- Parivāra
Bản dịch
Pvr 15 — Xung đột (phần chính)
15. Mahāsaṅgāma
Inda-bh 1~1Vị tỳ khưu theo đuổi sự xung đột trong khi phát biểu nơi hội chúng nên biết về sự việc, nên biết về sự hư hỏng, nên biết về tội vi phạm, nên biết về duyên khởi, nên biết về sự biểu hiện, nên biết điều trước và điều sau, nên biết việc đã được thực hiện và chưa được thực hiện, nên biết về hành sự, nên biết về sự tranh tụng, nên biết về sự dàn xếp, không nên thiên vị vì ưa thích, không nên thiên vị vì sân hận, không nên thiên vị vì si mê, không nên thiên vị vì sợ hãi, nên làm cho biết rõ về điều cần được biết rõ, nên dập tắt điều cần được dập tắt, nên xem xét điều cần được xem xét, nên tin tưởng vào điều đáng được tin tưởng, (nghĩ rằng): ‘Ta đã đạt được đồ chúng’ không nên xem thường đồ chúng người khác, (nghĩ rằng): ‘Ta là người nghe nhiều’ không nên xem thường vị nghe ít, (nghĩ rằng): ‘Ta là vị thâm niên hơn’ không nên xem thường vị mới tu sau, không nên nói về điều chưa được thành tựu, không nên bỏ qua điều đã được thành tựu đúng Pháp đúng Luật, sự tranh tụng ấy được giải quyết theo Pháp nào theo Luật nào theo lời dạy nào của bậc Đạo Sư thì nên giải quyết sự tranh tụng ấy như thế.
Inda-bh 2~2Nên biết về sự việc: là nên biết về sự việc của tám điều pārājika, nên biết về sự việc của hai mươi ba điều saṅghādisesa, nên biết về sự việc của hai điều aniyata, nên biết về sự việc của bốn mươi hai điều nissaggiya, nên biết về sự việc của một trăm tám mươi tám điều pācittiya, nên biết về sự việc của mười hai điều pāṭidesanīya, nên biết về sự việc của các điều dukkaṭa, nên biết về sự việc của các điều dubbhāsita.
Inda-bh 3~3Nên biết về sự hư hỏng: là nên biết về sự hư hỏng về giới, nên biết về sự hư hỏng về hạnh kiểm, nên biết về sự hư hỏng về quan điểm, nên biết về sự hư hỏng về nuôi mạng.
Inda-bh 4~4Nên biết về tội vi phạm: là nên biết về tội pārājika, nên biết về tội saṅghādisesa, nên biết về tội aniyata, nên biết về tội nissaggiya, nên biết về tội pācittiya, nên biết về tội pāṭidesanīya, nên biết về tội dukkaṭa, nên biết về tội dubbhāsita.
Inda-bh 5~5Nên biết về duyên khởi: là nên biết về duyên khởi của tám điều pārājika, nên biết về duyên khởi của hai mươi ba điều saṅghādisesa, nên biết về duyên khởi của hai điều aniyata, nên biết về duyên khởi của bốn mươi hai điều nissaggiya, nên biết về duyên khởi của một trăm tám mươi tám điều pācittiya, nên biết về duyên khởi của mười hai điều pāṭidesanīya, nên biết về duyên khởi của các điều dukkaṭa, nên biết về duyên khởi của các điều dubbhāsita.
Inda-bh 6~6Nên biết về sự biểu hiện: là nên biết về hội chúng từ sự biểu hiện, nên biết về nhóm từ sự biểu hiện, nên biết về cá nhân từ sự biểu hiện, nên biết về vị cáo tội từ sự biểu hiện, nên biết về vị bị buộc tội từ sự biểu hiện.
Nên biết về hội chúng từ sự biểu hiện: là (nghĩ rằng): ‘Hội chúng này có khả năng để giải quyết sự tranh tụng này theo Pháp, theo Luật, theo lời dạy của bậc Đạo Sư hay là không có (khả năng)?’ Nên biết về hội chúng từ sự biểu hiện là như thế.
Nên biết về nhóm từ sự biểu hiện: là (nghĩ rằng): ‘Nhóm này có khả năng để giải quyết sự tranh tụng này theo Pháp, theo Luật, theo lời dạy của bậc Đạo Sư hay là không có (khả năng)?’ Nên biết về nhóm từ sự biểu hiện là như thế.
Nên biết về cá nhân từ sự biểu hiện: là (nghĩ rằng): ‘Cá nhân này có khả năng để giải quyết sự tranh tụng này theo Pháp, theo Luật, theo lời dạy của bậc Đạo Sư hay là không có (khả năng)?’ Nên biết về cá nhân từ sự biểu hiện là như thế.
Nên biết về vị cáo tội từ sự biểu hiện: là (nghĩ rằng): ‘Phải chăng đại đức này cáo tội vị khác sau khi đã an trú vào năm pháp hay là chưa (an trú)?’ Nên biết về vị cáo tội từ sự biểu hiện là như thế.
Nên biết về vị bị buộc tội từ sự biểu hiện: là (nghĩ rằng): ‘Phải chăng đại đức này đã được an trú ở hai pháp là ở sự chân thật và ở sự không nổi giận hay là chưa được (an trú)?’ Nên biết về vị bị buộc tội từ sự biểu hiện là như thế.
Inda-bh 7~7Nên biết điều trước và điều sau: là (nghĩ rằng): ‘Phải chăng đại đức này tráo trở từ sự việc (này) sang sự việc (khác), hay là tráo trở từ sự hư hỏng (này) sang sự hư hỏng (khác), hay là tráo trở từ tội (này) sang tội (khác), hay là sau khi phủ nhận rồi thừa nhận, hay là sau khi thừa nhận rồi phủ nhận, hay là tránh né điều này bằng điều khác, hay là không có?’ Nên biết điều trước và điều sau là như thế.
Inda-bh 8~8Nên biết việc đã được thực hiện và chưa được thực hiện: là nên biết về việc đôi lứa, nên biết về việc tương xứng đối với việc đôi lứa, nên biết phần việc xảy ra trước của việc đôi lứa.
Nên biết về việc đôi lứa: là nên biết về sự kết hợp chung lại của hai người.
Nên biết về việc tương xứng đối với việc đôi lứa: là vị tỳ khưu dùng miệng của mình ngậm lấy dương vật của vị khác.
Nên biết phần việc xảy ra trước của việc đôi lứa: là màu và không màu (của tinh dịch), sự xúc chạm cơ thể, sự nói lời dâm dật, sự hầu hạ tình dục cho bản thân, việc mai mối.
Inda-bh 9~9Nên biết về hành sự: là nên biết về mười sáu hành sự, nên biết về bốn hành sự với lời công bố, nên biết về bốn hành sự với lời đề nghị, nên biết về bốn hành sự có lời đề nghị đến lần thứ nhì, nên biết về bốn hành sự có lời đề nghị đến lần thứ tư.
Inda-bh 10~10Nên biết về sự tranh tụng: là nên biết về bốn sự tranh tụng, nên biết về sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, nên biết về sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, nên biết về sự tranh tụng liên quan đến tội, nên biết về sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.
Inda-bh 11~11Nên biết về sự dàn xếp: là nên biết về bảy cách dàn xếp, nên biết về hành xử Luật với sự hiện diện, nên biết về hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, nên biết về hành xử Luật khi không điên cuồng, nên biết về việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, nên biết về thuận theo số đông, nên biết về (hành xử Luật) theo tội của vị ấy, nên biết về cách dùng cỏ che lấp.
