm pháp này, vị tỳ khưu phá hòa hợp Tăng hội đủ năm pháp này thì không bị sanh vào đọa xứ, không bị sanh vào địa ngục, không tồn tại đến hết kiếp, và có thể sửa chữa được.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako na āpāyiko na nerayiko na kappaṭṭho na atekiccho. Katamehi pañcahi? Idhupāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti, avinayaṁ vinayoti dīpeti, vinayaṁ avinayoti dīpeti, avinidhāya khantiṁ kammena …pe…
avinidhāya khantiṁ uddesena …pe…
avinidhāya khantiṁ voharanto …pe…
avinidhāya khantiṁ anussāvanena …pe…
avinidhāya khantiṁ salākaggāhena—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako na āpāyiko na nerayiko na kappaṭṭho na atekiccho.
When one who has caused a schism in the Sangha has five other qualities, he’s also redeemable, not destined to an eon in hell: (1) a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it, (2) what’s in accordance with the Teaching as contrary to it, (3) what’s contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, (4) what’s in accordance with the Monastic Law as contrary to it, but (5) he doesn’t misrepresent his belief of what’s true during the legal procedure.
… (5) he doesn’t misrepresent his belief of what’s true during the recitation.
… (5) he doesn’t misrepresent his belief of what’s true while he speaks.
… (5) he doesn’t misrepresent his belief of what’s true during the proclamation.
… (5) he doesn’t misrepresent his belief of what’s true during the voting.
Này Upāli, vị tỳ khưu phá hòa hợp Tăng hội đủ năm pháp khác nữa thì không bị sanh vào đọa xứ, không bị sanh vào địa ngục, không tồn tại đến hết kiếp, và có thể sửa chữa được. Do năm pháp nào? Này Upāli, ở đây, vị tỳ khưu trình bày phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp, trình bày phi Luật là Luật, trình bày Luật là phi Luật, và (phá Tăng) bằng một hành sự trong khi chưa xác lập sự kham nhẫn... cho đến... bằng cách thông báo trong khi chưa xác lập sự kham nhẫn... cho đến... bằng cách lấy thẻ biểu quyết trong khi chưa xác lập sự kham nhẫn. Này Upāli, chính do năm pháp này, vị tỳ khưu phá hòa hợp Tăng hội đủ năm pháp này thì không bị sanh vào đọa xứ, không bị sanh vào địa ngục, không tồn tại đến hết kiếp, và có thể sửa chữa được.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako na āpāyiko na nerayiko na kappaṭṭho na atekiccho. Katamehi pañcahi? Idhupāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti, avinayaṁ vinayoti dīpeti, vinayaṁ avinayoti dīpeti, avinidhāya ruciṁ kammena …pe…
avinidhāya ruciṁ uddesena …pe…
avinidhāya ruciṁ voharanto …pe…
avinidhāya ruciṁ anussāvanena …pe…
avinidhāya ruciṁ salākaggāhena—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako na āpāyiko na nerayiko na kappaṭṭho na atekiccho.
When one who has caused a schism in the Sangha has five other qualities, he’s also redeemable, not destined to an eon in hell: (1) a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it, (2) what’s in accordance with the Teaching as contrary to it, (3) what’s contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, (4) what’s in accordance with the Monastic Law as contrary to it, but (5) he doesn’t misrepresent his acceptance of what’s true during the legal procedure.
… (5) he doesn’t misrepresent his acceptance of what’s true during the recitation.
… (5) he doesn’t misrepresent his acceptance of what’s true while he speaks.
… (5) he doesn’t misrepresent his acceptance of what’s true during the proclamation.
… (5) he doesn’t misrepresent his acceptance of what’s true during the voting.
Này Upāli, vị tỳ khưu phá hòa hợp Tăng hội đủ năm pháp khác nữa thì không bị sanh vào đọa xứ, không bị sanh vào địa ngục, không tồn tại đến hết kiếp, và có thể sửa chữa được. Do năm pháp nào? Này Upāli, ở đây, vị tỳ khưu trình bày phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp, trình bày phi Luật là Luật, trình bày Luật là phi Luật, và (phá Tăng) bằng một hành sự trong khi chưa xác lập sự ưa thích... cho đến... bằng cách tụng đọc trong khi chưa xác lập sự ưa thích... cho đến... nói lên lời nói trong khi chưa xác lập sự ưa thích... cho đến... bằng cách thông báo trong khi chưa xác lập sự ưa thích... cho đến... bằng cách lấy thẻ biểu quyết trong khi chưa xác lập sự ưa thích. Này Upāli, chính do năm pháp này, vị tỳ khưu phá hòa hợp Tăng hội đủ năm pháp này thì không bị sanh vào đọa xứ, không bị sanh vào địa ngục, không tồn tại đến hết kiếp, và có thể sửa chữa được.
Aparehipi, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako na āpāyiko na nerayiko na kappaṭṭho na atekiccho. Katamehi pañcahi? Idhupāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti, avinayaṁ vinayoti dīpeti, vinayaṁ avinayoti dīpeti, avinidhāya saññaṁ kammena …pe…
avinidhāya saññaṁ uddesena …pe…
avinidhāya saññaṁ voharanto …pe…
avinidhāya saññaṁ anussāvanena …pe…
avinidhāya saññaṁ salākaggāhena—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato saṅghabhedako na āpāyiko na nerayiko na kappaṭṭho na atekiccho”ti.
When one who has caused a schism in the Sangha has five other qualities, he’s also redeemable, not destined to an eon in hell: (1) a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it, (2) what’s in accordance with the Teaching as contrary to it, (3) what’s contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, (4) what’s in accordance with the Monastic Law as contrary to it, but (5) he doesn’t misrepresent his perception of what’s true during the legal procedure.
… (5) he doesn’t misrepresent his perception of what’s true during the recitation.
… (5) he doesn’t misrepresent his perception of what’s true while he speaks.
… (5) he doesn’t misrepresent his perception of what’s true during the proclamation.
… (5) he doesn’t misrepresent his perception of what’s true during the voting.”
Này Upāli, vị tỳ khưu phá hòa hợp Tăng hội đủ năm pháp khác nữa thì không bị sanh vào đọa xứ, không bị sanh vào địa ngục, không tồn tại đến hết kiếp, và có thể sửa chữa được. Do năm pháp nào? Này Upāli, ở đây, vị tỳ khưu trình bày phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp, trình bày phi Luật là Luật, trình bày Luật là phi Luật, và (phá Tăng) bằng một hành sự trong khi chưa xác lập tưởng... cho đến... bằng cách tụng đọc trong khi chưa xác lập tưởng... cho đến... nói lên lời nói trong khi chưa xác lập tưởng... cho đến... bằng cách thông báo trong khi chưa xác lập tưởng... cho đến... bằng cách lấy thẻ biểu quyết trong khi chưa xác lập tưởng. Này Upāli, chính do năm pháp này, vị tỳ khưu phá hòa hợp Tăng hội đủ năm pháp này thì không bị sanh vào đọa xứ, không bị sanh vào địa ngục, không tồn tại đến hết kiếp, và có thể sửa chữa được.
Dutiyasaṅghabhedakavaggo niṭṭhito dvādasamo.
Tassuddānaṁ
The twelfth subchapter, the second on schism in the Sangha, is finished.
This is the summary:
Phẩm Phá Hòa Hợp Tăng Thứ Nhì, phẩm thứ mười hai, đã kết thúc.
Avinidhāya diṭṭhiṁ kammena, Uddese voharena ca; Anussāvane salākena, Pañcete diṭṭhinissitā;
“He does not misrepresent his view during the legal procedure, During the recitation, and while he speaks; During the proclamation, during the voting—These five are dependent on view;
Chưa xác lập tri kiến, bằng hành sự, bằng tụng đọc, và bằng lời nói; bằng thông báo, bằng thẻ biểu quyết, năm trường hợp này dựa vào tri kiến.
Sự kham nhẫn, sự ưa thích, và tưởng; ba phương pháp ấy có năm loại.
Heṭṭhime kaṇhapakkhamhi, samavīsati vidhī yathā; Tatheva sukkapakkhamhi, samavīsati jānathāti.
As these on the dark side, Have twenty ways; So are there twenty on the bright side, You should understand.”
Như có hai mươi phương thức trong hắc phần ở trước, cũng vậy, hãy biết rằng có hai mươi (phương thức) trong bạch phần.
13. Āvāsikavagga
13. The subchapter on resident monks
13. Phẩm Về Vị Trú Xứ
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgato āvāsiko bhikkhu yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye”ti?
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato āvāsiko bhikkhu yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye. Katamehi pañcahi? Chandāgatiṁ gacchati, dosāgatiṁ gacchati, mohāgatiṁ gacchati, bhayāgatiṁ gacchati, saṅghikaṁ puggalikaparibhogena paribhuñjati—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato āvāsiko bhikkhu yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye.