Inda-bh 12~12Không nên thiên vị vì ưa thích: Trong khi thiên vị vì ưa thích, vị thiên vị vì ưa thích như thế nào? – Ở đây, có vị (nghĩ rằng): ‘Đối với ta đây, (vị này) là thầy tế độ, hoặc là thầy dạy học, hoặc là đệ tử, hoặc là học trò, hoặc là đồng thầy tế độ, hoặc là đồng thầy dạy học, hoặc là đồng quan điểm, hoặc là thân thiết, hoặc là thân quyến đồng huyết thống’ rồi do lòng thương tưởng vị ấy, do sự bảo vệ vị ấy rồi tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật,’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật,’ tuyên bố điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai,’ tuyên bố điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai,’ tuyên bố điều không được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được thực hành bởi đức Như Lai,’ tuyên bố điều được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai,’ tuyên bố điều không được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được quy định bởi đức Như Lai,’ tuyên bố điều được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được quy định bởi đức Như Lai,’ tuyên bố vô tội là: ‘Phạm tội,’ tuyên bố phạm tội là: ‘Vô tội,’ tuyên bố tội nhẹ là: ‘Tội nặng,’ tuyên bố tội nặng là: ‘Tội nhẹ,’ tuyên bố tội còn dư sót là: ‘Tội không còn dư sót,’ tuyên bố tội không còn dư sót là: ‘Tội còn dư sót,’ tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội không xấu xa,’ tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội xấu xa.’ Với mười tám sự việc này, trong khi thiên vị vì ưa thích vị (ấy) đã thực hành không vì lợi ích của nhiều người, không vì an lạc của nhiều người, vì sự không tấn hóa, vì sự không lợi ích, vì sự khổ đau của nhiều người, của chư thiên và nhân loại. Với mười tám sự việc này, trong khi thiên vị vì ưa thích, vị (ấy) làm cho bản thân bị chôn vùi, bị tổn hại, trở thành có tội, có sự chê trách của những người hiểu biết, và gây nên nhiều điều vô phước. Trong khi thiên vị vì ưa thích, vị thiên vị vì ưa thích là như thế.
Inda-bh 13~13Không nên thiên vị vì sân hận: Trong khi thiên vị vì sân hận, vị thiên vị vì sân hận như thế nào? – Ở đây, có vị (nghĩ rằng): ‘Hắn đã gây cho ta điều không lợi ích’ rồi kết oan trái, ‘Hắn đang gây cho ta điều không lợi ích’ rồi kết oan trái, ‘Hắn sẽ gây cho ta điều không lợi ích’ rồi kết oan trái. (Nghĩ rằng): ‘Hắn đã gây điều không lợi ích, đang gây điều không lợi ích, sẽ gây điều không lợi ích cho người được ta thương yêu quý mến’ rồi kết oan trái. (Nghĩ rằng): ‘Hắn đã gây điều lợi ích, đang gây điều lợi ích, sẽ gây điều lợi ích cho người không được ta thương yêu quý mến’ rồi kết oan trái; do chín sự việc oan trái này, vị (ấy) trở nên thù hằn, ác cảm, giận dữ, bị chế ngự bởi sự cáu kỉnh rồi tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ … (như trên) … tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội không xấu xa,’ tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội xấu xa.’ Với mười tám sự việc này, trong khi thiên vị vì sân hận vị (ấy) đã thực hành không vì lợi ích của nhiều người, không vì an lạc của nhiều người, vì sự không tấn hóa, vì sự không lợi ích, vì sự khổ đau của nhiều người, của chư thiên và nhân loại. Với mười tám sự việc này, trong khi thiên vị vì sân hận, vị (ấy) làm cho bản thân bị chôn vùi, bị tổn hại, trở thành có tội, có sự chê trách của những người hiểu biết, và gây nên nhiều điều vô phước. Trong khi thiên vị vì sân hận, vị thiên vị vì sân hận là như thế.
Inda-bh 14~14Không nên thiên vị vì si mê: Trong khi thiên vị vì si mê, vị thiên vị vì si mê như thế nào? – Vị bị ái nhiễm chịu sự sai khiến của ái dục; bị sân hận chịu sự sai khiến của sân hận; bị si mê chịu sự sai khiến của si mê; bị ô nhiễm chịu sự sai khiến của tà kiến, bị si mê, bị si mê hoàn toàn, bị chế ngự bởi si mê rồi tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ … (như trên) … tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội không xấu xa,’ tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội xấu xa.’ Với mười tám sự việc này, trong khi thiên vị vì si mê vị (ấy) đã thực hành không vì lợi ích của nhiều người, không vì an lạc của nhiều người, vì sự không tấn hóa, vì sự không lợi ích, vì sự khổ đau của nhiều người, của chư thiên và nhân loại. Với mười tám sự việc này, trong khi thiên vị vì si mê vị (ấy) làm cho bản thân bị chôn vùi, bị tổn hại, trở thành có tội, có sự chê trách của những người hiểu biết, và gây nên nhiều điều vô phước. Trong khi thiên vị vì si mê, vị thiên vị vì si mê là như thế.
Inda-bh 15~15Không nên thiên vị vì sợ hãi: Trong khi thiên vị vì sợ hãi, vị thiên vị vì sợ hãi như thế nào? – Ở đây, có vị (nghĩ rằng): ‘Người này hoặc là cậy vào sự bất công, hoặc là cậy vào sự nắm giữ, hoặc là cậy vào sức mạnh, (là người) tàn bạo, thô lỗ sẽ gây nguy hiểm cho mạng sống hoặc là gây nguy hiểm cho Phạm hạnh,’ do sự sợ hãi của điều ấy vị (ấy) bị hoảng sợ rồi tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật,’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật,’ tuyên bố điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai,’ tuyên bố điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai,’ tuyên bố điều không được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được thực hành bởi đức Như Lai,’ tuyên bố điều được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai,’ tuyên bố điều không được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được quy định bởi đức Như Lai,’ tuyên bố điều được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được quy định bởi đức Như Lai,’ tuyên bố vô tội là: ‘Phạm tội,’ tuyên bố phạm tội là: ‘Vô tội,’ tuyên bố tội nhẹ là: ‘Tội nặng,’ tuyên bố tội nặng là: ‘Tội nhẹ,’ tuyên bố tội còn dư sót là: ‘Tội không còn dư sót,’ tuyên bố tội không còn dư sót là: ‘Tội còn dư sót,’ tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội không xấu xa,’ tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội xấu xa.’ Với mười tám sự việc này, trong khi thiên vị vì sợ hãi vị (ấy) đã thực hành không vì lợi ích của nhiều người, không vì an lạc của nhiều người, vì sự không tấn hóa, vì sự không lợi ích, vì sự khổ đau của nhiều người, của chư thiên và nhân loại. Với mười tám sự việc này, trong khi thiên vị vì sợ hãi, vị (ấy) làm cho bản thân bị chôn vùi, bị tổn hại, trở thành có tội, có sự chê trách của những người hiểu biết, và gây nên nhiều điều vô phước. Trong khi thiên vị vì sợ hãi, vị thiên vị vì sợ hãi là như thế.