“Sir, what sort of resident monk is dumped in hell?”
“One who has five qualities: he’s biased by desire, ill will, confusion, or fear, and he uses what belongs to the Sangha as if belonging to an individual.
461. ‘Bạch ngài, vị tỳ khưu trú xứ hội đủ bao nhiêu pháp thì bị đặt vào địa ngục giống như được mang đến rồi ném vào?’ ‘Này Upāli, vị tỳ khưu trú xứ hội đủ năm pháp thì bị đặt vào địa ngục giống như được mang đến rồi ném vào. Do năm pháp nào? Đi theo thiên vị vì tham muốn, đi theo thiên vị vì sân hận, đi theo thiên vị vì si mê, đi theo thiên vị vì sợ hãi, và sử dụng vật dụng của Tăng chúng cho sự thụ hưởng cá nhân. Này Upāli, chính do năm pháp này, vị tỳ khưu trú xứ hội đủ năm pháp này thì bị đặt vào địa ngục giống như được mang đến rồi ném vào.’
Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato āvāsiko bhikkhu yathābhataṁ nikkhitto evaṁ sagge. Katamehi pañcahi? Na chandāgatiṁ gacchati, na dosāgatiṁ gacchati, na mohāgatiṁ gacchati, na bhayāgatiṁ gacchati, saṅghikaṁ na puggalikaparibhogena paribhuñjati—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato āvāsiko bhikkhu yathābhataṁ nikkhitto evaṁ sagge”ti.
But a resident monk who has five qualities is deposited in heaven: he’s not biased by desire, ill will, confusion, or fear, and he doesn’t use what belongs to the Sangha as if belonging to an individual.”
‘Này Upāli, vị tỳ khưu trú xứ hội đủ năm pháp thì được đặt vào cõi trời giống như được mang đến rồi đặt vào. Do năm pháp nào? Không đi theo thiên vị vì tham muốn, không đi theo thiên vị vì sân hận, không đi theo thiên vị vì si mê, không đi theo thiên vị vì sợ hãi, và không sử dụng vật dụng của Tăng chúng cho sự thụ hưởng cá nhân. Này Upāli, chính do năm pháp này, vị tỳ khưu trú xứ hội đủ năm pháp này thì được đặt vào cõi trời giống như được mang đến rồi đặt vào.’
“Kati nu kho, bhante, adhammikā vinayabyākaraṇā”ti?
“Pañcime, upāli, adhammikā vinayabyākaraṇā. Katame pañca? Idhupāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti pariṇāmeti, dhammaṁ adhammoti pariṇāmeti, avinayaṁ vinayoti pariṇāmeti, vinayaṁ avinayoti pariṇāmeti, apaññattaṁ paññāpeti, paññattaṁ samucchindati—ime kho, upāli, pañca adhammikā vinayabyākaraṇā. Pañcime, upāli, dhammikā vinayabyākaraṇā. Katame pañca? Idhupāli, bhikkhu adhammaṁ adhammoti pariṇāmeti, dhammaṁ dhammoti pariṇāmeti, avinayaṁ avinayoti pariṇāmeti, vinayaṁ vinayoti pariṇāmeti, apaññattaṁ na paññapeti, paññattaṁ na samucchindati—ime kho, upāli, pañca dhammikā vinayabyākaraṇā”ti.
“How many illegitimate explanations of the Monastic Law are there?”
“There are five: (1) a monk develops what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it, (2) what’s in accordance with the Teaching as contrary to it, (3) what’s contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, (4) what’s in accordance with the Monastic Law as contrary to it, and (5) he lays down new rules and gets rid of the existing ones. And there are five legitimate explanations of the Monastic Law: (1) a monk develops what’s contrary to the Teaching to what’s contrary to the Teaching, (2) what’s in accordance with the Teaching to what’s in accordance with the Teaching, (3) what’s contrary to the Monastic Law to what’s contrary to the Monastic Law, (4) what’s in accordance with the Monastic Law to what’s in accordance with the Monastic Law, and (5) he doesn’t lay down new rules or get rid of the existing ones.”