Inda-bh 16~16Vì ưa thích, vì sân hận, vì sợ hãi, vì si mê, vị nào đối nghịch Chánh Pháp, danh tiếng của vị ấy bị hủy hoại, ví như mặt trăng vào lúc hạ huyền.
Inda-bh 17~17Thế nào là vị không thiên vị vì ưa thích? – Trong khi tuyên bố phi Pháp là ‘Phi Pháp’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố Pháp là: ‘Pháp’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố phi Luật là: ‘Phi Luật’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố Luật là: ‘Luật’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố điều không được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều không được thực hành bởi đức Như Lai’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố điều đã được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được thực hành bởi đức Như Lai’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố điều đã không được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được quy định bởi đức Như Lai’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố điều đã được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được quy định bởi đức Như Lai’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố vô tội là: ‘Vô tội’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố phạm tội là: ‘Phạm tội’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố tội nhẹ là: ‘Tội nhẹ’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố tội nặng là: ‘Tội nặng’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố tội còn dư sót là: ‘Tội còn dư sót’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố tội không còn dư sót là: ‘Tội không còn dư sót’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội xấu xa’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội không xấu xa’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích. Vị không thiên vị vì ưa thích là như thế.
Inda-bh 18~18Thế nào là vị không thiên vị vì sân hận? – Trong khi tuyên bố phi Pháp là ‘Phi Pháp’ vị (ấy) không thiên vị vì sân hận; trong khi tuyên bố Pháp là: ‘Pháp’ vị (ấy) không thiên vị vì sân hận; … (như trên) … trong khi tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội xấu xa’ vị (ấy) không thiên vị vì sân hận; trong khi tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội không xấu xa’ vị (ấy) không thiên vị vì sân hận. Vị không thiên vị vì sân hận là như thế.
Inda-bh 19~19Thế nào là vị không thiên vị vì si mê? – Trong khi tuyên bố phi Pháp là ‘Phi Pháp’ vị (ấy) không thiên vị vì si mê; trong khi tuyên bố Pháp là: ‘Pháp’ vị (ấy) không thiên vị vì si mê; … (như trên) … trong khi tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội xấu xa’ vị (ấy) không thiên vị vì si mê; trong khi tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội không xấu xa’ vị (ấy) không thiên vị vì si mê. Vị không thiên vị vì si mê là như thế.
Inda-bh 20~20Thế nào là vị không thiên vị vì sợ hãi? – Trong khi tuyên bố phi Pháp là ‘Phi Pháp’ vị (ấy) không thiên vị vì sợ hãi; trong khi tuyên bố Pháp là: ‘Pháp’ vị (ấy) không thiên vị vì sợ hãi; trong khi tuyên bố phi Luật là: ‘Phi Luật’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố Luật là: ‘Luật’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố điều không được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều không được thực hành bởi đức Như Lai’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố điều đã được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được thực hành bởi đức Như Lai’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố điều đã không được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được quy định bởi đức Như Lai’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố điều đã được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được quy định bởi đức Như Lai’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố vô tội là: ‘Vô tội’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố phạm tội là: ‘Phạm tội’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố tội nhẹ là: ‘Tội nhẹ’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố tội nặng là: ‘Tội nặng’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố tội còn dư sót là: ‘Tội còn dư sót’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố tội không còn dư sót là: ‘Tội không còn dư sót’ vị (ấy) không thiên vị vì ưa thích; trong khi tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội xấu xa’ vị (ấy) không thiên vị vì sợ hãi; trong khi tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội không xấu xa’ vị (ấy) không thiên vị vì sợ hãi. Vị không thiên vị vì sợ hãi là như thế.
Inda-bh 21~21Vì ưa thích, vì sân hận, vì sợ hãi, vì si mê, vị không đối nghịch Chánh Pháp, danh tiếng của vị ấy được bồi đắp tợ như mặt trăng ở vào thượng huyền (được tròn dần).
Inda-bh 22~22Thế nào là vị làm cho biết rõ về điều cần được biết rõ? – Trong khi tuyên bố phi Pháp là ‘Phi Pháp’ vị (ấy) làm cho biết rõ về điều cần được biết rõ; trong khi tuyên bố Pháp là: ‘Pháp’ vị (ấy) làm cho biết rõ về điều cần được biết rõ; … (như trên) … trong khi tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội xấu xa’ vị (ấy) làm cho biết rõ về điều cần được biết rõ; trong khi tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội không xấu xa’ vị (ấy) làm cho biết rõ về điều cần được biết rõ. Vị làm cho biết rõ về điều cần được biết rõ là như thế.
Inda-bh 23~23Thế nào là vị dập tắt điều cần được dập tắt? – Trong khi tuyên bố phi Pháp là ‘Phi Pháp’ vị (ấy) dập tắt điều cần được dập tắt; trong khi tuyên bố Pháp là: ‘Pháp’ vị (ấy) dập tắt điều cần được dập tắt; … (như trên) … trong khi tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội không xấu xa’ vị (ấy) dập tắt điều cần được dập tắt; trong khi tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội xấu xa’ vị (ấy) dập tắt điều cần được dập tắt. Vị dập tắt điều cần được dập tắt là như thế.
Inda-bh 24~24Thế nào là vị xem xét điều cần được xem xét? – Trong khi tuyên bố phi Pháp là ‘Phi Pháp’ vị (ấy) xem xét điều cần được xem xét; trong khi tuyên bố Pháp là: ‘Pháp’ … (như trên) … ; trong khi tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội xấu xa’ … (như trên) … ; trong khi tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội không xấu xa’ … (như trên) … . Vị xem xét điều cần được xem xét là như thế.
Inda-bh 25~25Thế nào là vị tin tưởng vào điều đáng được tin tưởng? – Trong khi tuyên bố phi Pháp là ‘Phi Pháp’ vị (ấy) tin tưởng vào điều đáng được tin tưởng; trong khi tuyên bố Pháp là: ‘Pháp’ … nt … ; trong khi tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội xấu xa’ … nt … ; trong khi tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội không xấu xa’ … nt … . Vị tin tưởng vào điều đáng được tin tưởng là như thế.
Inda-bh 26~26Thế nào là vị (nghĩ rằng): ‘Ta đã đạt được đồ chúng’ rồi xem thường đồ chúng người khác? – Ở đây, có vị đã đạt được đồ chúng, đã đạt được tùy tùng, là vị có đồ chúng, có người thân cận (nghĩ rằng): ‘Người này không đạt được đồ chúng, không đạt được tùy tùng, không là vị có đồ chúng, không là vị có người thân cận’ trong khi xem thường người ấy rồi tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ … (như trên) … tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội không xấu xa,’ tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội xấu xa.’ Vị (nghĩ rằng): ‘Ta đã đạt được đồ chúng’ rồi xem thường đồ chúng người khác là như thế.
Inda-bh 27~27Thế nào là vị (nghĩ rằng): ‘Ta là người nghe nhiều’ rồi xem thường vị nghe ít? – Ở đây, có vị nghe nhiều, ghi nhớ điều đã nghe, tích lũy điều đã nghe (nghĩ rằng): ‘Người này nghe ít, kế thừa ít, ghi nhớ ít’ trong khi xem thường người ấy rồi tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ … (như trên) … tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội không xấu xa,’ tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội xấu xa.’ Vị (nghĩ rằng): ‘Ta là người nghe nhiều’ rồi xem thường vị nghe ít là như thế.