462. “Bạch ngài, có bao nhiêu sự giải thích về Luật là phi pháp?” “Này Upāli, có năm sự giải thích về Luật là phi pháp này. Thế nào là năm? Này Upāli, ở đây, vị tỳ khưu làm cho người khác tin điều phi pháp là pháp, làm cho người khác tin pháp là điều phi pháp, làm cho người khác tin điều phi luật là luật, làm cho người khác tin luật là điều phi luật, chế định điều chưa được chế định, hủy bỏ điều đã được chế định. Này Upāli, đây là năm sự giải thích về Luật là phi pháp. Này Upāli, có năm sự giải thích về Luật là đúng pháp này. Thế nào là năm? Này Upāli, ở đây, vị tỳ khưu làm cho người khác tin điều phi pháp là phi pháp, làm cho người khác tin pháp là pháp, làm cho người khác tin điều phi luật là phi luật, làm cho người khác tin luật là luật, không chế định điều chưa được chế định, không hủy bỏ điều đã được chế định. Này Upāli, đây là năm sự giải thích về Luật là đúng pháp.”
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgato bhattuddesako yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye”ti?
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhattuddesako yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye. Katamehi pañcahi? Chandāgatiṁ gacchati, dosāgatiṁ gacchati, mohāgatiṁ gacchati, bhayāgatiṁ gacchati, uddiṭṭhānuddiṭṭhaṁ na jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhattuddesako yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye.
“What sort of designator of meals is dumped in hell?”
“One who has five qualities: he’s biased by favoritism, ill will, confusion, or fear, and he doesn’t know what has and hasn’t been designated.
463. “Bạch ngài, vị tỳ khưu chỉ định vật thực hội đủ bao nhiêu chi phần thì bị đặt vào địa ngục giống như được mang đến rồi đặt xuống?” “Này Upāli, vị tỳ khưu chỉ định vật thực hội đủ năm chi phần thì bị đặt vào địa ngục giống như được mang đến rồi đặt xuống. Thế nào là năm? Đi đến thiên vị, đi đến sân hận, đi đến si mê, đi đến sợ hãi, không biết việc đã chỉ định và chưa chỉ định. Này Upāli, vị tỳ khưu chỉ định vật thực hội đủ năm chi phần này thì bị đặt vào địa ngục giống như được mang đến rồi đặt xuống.”
Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato bhattuddesako yathābhataṁ nikkhitto evaṁ sagge. Katamehi pañcahi? Na chandāgatiṁ gacchati, na dosāgatiṁ gacchati, na mohāgatiṁ gacchati, na bhayāgatiṁ gacchati, uddiṭṭhānuddiṭṭhaṁ jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato bhattuddesako yathābhataṁ nikkhitto evaṁ sagge”ti.
But a designator of meals who has five qualities is deposited in heaven: he’s not biased by favoritism, ill will, confusion, or fear, and he knows what has and hasn’t been designated.”
“Này Upāli, vị tỳ khưu chỉ định vật thực hội đủ năm chi phần thì được đặt vào cõi trời giống như được mang đến rồi đặt xuống. Thế nào là năm? Không đi đến thiên vị, không đi đến sân hận, không đi đến si mê, không đi đến sợ hãi, biết việc đã chỉ định và chưa chỉ định. Này Upāli, vị tỳ khưu chỉ định vật thực hội đủ năm chi phần này thì được đặt vào cõi trời giống như được mang đến rồi đặt xuống.”
“Katihi nu kho, bhante, aṅgehi samannāgato senāsanapaññāpako …pe… bhaṇḍāgāriko …pe… cīvarapaṭiggāhako …pe… cīvarabhājako …pe… yāgubhājako …pe… phalabhājako …pe… khajjabhājako …pe… appamattakavissajjako …pe… sāṭiyaggāhāpako …pe… pattaggāhāpako …pe… ārāmikapesako …pe… sāmaṇerapesako yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye”ti?
“Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato sāmaṇerapesako yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye. Katamehi pañcahi? Chandāgatiṁ gacchati, dosāgatiṁ gacchati, mohāgatiṁ gacchati, bhayāgatiṁ gacchati, pesitāpesitaṁ na jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato sāmaṇerapesako yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye. Pañcahupāli, aṅgehi samannāgato sāmaṇerapesako yathābhataṁ nikkhitto evaṁ sagge. Katamehi pañcahi? Na chandāgatiṁ gacchati, na dosāgatiṁ gacchati, na mohāgatiṁ gacchati, na bhayāgatiṁ gacchati, pesitāpesitaṁ jānāti—imehi kho, upāli, pañcahaṅgehi samannāgato sāmaṇerapesako yathābhataṁ nikkhitto evaṁ sagge”ti.
“What sort of assigner of dwellings … storeman … receiver of robe-cloth … distributor of robe-cloth … distributor of congee … distributor of fruit … distributor of fresh foods … distributor of minor requisites … distributor of rainy-season bathing cloths … distributor of almsbowls … supervisor of monastery workers … supervisor of novice monks is dumped in hell?”
“One who has five qualities: he’s biased by favoritism, ill will, confusion, or fear, and he doesn’t know who is and is not supervised. But a supervisor of novice monks who has five qualities is deposited in heaven: he’s not biased by favoritism, ill will, confusion, or fear, and he knows who is and is not supervised.”
464. “Bạch ngài, vị tỳ khưu sắp xếp chỗ ở hội đủ bao nhiêu chi phần ... cho đến ... vị tỳ khưu giữ kho ... cho đến ... vị tỳ khưu nhận y ... cho đến ... vị tỳ khưu phân chia y ... cho đến ... vị tỳ khưu phân chia cháo ... cho đến ... vị tỳ khưu phân chia trái cây ... cho đến ... vị tỳ khưu phân chia vật cứng ... cho đến ... vị tỳ khưu phân phát vật nhỏ ... cho đến ... vị tỳ khưu cho nhận vải ... cho đến ... vị tỳ khưu cho nhận bình bát ... cho đến ... vị tỳ khưu sai phái người coi vườn ... cho đến ... vị tỳ khưu sai phái sa-di hội đủ bao nhiêu chi phần thì bị đặt vào địa ngục giống như được mang đến rồi đặt xuống?” “Này Upāli, vị tỳ khưu sai phái sa-di hội đủ năm chi phần thì bị đặt vào địa ngục giống như được mang đến rồi đặt xuống. Thế nào là năm? Đi đến thiên vị, đi đến sân hận, đi đến si mê, đi đến sợ hãi, không biết việc đã sai phái và chưa sai phái. Này Upāli, vị tỳ khưu sai phái sa-di hội đủ năm chi phần này thì bị đặt vào địa ngục giống như được mang đến rồi đặt xuống. Này Upāli, vị tỳ khưu sai phái sa-di hội đủ năm chi phần thì được đặt vào cõi trời giống như được mang đến rồi đặt xuống. Thế nào là năm? Không đi đến thiên vị, không đi đến sân hận, không đi đến si mê, không đi đến sợ hãi, biết việc đã sai phái và chưa sai phái. Này Upāli, vị tỳ khưu sai phái sa-di hội đủ năm chi phần này thì được đặt vào cõi trời giống như được mang đến rồi đặt xuống.”
Āvāsikavaggo niṭṭhito terasamo.
Tassuddānaṁ
The thirteenth subchapter on resident monks is finished.
This is the summary:
Phẩm Āvāsika thứ mười ba đã kết thúc.
Āvāsikabyākaraṇā, bhattusenāsanāni ca; Bhaṇḍacīvaraggāho ca, cīvarassa ca bhājako.
“Resident, explanations, Designator of meals, and dwellings; Storeman, and receiver of robe-cloth, And distributor of robe-cloth.
Vị trú ngụ, sự giải thích, vật thực và chỗ ở; người giữ kho, người nhận y, và người phân chia y.
Yāgu phalaṁ khajjakañca, appasāṭiyagāhako; Patto ārāmiko ceva, sāmaṇerena pesakoti.
Congee, fruit, and fresh foods, Minor requisites, distributor of rainy-season bathing cloths; Bowl, and monastery worker, Supervisor of novice monks.”
Cháo, trái cây, và vật cứng; vật nhỏ, người nhận vải; bình bát, người coi vườn, và người sai phái sa-di.
14. Kathinatthāravagga
14. The subchapter on the robe-making ceremony
14. Phẩm Thọ Y Kathina
“Kati nu kho, bhante, ānisaṁsā kathinatthāre”ti?
“Pañcime, upāli, ānisaṁsā kathinatthāre. Katame pañca? Anāmantacāro, asamādānacāro, gaṇabhojanaṁ, yāvadatthacīvaraṁ, yo ca tattha cīvaruppādo so nesaṁ bhavissati—ime kho, upāli, pañca ānisaṁsā kathinatthāre”ti.
“Sir, how many benefits are there in participating in the robe-making ceremony?”
“There are five benefits, Upāli: (1) going without informing; (2) going without taking; (3) eating in a group; (4) as much extra robe-cloth as you need; and (5) whatever robe-cloth is given there is for you.”