Inda-bh 28~28Thế nào là vị (nghĩ rằng): ‘Ta là vị thâm niên hơn’ rồi xem thường vị mới tu sau? – Ở đây, có vị là trưởng lão, có kinh nghiệm, đã xuất gia lâu dài (nghĩ rằng): ‘Người này mới tu, thiểu trí, ít nghe, ít hiểu biết việc đã được làm, lời nói của người này sẽ không được thực hiện’ trong khi xem thường người ấy rồi tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ … (như trên) … tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội không xấu xa,’ tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội xấu xa.’ Vị (nghĩ rằng): ‘Ta là vị thâm niên hơn’ rồi xem thường vị mới tu sau là như thế.
Inda-bh 29~29Không nên nói về điều chưa được thành tựu: là không nên đưa ra lời nói chưa được đưa ra.
Inda-bh 30~30Không nên bỏ qua điều đã được thành tựu đúng Pháp đúng Luật: là không nên bỏ qua sự việc đúng Pháp đúng Luật mà hội chúng đã được triệu tập lại vì sự việc ấy.
Inda-bh 31~31Theo Pháp nào: là theo sự việc có thật.
Theo Luật nào: là sau khi đã cáo tội, sau khi đã làm cho nhớ lại.
Theo lời dạy nào của bậc Đạo Sư: là với sự đầy đủ của lời đề nghị, với sự đầy đủ của lời tuyên bố. Sự tranh tụng ấy được giải quyết theo Pháp nào theo Luật nào theo lời dạy nào của bậc Đạo Sư thì nên giải quyết sự tranh tụng ấy như thế.
SỰ THẨM VẤN CỦA VỊ XÉT XỬ:
Vị xét xử nên hỏi vị cáo tội rằng: ‘Này đại đức, việc ngài đình chỉ lễ Pavāraṇā của vị tỳ khưu này, ngài đình chỉ vị ấy vì lý do gì, đình chỉ vì hư hỏng về giới, đình chỉ vì hư hỏng về hạnh kiểm, đình chỉ vì hư hỏng về quan điểm?’
Nếu vị ấy nói như vầy: ‘Hoặc là tôi đình chỉ vì hư hỏng về giới, hoặc là đình chỉ vì hư hỏng về hạnh kiểm, hoặc là đình chỉ vì hư hỏng về quan điểm.’
Vị ấy nên được nói như sau: ‘Vậy ngài có biết sự hư hỏng về giới không, có biết sự hư hỏng về hạnh kiểm không, có biết sự hư hỏng về quan điểm không?’
Nếu vị ấy nói như vầy: ‘Này đại đức, tôi biết sự hư hỏng về giới, tôi biết sự hư hỏng về hạnh kiểm, tôi biết sự hư hỏng về quan điểm.’
Vị ấy nên được nói như sau: ‘Này đại đức, vậy điều gì là sự hư hỏng về giới, điều gì là sự hư hỏng về hạnh kiểm, điều gì là sự hư hỏng về quan điểm?’
Nếu vị ấy nói như vầy: ‘Bốn tội pārājika, mười ba tội saṅghādisesa, đó là sự hư hỏng về giới. Tội thullaccaya, tội pācittiya, tội pāṭidesanīya, tội dukkaṭa, tội dubbhāsita, đó là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Tà kiến, hữu biên kiến, đó là sự hư hỏng về quan điểm.’
Vị ấy nên được nói như sau: ‘Này đại đức, việc mà ngài đình chỉ lễ Pavāraṇā của vị tỳ khưu này, có phải ngài đình chỉ do đã được thấy, đình chỉ do đã được nghe, đình chỉ do sự nghi ngờ?’
Nếu vị ấy nói như vầy: ‘Hoặc là tôi đình chỉ do đã được thấy, hoặc là đình chỉ do đã được nghe, hoặc là đình chỉ do sự nghi ngờ.’
Vị ấy nên được nói như sau: ‘Này đại đức, việc mà ngài đình chỉ lễ Pavāraṇā của vị tỳ khưu này do đã được thấy, ngài đã thấy gì, ngài đã thấy thế nào, ngài đã thấy khi nào, ngài đã thấy ở đâu? Có phải đã thấy vị (ấy) đang phạm tội pārājika? ... tội saṅghādisesa? ... tội thullaccaya? ... tội pācittiya? ... tội pāṭidesanīya? ... tội dukkaṭa? Có phải đã thấy vị (ấy) đang phạm tội dubbhāsita? Và ngài đã ở đâu? Và vị tỳ khưu này đã ở đâu? Và ngài đã làm gì? Và vị tỳ khưu này đã làm gì?’
Nếu vị ấy nói như vầy: ‘Này đại đức, tôi quả không đình chỉ lễ Pavāraṇā của vị tỳ khưu này do đã được thấy, tuy nhiên tôi đình chỉ lễ Pavāraṇā do đã được nghe.’
Vị ấy nên được nói như sau: ‘Này đại đức, việc mà ngài đình chỉ lễ Pavāraṇā của vị tỳ khưu này do đã được nghe, ngài đã nghe gì, ngài đã nghe thế nào, ngài đã nghe khi nào, ngài đã nghe ở đâu? Có phải đã nghe rằng: ‘Vị (ấy) đã phạm tội pārājika’? Có phải đã nghe rằng: ‘Vị (ấy) đã phạm tội saṅghādisesa’? ... tội thullaccaya’? ... tội pācittiya’? ... tội pāṭidesanīya’? ... tội dukkaṭa’? Có phải đã nghe rằng: ‘Vị (ấy) đã phạm tội dubbhāsita’? Có phải đã nghe từ vị tỳ khưu, đã nghe từ vị tỳ khưu ni, đã nghe từ cô ni tu tập sự, đã nghe từ vị sa di, đã nghe từ vị sa di ni, đã nghe từ nam cư sĩ, đã nghe từ nữ cư sĩ, đã nghe từ các đức vua, đã nghe từ các quan đại thần của đức vua, đã nghe từ các ngoại đạo, đã nghe từ các đệ tử của ngoại đạo?’
Nếu vị ấy nói như vầy: ‘Này đại đức, tôi quả không đình chỉ lễ Pavāraṇā của vị tỳ khưu này do đã được nghe, tuy nhiên tôi đình chỉ lễ Pavāraṇā do sự nghi ngờ.’
Vị ấy nên được nói như sau: ‘Này đại đức, việc mà ngài đình chỉ lễ Pavāraṇā của vị tỳ khưu này do sự nghi ngờ, ngài nghi ngờ gì, nghi ngờ như thế nào, nghi ngờ khi nào, nghi ngờ ở đâu? Có phải ngài nghi ngờ rằng: ‘Vị (ấy) đã phạm tội pārājika’? ... tội saṅghādisesa’? ... tội thullaccaya’? ... tội pācittiya’? ... tội pāṭidesanīya’? ... tội dukkaṭa’? Có phải ngài nghi ngờ rằng: ‘Vị (ấy) đã phạm tội dubbhāsita’? Có phải ngài nghi ngờ sau khi nghe từ vị tỳ khưu, nghi ngờ sau khi nghe từ vị tỳ khưu ni, nghi ngờ sau khi nghe từ cô ni tu tập sự, nghi ngờ sau khi nghe từ vị sa di, nghi ngờ sau khi nghe từ vị sa di ni, nghi ngờ sau khi nghe từ nam cư sĩ, nghi ngờ sau khi nghe từ nữ cư sĩ, nghi ngờ sau khi nghe từ các đức vua, nghi ngờ sau khi nghe từ các quan đại thần của đức vua, nghi ngờ sau khi nghe từ các ngoại đạo, nghi ngờ sau khi nghe từ các đệ tử của ngoại đạo?’