465. “Bạch ngài, có bao nhiêu quả báu trong việc thọ y kathina?” “Này Upāli, có năm quả báu này trong việc thọ y kathina. Thế nào là năm? Đi lại không cần xin phép, đi lại không cần mang đủ y, được phép ăn theo nhóm, được phép giữ y dư, và y nào phát sanh ở nơi ấy sẽ thuộc về các vị ấy. Này Upāli, đây là năm quả báu trong việc thọ y kathina.”
“Kati nu kho, bhante, ādīnavā muṭṭhassatissa asampajānassa niddaṁ okkamato”ti?
“Pañcime, upāli, ādīnavā muṭṭhassatissa asampajānassa niddaṁ okkamato. Katame pañca? Dukkhaṁ supati, dukkhaṁ paṭibujjhati, pāpakaṁ supinaṁ passati, devatā na rakkhanti, asuci muccati—ime kho, upāli, pañca ādīnavā muṭṭhassatissa asampajānassa niddaṁ okkamato.
Pañcime, upāli, ānisaṁsā upaṭṭhitassatissa sampajānassa niddaṁ okkamato. Katame pañca? Sukhaṁ supati, sukhaṁ paṭibujjhati, na pāpakaṁ supinaṁ passati, devatā rakkhanti, asuci na muccati—ime kho, upāli, pañca ānisaṁsā upaṭṭhitassatissa sampajānassa niddaṁ okkamato”ti.
“How many drawbacks are there in falling asleep absentminded and heedless?”
“There are these five drawbacks: you don’t sleep well; you wake up feeling miserable; you have nightmares; the gods don’t guard you; you emit semen.
But there are five benefits in falling asleep mindfully, with clear awareness: you sleep well; you wake up feeling good; you don’t have nightmares; the gods guard you; you don’t emit semen.”
466. “Bạch ngài, có bao nhiêu điều nguy hại cho người đi vào giấc ngủ thất niệm, không tỉnh giác?” “Này Upāli, có năm điều nguy hại này cho người đi vào giấc ngủ thất niệm, không tỉnh giác. Thế nào là năm? Ngủ không an, thức dậy mệt mỏi, thấy ác mộng, chư thiên không hộ trì, bị xuất tinh. Này Upāli, đây là năm điều nguy hại cho người đi vào giấc ngủ thất niệm, không tỉnh giác. Này Upāli, có năm quả báu này cho người đi vào giấc ngủ có chánh niệm, có tỉnh giác. Thế nào là năm? Ngủ an lạc, thức dậy an lạc, không thấy ác mộng, chư thiên hộ trì, không bị xuất tinh. Này Upāli, đây là năm quả báu cho người đi vào giấc ngủ có chánh niệm, có tỉnh giác.”
“Kati nu kho, bhante, avandiyā”ti?
“Pañcime, upāli, avandiyā. Katame pañca? Antaragharaṁ paviṭṭho avandiyo, racchagato avandiyo, otamasiko avandiyo, asamannāharanto avandiyo, sutto avandiyo—ime kho, upāli, pañca avandiyā.
“How many kinds of people should one not pay respect to?”
“These five: one who has entered an inhabited area; one who’s walking along a street; one who’s in the dark; one who’s not paying attention; one who’s asleep.
467. “Bạch ngài, có bao nhiêu hạng người không nên đảnh lễ?” “Này Upāli, có năm hạng người không nên đảnh lễ này. Thế nào là năm? Người đã đi vào trong làng thì không nên đảnh lễ, người đang đi trên đường thì không nên đảnh lễ, người đang ở trong bóng tối thì không nên đảnh lễ, người không chú tâm thì không nên đảnh lễ, người đang ngủ thì không nên đảnh lễ. Này Upāli, đây là năm hạng người không nên đảnh lễ.”
Aparepi, upāli, pañca avandiyā. Katame pañca? Yāgupāne avandiyo, bhattagge avandiyo, ekāvatto avandiyo, aññavihito avandiyo, naggo avandiyo—ime kho, upāli, pañca avandiyā.
There are five other kinds of people you also shouldn’t pay respect to: one who’s drinking congee; one who’s in the dining hall; one who has turned away; one who’s preoccupied with something else; one who’s naked.
“Này Upāli, lại nữa, có năm hạng người khác không nên đảnh lễ. Thế nào là năm? Người đang uống cháo thì không nên đảnh lễ, người đang ở trong nhà ăn thì không nên đảnh lễ, người đứng về phía đối nghịch thì không nên đảnh lễ, người đang bận tâm việc khác thì không nên đảnh lễ, người đang lõa thể thì không nên đảnh lễ. Này Upāli, đây là năm hạng người không nên đảnh lễ.”