Inda-bh 1~32Điều được thấy tương tợ với điều đã được thấy, điều được thấy phù hợp với điều đã được thấy, căn cứ vào điều đã được thấy mà không thừa nhận thì bị nghi ngờ là không thanh tịnh; vị ấy do sự thừa nhận thì nên hành lễ Pavāraṇā với vị ấy.
Inda-bh 2~33Điều được nghe tương tợ với điều đã được nghe, điều được nghe phù hợp với điều đã được nghe, căn cứ vào điều đã được nghe mà không thừa nhận thì bị nghi ngờ là không thanh tịnh; vị ấy do sự thừa nhận thì nên hành lễ Pavāraṇā với vị ấy.
Inda-bh 3~34Điều được cảm nhận tương tợ với điều đã được cảm nhận, điều được cảm nhận phù hợp với điều đã được cảm nhận, căn cứ vào điều đã được cảm nhận mà không thừa nhận thì bị nghi ngờ là không thanh tịnh; vị ấy do sự thừa nhận thì nên hành lễ Pavāraṇā với vị ấy.
PHÂN TÍCH VỀ CÂU HỎI:
Inda-bh 1~35‘Ngài đã thấy gì?’ là câu hỏi về điều gì? ‘Ngài đã thấy thế nào?’ là câu hỏi về điều gì? ‘Ngài đã thấy khi nào?’ là câu hỏi về điều gì? ‘Ngài đã thấy ở đâu?’ là câu hỏi về điều gì?
Inda-bh 2~36‘Ngài đã thấy gì?’: là câu hỏi về sự việc, là câu hỏi về sự hư hỏng, là câu hỏi về tội vi phạm, là câu hỏi về sự vi phạm.
Câu hỏi về sự việc: là câu hỏi về sự việc của tám điều pārājika, là câu hỏi về sự việc của hai mươi ba điều saṅghādisesa, là câu hỏi về sự việc của hai điều aniyata, là câu hỏi về sự việc của bốn mươi hai điều nissaggiya, là câu hỏi về sự việc của một trăm tám mươi tám điều pācittiya, là câu hỏi về sự việc của mười hai điều pāṭidesanīya, là câu hỏi về sự việc của các điều dukkaṭa, là câu hỏi về sự việc của các điều dubbhāsita.
Câu hỏi về sự hư hỏng: là câu hỏi về sự hư hỏng về giới, là câu hỏi về sự hư hỏng về hạnh kiểm, là câu hỏi về sự hư hỏng về quan điểm, là câu hỏi về sự hư hỏng về nuôi mạng.
Câu hỏi về tội vi phạm: là câu hỏi về tội pārājika, là câu hỏi về tội saṅghādisesa, là câu hỏi về tội thullaccaya, là câu hỏi về tội pācittiya, là câu hỏi về tội pāṭidesanīya, là câu hỏi về tội dukkaṭa, là câu hỏi về tội dubbhāsita.
Câu hỏi về sự vi phạm: là câu hỏi về sự kết hợp chung lại của hai người.
Inda-bh 3~37‘Ngài đã thấy thế nào?’: là câu hỏi về đặc điểm, là câu hỏi về tư thế, là câu hỏi về sự biểu hiện, là câu hỏi về sự thay đổi.
Câu hỏi về đặc điểm: là cao, hay là thấp, hay là đen, hay là trắng.
Câu hỏi về tư thế: là đang đi, hay đang đứng, hay đang ngồi, hay đang nằm.
Câu hỏi về sự biểu hiện: là hình tướng tại gia, hay là hình tướng ngoại đạo, hay là hình tướng xuất gia.
Câu hỏi về sự thay đổi: là đang đi, hay đang đứng, hay đang ngồi, hay đang nằm.
Inda-bh 4~38‘Ngài đã thấy khi nào?’ là câu hỏi về thời gian, là câu hỏi về thời điểm, là câu hỏi về ngày, là câu hỏi về mùa tiết.
Câu hỏi về thời gian: là vào lúc sáng sớm, hay là lúc nửa ngày, hay là lúc chiều tối.
Câu hỏi về thời điểm: là vào thời điểm sáng sớm, hay là thời điểm nửa ngày, hay là thời điểm chiều tối.
Câu hỏi về ngày: là trước bữa ăn, hay là sau bữa ăn, hay là ban đêm, hay là ban ngày, hay là nửa tháng sau, hay là nửa tháng trước.
Câu hỏi về mùa tiết: là trong mùa lạnh, hay là trong mùa nóng, hay là trong mùa mưa.
Inda-bh 5~39‘Ngài đã thấy ở đâu?’: là câu hỏi về nơi chốn, là câu hỏi về địa thế, là câu hỏi về không gian, là câu hỏi về khu vực.
Câu hỏi về nơi chốn: là trên nền đất, hay là trong lòng đất, hay là ở bề mặt trái đất, hay là ở trên đất liền.
Câu hỏi về địa thế: là ở trên đất bằng, hay là trong lòng đất, hay là trên sườn núi, hay là trên tảng đá, hay là trong tòa lâu đài.
Câu hỏi về không gian: là không gian phía đông, hay là không gian phía tây, hay là không gian phía bắc, hay là không gian phía nam.
Câu hỏi về khu vực: là khu vực phương đông, hay là khu vực phương tây, hay là khu vực phương bắc, hay là khu vực phương nam.
Dứt Chương Xung Đột (Phần Chính).
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
Inda-bh 1~40Sự việc, duyên khởi, biểu hiện, việc trước và sau, đã làm hoặc chưa làm, luôn cả hành sự, sự tranh tụng, sự dàn xếp, và thiên vị vì ưa thích.
Inda-bh 2~41Vì sân hận, vì si mê, và luôn cả vì sợ hãi, sự biết rõ, và với sự dập tắt, sự xem xét, được tin tưởng, ‘Ta đã có đồ chúng,’ đã nghe (nhiều), và với vị thâm niên hơn.
Inda-bh 3~42Và chưa được thành tựu, đã thành tựu, theo Pháp, và theo Luật, và cả lời dạy của bậc Đạo Sư, là việc làm cho hiểu rõ về chương Xung Đột (Phần Chính).
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- The Compendium
The great chapter on the resolution of conflicts
1. What is to be known by one who is speaking, etc.
1. Những điều cần phải biết bởi vị đang phân xử, v.v...
Saṅgāmāvacarena bhikkhunā saṅghe voharantena vatthu jānitabbaṁ, vipatti jānitabbā, āpatti jānitabbā, nidānaṁ jānitabbaṁ, ākāro jānitabbo, pubbāparaṁ jānitabbaṁ, katākataṁ jānitabbaṁ, kammaṁ jānitabbaṁ, adhikaraṇaṁ jānitabbaṁ, samatho jānitabbo, na chandāgati gantabbā, na dosāgati gantabbā, na mohāgati gantabbā, na bhayāgati gantabbā, saññāpanīye ṭhāne saññāpetabbaṁ, nijjhāpanīye ṭhāne nijjhāpetabbaṁ, pekkhanīye ṭhāne pekkhitabbaṁ, pasādanīye ṭhāne pasādetabbaṁ, “laddhapakkhomhī”ti parapakkho nāvajānitabbo, bahussutomhīti appassuto nāvajānitabbo, therataromhīti navakataro nāvajānitabbo, asampattaṁ na byāhātabbaṁ, sampattaṁ dhammato vinayato na parihāpetabbaṁ, yena dhammena yena vinayena yena satthusāsanena taṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati, tathā taṁ adhikaraṇaṁ vūpasametabbaṁ.
When a monk who is involved in a conflict is speaking in the Sangha, he should know the actions that are the bases for offenses, as well as the failures, the offenses, the origin stories, the attributes, the right order, what has and has not been done, the legal procedures, the legal issues, and their settling. He should not be biased by favoritism, ill will, confusion, or fear. He should persuade when persuasion is appropriate, should make others understand when making understand is appropriate, should look on when looking on is appropriate, and should inspire when inspiration is appropriate. Thinking, “I’ve obtained supporters,” he should not despise the supporters of others. Thinking, “I’m learned,” he should not despise those who are ignorant. Thinking, “I’m more senior,” he should not despise those who are junior. He should not speak about what has not been reached, and he should not use the Teaching or the Monastic Law to neglect what has been reached. He should resolve that legal issue in accordance with the Teaching, the Monastic Law, and the Teacher’s instruction.
368. Vị tỳ khưu tham gia vào cuộc tranh tụng, đang phân xử trong Tăng chúng, cần phải biết vật, cần phải biết sự hư hỏng, cần phải biết điều phạm, cần phải biết nhân duyên, cần phải biết cách thức, cần phải biết trước sau, cần phải biết việc đã làm và chưa làm, cần phải biết yết ma, cần phải biết sự tranh tụng, cần phải biết sự dàn xếp. Không nên đi theo thiên vị vì tham dục, không nên đi theo thiên vị vì sân hận, không nên đi theo thiên vị vì si mê, không nên đi theo thiên vị vì sợ hãi. Ở trường hợp cần làm cho hiểu, nên làm cho hiểu. Ở trường hợp cần làm cho suy xét, nên làm cho suy xét. Ở trường hợp cần xem xét, nên xem xét. Ở trường hợp cần làm cho hoan hỷ, nên làm cho hoan hỷ. Không nên khinh thường phe khác vì nghĩ rằng: ‘Ta đã có phe cánh.’ Không nên khinh thường người ít học vì nghĩ rằng: ‘Ta là bậc đa văn.’ Không nên khinh thường vị tỳ khưu mới hơn vì nghĩ rằng: ‘Ta là bậc trưởng lão hơn.’ Không nên nói về vụ việc chưa được đưa đến. Vụ việc đã được đưa đến thì không nên làm giảm sút khỏi Pháp và Luật. Sự tranh tụng ấy được dàn xếp bởi Pháp nào, bởi Luật nào, bởi lời giáo huấn nào của Bậc Đạo Sư, thì nên dàn xếp sự tranh tụng ấy theo cách ấy.
- Vatthu jānitabbanti
- aṭṭhapārājikānaṁ vatthu jānitabbaṁ, tevīsasaṅghādisesānaṁ vatthu jānitabbaṁ, dveaniyatānaṁ vatthu jānitabbaṁ, dvecattārīsanissaggiyānaṁ vatthu jānitabbaṁ, aṭṭhāsītisatapācittiyānaṁ vatthu jānitabbaṁ, dvādasapāṭidesanīyānaṁ vatthu jānitabbaṁ, dukkaṭānaṁ vatthu jānitabbaṁ, dubbhāsitānaṁ vatthu jānitabbaṁ.
- He should know the actions that are the bases for offenses:
- he should know the actions that are the bases for the eight offenses entailing expulsion, for the twenty-three offenses entailing suspension, for the two undetermined offenses, for the forty-two offenses entailing relinquishment, for the one hundred and eighty-eight offenses entailing confession, for the twelve offenses entailing acknowledgment, for the offenses of wrong conduct, and for the offenses of wrong speech.
369. Nói rằng ‘cần phải biết vật’ là: Cần phải biết vật của tám điều pārājika, cần phải biết vật của hai mươi ba điều saṅghādisesa, cần phải biết vật của hai điều aniyata, cần phải biết vật của bốn mươi hai điều nissaggiya, cần phải biết vật của một trăm tám mươi tám điều pācittiya, cần phải biết vật của mười hai điều pāṭidesanīya, cần phải biết vật của các điều dukkaṭa, cần phải biết vật của các điều dubbhāsita.
370. Nói rằng ‘cần phải biết sự hư hỏng’ là: Cần phải biết sự hư hỏng về giới, cần phải biết sự hư hỏng về आचार, cần phải biết sự hư hỏng về tri kiến, cần phải biết sự hư hỏng về mạng sống.
371. Nói rằng ‘cần phải biết điều phạm’ là: Cần phải biết điều phạm pārājika, cần phải biết điều phạm saṅghādisesa, cần phải biết điều phạm thullaccaya, cần phải biết điều phạm pācittiya, cần phải biết điều phạm pāṭidesanīya, cần phải biết điều phạm dukkaṭa, cần phải biết điều phạm dubbhāsita.
372. Nói rằng ‘cần phải biết nhân duyên’ là: Cần phải biết nhân duyên của tám điều pārājika, cần phải biết nhân duyên của hai mươi ba điều saṅghādisesa, cần phải biết nhân duyên của hai điều aniyata, cần phải biết nhân duyên của bốn mươi hai điều nissaggiya, cần phải biết nhân duyên của một trăm tám mươi tám điều pācittiya, cần phải biết nhân duyên của mười hai điều pāṭidesanīya, cần phải biết nhân duyên của các điều dukkaṭa, cần phải biết nhân duyên của các điều dubbhāsita.
373. Nói rằng ‘cần phải biết cách thức’ là: Cần phải biết cách thức của Tăng chúng, cần phải biết cách thức của nhóm, cần phải biết cách thức của cá nhân, cần phải biết cách thức của người chất vấn, cần phải biết cách thức của người bị chất vấn. Nói rằng ‘cần phải biết cách thức của Tăng chúng’ là: ‘Tăng chúng này có khả năng dàn xếp sự tranh tụng này theo Pháp, theo Luật, theo lời giáo huấn của Bậc Đạo Sư hay không?’ – như vậy, cần phải biết cách thức của Tăng chúng. Nói rằng ‘cần phải biết cách thức của nhóm’ là: ‘Nhóm này có khả năng dàn xếp sự tranh tụng này theo Pháp, theo Luật, theo lời giáo huấn của Bậc Đạo Sư hay không?’ – như vậy, cần phải biết cách thức của nhóm. Nói rằng ‘cần phải biết cách thức của cá nhân’ là: ‘Cá nhân này có khả năng dàn xếp sự tranh tụng này theo Pháp, theo Luật, theo lời giáo huấn của Bậc Đạo Sư hay không?’ – như vậy, cần phải biết cách thức của cá nhân. Nói rằng ‘cần phải biết cách thức của người chất vấn’ là: ‘Phải chăng vị tôn giả này, sau khi an trú trong năm pháp, chất vấn người khác hay không?’ – như vậy, cần phải biết cách thức của người chất vấn. Nói rằng ‘cần phải biết cách thức của người bị chất vấn’ là: ‘Phải chăng vị tôn giả này đã an trú trong hai pháp, là sự thật và sự không tức giận, hay không?’ – như vậy, cần phải biết cách thức của người bị chất vấn.