Aparepi, upāli, pañca avandiyā. Katame pañca? Khādanto avandiyo, bhuñjanto avandiyo, uccāraṁ karonto avandiyo, passāvaṁ karonto avandiyo, ukkhittako avandiyo—ime kho, upāli, pañca avandiyā.
There are five other kinds of people you also shouldn’t pay respect to: one who’s eating fresh food; one who’s eating cooked food; one who’s defecating; one who’s urinating; one who has been ejected.
“Này Upāli, lại nữa, có năm hạng người khác không nên đảnh lễ. Thế nào là năm? Người đang ăn vật cứng thì không nên đảnh lễ, người đang ăn vật mềm thì không nên đảnh lễ, người đang đại tiện thì không nên đảnh lễ, người đang tiểu tiện thì không nên đảnh lễ, vị tỳ khưu bị cử tội thì không nên đảnh lễ. Này Upāli, đây là năm hạng người không nên đảnh lễ.”
Aparepi, upāli, pañca avandiyā. Katame pañca? Pure upasampannena pacchā upasampanno avandiyo, anupasampanno avandiyo, nānāsaṁvāsako vuḍḍhataro adhammavādī avandiyo, mātugāmo avandiyo, paṇḍako avandiyo—ime kho, upāli, pañca avandiyā.
There are five other kinds of people you also shouldn’t pay respect to: (1) one who has been given the full ordination after you; (2) one who isn’t fully ordained; (3) one who belongs to a different Buddhist sect who’s senior to you, but who speaks contrary to the Teaching; (4) a woman; (5) a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>.
Này Upāli, lại nữa, có năm hạng người không đáng được đảnh lễ. Năm hạng nào? Vị đã thọ cụ túc trước không nên đảnh lễ vị thọ cụ túc sau, không nên đảnh lễ người chưa thọ cụ túc, không nên đảnh lễ vị trưởng lão sống riêng biệt và nói phi pháp, không nên đảnh lễ người nữ, không nên đảnh lễ người ái nam ái nữ – này Upāli, đây chính là năm hạng người không đáng được đảnh lễ.
Aparepi, upāli, pañca avandiyā. Katame pañca? Pārivāsiko avandiyo, mūlāyapaṭikassanāraho avandiyo, mānattāraho avandiyo, mānattacāriko avandiyo, abbhānāraho avandiyo—ime kho, upāli, pañca avandiyā”ti.
There are five other kinds of people you also shouldn’t pay respect to: (1) one who’s on probation; (2) one who deserves to be sent back to the beginning; (3) one who deserves the trial period; (4) one who’s undertaking the trial period; (5) one who deserves rehabilitation.”
Này Upāli, lại nữa, có năm hạng người không đáng được đảnh lễ. Năm hạng nào? Không nên đảnh lễ người đang thọ biệt trú, không nên đảnh lễ người đáng bị kéo về gốc, không nên đảnh lễ người đáng thọ mānatta, không nên đảnh lễ người đang thực hành mānatta, không nên đảnh lễ người đáng được giải tội – này Upāli, đây chính là năm hạng người không đáng được đảnh lễ.
“Kati nu kho, bhante, vandiyā”ti?
“Pañcime, upāli, vandiyā. Katame pañca? Pacchā upasampannena pure upasampanno vandiyo, nānāsaṁvāsako vuḍḍhataro dhammavādī vandiyo, ācariyo vandiyo, upajjhāyo vandiyo, sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya tathāgato arahaṁ sammāsambuddho vandiyo—ime kho, upāli, pañca vandiyā”ti.
“But how many kinds of people should one pay respect to?”
“These five: (1) one who has been given the full ordination before you; (2) one who belongs to a different Buddhist sect who’s senior to you and who speaks in accordance with the Teaching; (3) your teacher; (4) your preceptor; and (5) in this world with its gods, lords of death, and supreme beings, in this society with its monastics and brahmins, its gods and humans, you should pay respect to the Buddha, perfected and fully awakened.”