374. Nói rằng ‘cần phải biết trước sau’ là: ‘Phải chăng vị tôn giả này có chuyển từ vật này sang vật khác, hay từ sự hư hỏng này sang sự hư hỏng khác, hay từ điều phạm này sang điều phạm khác, hay sau khi chối lại thừa nhận, hay sau khi thừa nhận lại chối, hay dùng chuyện khác để che đậy chuyện khác, hay là không?’ – như vậy, cần phải biết trước sau.
375. Nói rằng ‘cần phải biết việc đã làm và chưa làm’ là: Cần phải biết về dâm pháp, cần phải biết về điều thuận theo dâm pháp, cần phải biết về phần sơ khởi của dâm pháp. Nói rằng ‘cần phải biết về dâm pháp’ là: Cần phải biết về sự giao hợp của từng cặp hai người. Nói rằng ‘cần phải biết về điều thuận theo dâm pháp’ là: Vị tỳ khưu dùng miệng của mình để ngậm bộ phận sinh dục của người khác. Nói rằng ‘cần phải biết về phần sơ khởi của dâm pháp’ là: Cần phải biết về sự tán thán hay chê bai, sự tiếp xúc thân thể, lời nói thô tục, sự phục vụ cho dục vọng của bản thân, sự đưa tin làm trung gian.
376. Nói rằng ‘cần phải biết yết ma’ là: Cần phải biết mười sáu loại yết ma – cần phải biết bốn loại yết ma cáo bạch, cần phải biết bốn loại yết ma bạch nhất, cần phải biết bốn loại yết ma bạch nhị, cần phải biết bốn loại yết ma bạch tứ.
377. Nói rằng ‘cần phải biết sự tranh tụng’ là: Cần phải biết bốn loại tranh tụng – cần phải biết tranh tụng do tranh cãi, cần phải biết tranh tụng do khiển trách, cần phải biết tranh tụng do điều phạm, cần phải biết tranh tụng do phận sự.
378. Nên biết về sự dập tắt (samatho jānitabbo) có nghĩa là: Bảy sự dập tắt (satta samathā) nên được biết đến: Nên biết về sự dập tắt bằng luật hiện diện (sammukhāvinayo), nên biết về sự dập tắt bằng luật chánh niệm (sativinayo), nên biết về sự dập tắt bằng luật không mê mờ (amūḷhavinayo), nên biết về sự dập tắt bằng việc làm theo sự thừa nhận (paṭiññātakaraṇaṃ), nên biết về sự dập tắt theo số đông (yebhuyyasikā), nên biết về sự dập tắt dành cho người có hành vi xấu xa (tassapāpiyasikā), nên biết về sự dập tắt bằng cách phủ cỏ (tiṇavatthārako).
2. Agatiagantabba
2. Not to be biased
2. Không nên đi đến thiên vị.
- Na chandāgati gantabbāti
chandāgatiṁ gacchanto kathaṁ chandāgatiṁ gacchati?
Idhekacco—“ayaṁ me upajjhāyo vā ācariyo vā saddhivihāriko vā antevāsiko vā samānupajjhāyako vā samānācariyako vā sandiṭṭho vā sambhatto vā ñātisālohito vā”ti, tassānukampāya tassānurakkhāya adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti, avinayaṁ vinayoti dīpeti, vinayaṁ avinayoti dīpeti, abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatena bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatenāti dīpeti, bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatena abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatenāti dīpeti, anāciṇṇaṁ tathāgatena āciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpeti, āciṇṇaṁ tathāgatena anāciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpeti, apaññattaṁ tathāgatena paññattaṁ tathāgatenāti dīpeti, paññattaṁ tathāgatena apaññattaṁ tathāgatenāti dīpeti, anāpattiṁ āpattīti dīpeti, āpattiṁ anāpattīti dīpeti, lahukaṁ āpattiṁ garukā āpattīti dīpeti, garukaṁ āpattiṁ lahukā āpattīti dīpeti, sāvasesaṁ āpattiṁ anavasesā āpattīti dīpeti, anavasesaṁ āpattiṁ sāvasesā āpattīti dīpeti, duṭṭhullaṁ āpattiṁ aduṭṭhullā āpattīti dīpeti, aduṭṭhullaṁ āpattiṁ duṭṭhullā āpattīti dīpeti.
Imehi aṭṭhārasahi vatthūhi chandāgatiṁ gacchanto bahujanāhitāya paṭipanno hoti bahujanāsukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ. Imehi aṭṭhārasahi vatthūhi chandāgatiṁ gacchanto khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavati. Chandāgatiṁ gacchanto evaṁ chandāgatiṁ gacchati.
- He should not be biased by favoritism:
How is one biased by favoritism?
It may be that someone thinks, “This is my preceptor, teacher, student, pupil, co-student, co-pupil, friend, companion, or relative.” To be compassionate toward and protect this person, he proclaims what is contrary to the Teaching as being in accordance with it and what is in accordance with the Teaching as contrary to it. He proclaims what is contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, and what is in accordance with the Monastic Law as contrary to it. He proclaims what hasn’t been spoken by the Buddha as spoken by him, and what has been spoken by the Buddha as not spoken by him. He proclaims what was not practiced by the Buddha as practiced by him, and what was practiced by the Buddha as not practiced by him. He proclaims what was not laid down by the Buddha as laid down by him, and what was laid down by the Buddha as not laid down by him. He proclaims a non-offense as an offense, and an offense as a non-offense. He proclaims a light offense as heavy, and a heavy offense as light. He proclaims a curable offense as incurable, and an incurable offense as curable. He proclaims a grave offense as minor, and a minor offense as grave.
If he is biased by favoritism by way of these eighteen grounds, then his behavior is unbeneficial and a cause of unhappiness for humanity; it is harmful, detrimental, and a cause of suffering for gods and humans. If he is biased by favoritism by way of these eighteen grounds, then he is damaged and impaired, blamed and criticized by sensible people, and makes much demerit.