468. ‘Bạch ngài, có bao nhiêu hạng người đáng được đảnh lễ?’ ‘Này Upāli, có năm hạng người này đáng được đảnh lễ. Năm hạng nào? Vị thọ cụ túc sau nên đảnh lễ vị thọ cụ túc trước, nên đảnh lễ vị trưởng lão sống riêng biệt và nói đúng pháp, nên đảnh lễ vị thầy A-xà-lê, nên đảnh lễ vị thầy Hòa thượng, nên đảnh lễ đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong thế gian cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, trong chúng sanh cùng với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với chư Thiên và loài người – này Upāli, đây chính là năm hạng người đáng được đảnh lễ.’
“Navakatarena, bhante, bhikkhunā vuḍḍhatarassa bhikkhuno pāde vandantena kati dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā pādā vanditabbā”ti?
“Navakatarenupāli, bhikkhunā vuḍḍhatarassa bhikkhuno pāde vandantena pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā pādā vanditabbā. Katame pañca? Navakatarenupāli, bhikkhunā vuḍḍhatarassa bhikkhuno pāde vandantena ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā, añjaliṁ paggahetvā, ubhohi pāṇitalehi pādāni parisambāhantena, pemañca gāravañca upaṭṭhāpetvā pādā vanditabbā—navakatarenupāli bhikkhunā vuḍḍhatarassa bhikkhuno pāde vandantena ime pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā pādā vanditabbā”ti.
“Sir, when a monk is paying respect to a more senior monk, how many qualities should he first set up in himself?”
“He should set up five qualities in himself: (1) he should arrange his upper robe over one shoulder; (2) he should raise his joined palms; (3) he should stroke the feet with the palms of both hands; (4) he should set up a sense of affection; (5) he should set up a sense of respect.”
469. ‘Bạch ngài, vị tỳ khưu trẻ tuổi khi đảnh lễ chân của vị tỳ khưu trưởng lão nên an lập bao nhiêu pháp trong nội tâm rồi mới đảnh lễ chân?’ ‘Này Upāli, vị tỳ khưu trẻ tuổi khi đảnh lễ chân của vị tỳ khưu trưởng lão nên an lập năm pháp trong nội tâm rồi mới đảnh lễ chân. Năm pháp nào? Này Upāli, vị tỳ khưu trẻ tuổi khi đảnh lễ chân của vị tỳ khưu trưởng lão nên vắt thượng y qua một bên vai, chắp tay, xoa bóp chân bằng cả hai lòng bàn tay, và an lập lòng thương mến cùng sự kính trọng rồi mới đảnh lễ chân – này Upāli, vị tỳ khưu trẻ tuổi khi đảnh lễ chân của vị tỳ khưu trưởng lão nên an lập năm pháp này trong nội tâm rồi mới đảnh lễ chân.’
Kathinatthāravaggo niṭṭhito cuddasamo.
Tassuddānaṁ
The fourteenth subchapter on the robe-making ceremony is finished.
This is the summary:
Phẩm Trải Y Kaṭhina, thứ mười bốn, đã kết thúc.
Kathinatthāraniddā ca, antarā yāgukhādane; Pure ca pārivāsi ca, vandiyo vanditabbakanti.
“The robe-making ceremony, and asleep, Inhabited, congee, when eating fresh food; And before, and one on probation, Should pay respect to, to be paid respect.”
Việc trải y kaṭhina và giấc ngủ, ở giữa là cháo và vật thực cứng; người thọ cụ túc trước và người thọ biệt trú, người đáng đảnh lễ và việc nên đảnh lễ.
Upālipañcakaṁ niṭṭhitaṁ.
Ven. Upāli questions the Buddha is finished.
Phần Năm Pháp của Upāli đã kết thúc.
Tesaṁ vaggānaṁ uddānaṁ
This is the summary of these subchapters:
Phần tóm lược của các phẩm ấy
Anissitena kammañca, vohārāvikammena ca; Codanā ca dhutaṅgā ca, musā bhikkhunimeva ca.
“Without formal support, and legal procedure, Speech, and with revealing; And accusing, and ascetic practices, Lying, and nun.
Không nương tựa và các hành vi, cách xử sự và việc làm cho hiển lộ; sự khiển trách và các hạnh đầu-đà, lời nói dối và cả các tỳ khưu ni.
Ubbāhikādhikaraṇaṁ, bhedakā pañcamā pure; Āvāsikā kathinañca, cuddasā suppakāsitāti.
Committee, legal issue, Schism, the fifth before; Resident monks, and robe-making ceremony—The fourteen have been well proclaimed.”
Việc đình chỉ, sự dàn xếp, những kẻ gây chia rẽ, năm phẩm trước đây; các trú xứ và y kaṭhina, mười bốn phẩm đã được khéo giảng.