379. Không nên đi đến thiên vị do dục ái (na chandāgati gantabbā) có nghĩa là: Người đi đến thiên vị do dục ái, đi đến thiên vị do dục ái như thế nào? Ở đây, có người vì nghĩ rằng: ‘Vị này là thầy tế độ của ta,’ hoặc ‘là thầy dạy,’ hoặc ‘là bạn đồng trú,’ hoặc ‘là đệ tử gần gũi,’ hoặc ‘là người cùng thầy tế độ,’ hoặc ‘là người cùng thầy dạy,’ hoặc ‘là người quen biết,’ hoặc ‘là bạn thân,’ hoặc ‘là bà con quyến thuộc,’ rồi do lòng thương mến đối với người ấy, do sự bảo vệ người ấy, người ấy trình bày điều phi pháp là chánh pháp, trình bày chánh pháp là phi pháp; trình bày điều phi luật là chánh luật, trình bày chánh luật là phi luật; trình bày điều không được Như Lai nói, không được Như Lai thốt ra là điều được Như Lai nói, được Như Lai thốt ra; trình bày điều được Như Lai nói, được Như Lai thốt ra là điều không được Như Lai nói, không được Như Lai thốt ra; trình bày điều không được Như Lai thực hành là điều được Như Lai thực hành; trình bày điều được Như Lai thực hành là điều không được Như Lai thực hành; trình bày điều không được Như Lai chế định là điều được Như Lai chế định; trình bày điều được Như Lai chế định là điều không được Như Lai chế định; trình bày sự không phạm tội là sự phạm tội; trình bày sự phạm tội là sự không phạm tội; trình bày tội nhẹ là tội nặng; trình bày tội nặng là tội nhẹ; trình bày tội còn sót là tội không còn sót; trình bày tội không còn sót là tội còn sót; trình bày tội thô lậu là tội không thô lậu; trình bày tội không thô lậu là tội thô lậu. Do mười tám sự việc này, người đi đến thiên vị do dục ái là người đã thực hành vì bất lợi cho đa số, vì không an lạc cho đa số, vì sự vô ích, vì bất lợi, vì đau khổ cho chư thiên và nhân loại. Do mười tám sự việc này, người đi đến thiên vị do dục ái tự mình mang lấy sự tổn hại, sự hủy hoại; người ấy có lỗi và đáng bị người trí chê trách, và tạo ra nhiều điều bất thiện. Người đi đến thiên vị do dục ái là đi đến thiên vị do dục ái như thế ấy.
dosāgatiṁ gacchanto kathaṁ dosāgatiṁ gacchati?
Idhekacco anatthaṁ me acarīti āghātaṁ bandhati, anatthaṁ me caratīti āghātaṁ bandhati, anatthaṁ me carissatīti āghātaṁ bandhati, piyassa me manāpassa anatthaṁ acari … anatthaṁ carati … anatthaṁ carissatīti āghātaṁ bandhati, appiyassa me amanāpassa atthaṁ acari … atthaṁ carati … atthaṁ carissatīti āghātaṁ bandhati. Imehi navahi āghātavatthūhi āghāto paṭighāto kuddho kodhābhibhūto adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti …pe… duṭṭhullaṁ āpattiṁ aduṭṭhullā āpattīti dīpeti, aduṭṭhullaṁ āpattiṁ duṭṭhullā āpattīti dīpeti.
Imehi aṭṭhārasahi vatthūhi dosāgatiṁ gacchanto bahujanāhitāya paṭipanno hoti bahujanāsukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ. Imehi aṭṭhārasahi vatthūhi dosāgatiṁ gacchanto khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ bahuñca apuññaṁ pasavati. Dosāgatiṁ gacchanto evaṁ dosāgatiṁ gacchati.
How is one biased by ill will?
It may be that someone thinks, “They’ve harmed me,” and he feels resentful. Or he thinks, “They’re harming me,” and he feels resentful. Or he thinks, “They’ll harm me,” and he feels resentful. Or he thinks, “They’ve harmed someone who’s dear to me” … “They’re harming someone who’s dear to me” … “They’ll harm someone who’s dear to me” … “They’ve benefited someone I dislike” … “They’re benefiting someone I dislike” … “They’ll benefit someone I dislike,” and he feels resentful. Because of these nine grounds for resentment, he is resentful, hostile, angry, and overcome by anger, and then proclaims what is contrary to the Teaching as being in accordance with it and what is in accordance with the Teaching as contrary to it … He proclaims a grave offense as minor, and a minor offense as grave.
If he is biased by ill will by way of these eighteen grounds, then his behavior is unbeneficial and a cause of unhappiness for humanity; it is harmful, detrimental, and a cause of suffering for gods and humans. If he is biased by ill will by way of these eighteen grounds, then he is damaged and impaired, blamed and criticized by sensible people, and makes much demerit.
380. Không nên đi đến thiên vị do sân hận (na dosāgati gantabbā) có nghĩa là: Người đi đến thiên vị do sân hận, đi đến thiên vị do sân hận như thế nào? Ở đây, có người ôm giữ lòng oán hận rằng: ‘Người kia đã làm điều bất lợi cho ta,’ ôm giữ lòng oán hận rằng: ‘Người kia đang làm điều bất lợi cho ta,’ ôm giữ lòng oán hận rằng: ‘Người kia sẽ làm điều bất lợi cho ta.’ Hoặc ôm giữ lòng oán hận rằng: ‘Người kia đã làm ... đang làm ... sẽ làm điều bất lợi cho người thân yêu, người khả ý của ta.’ Hoặc ôm giữ lòng oán hận rằng: ‘Người kia đã làm ... đang làm ... sẽ làm điều lợi ích cho người không thân yêu, người không khả ý của ta.’ Do chín căn nguyên oán hận này, người ấy có lòng oán hận, có lòng căm phẫn, tức giận, bị sân hận chi phối, rồi trình bày điều phi pháp là chánh pháp, trình bày chánh pháp là phi pháp, ... cho đến ... trình bày tội thô lậu là tội không thô lậu, trình bày tội không thô lậu là tội thô lậu. Do mười tám sự việc này, người đi đến thiên vị do sân hận là người đã thực hành vì bất lợi cho đa số, vì không an lạc cho đa số, vì sự vô ích, vì bất lợi, vì đau khổ cho chư thiên và nhân loại. Do mười tám sự việc này, người đi đến thiên vị do sân hận tự mình mang lấy sự tổn hại, sự hủy hoại; người ấy có lỗi và đáng bị người trí chê trách, và tạo ra nhiều điều bất thiện. Người đi đến thiên vị do sân hận là đi đến thiên vị do sân hận như thế ấy.
mohāgatiṁ gacchanto kathaṁ mohāgatiṁ gacchati?
Ratto rāgavasena gacchati, duṭṭho dosavasena gacchati, mūḷho mohavasena gacchati, parāmaṭṭho diṭṭhivasena gacchati, mūḷho sammūḷho mohābhibhūto adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti …pe… duṭṭhullaṁ āpattiṁ aduṭṭhullā āpattīti dīpeti, aduṭṭhullaṁ āpattiṁ duṭṭhullā āpattīti dīpeti.
Imehi aṭṭhārasahi vatthūhi mohāgatiṁ gacchanto bahujanāhitāya paṭipanno hoti bahujanāsukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ. Imehi aṭṭhārasahi vatthūhi mohāgatiṁ gacchanto khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavati. Mohāgatiṁ gacchanto evaṁ mohāgatiṁ gacchati.
How is one biased by confusion?
Biased by favoritism, ill will, or confusion, or by a grasped view, he is confused, deluded, and overcome by confusion, and then proclaims what is contrary to the Teaching as being in accordance with it and what is in accordance with the Teaching as contrary to it … He proclaims a grave offense as minor, and a minor offense as grave.
If he is biased by confusion by way of these eighteen grounds, then his behavior is unbeneficial and a cause of unhappiness for humanity; it is harmful, detrimental, and a cause of suffering for gods and humans. If he is biased by confusion by way of these eighteen grounds, then he is damaged and impaired, blamed and criticized by sensible people, and makes much demerit.
381. Không nên đi đến thiên vị do si mê (na mohāgati gantabbā) có nghĩa là: Người đi đến thiên vị do si mê, đi đến thiên vị do si mê như thế nào? Người tham ái đi theo quyền lực của tham ái, người sân hận đi theo quyền lực của sân hận, người si mê đi theo quyền lực của si mê, người chấp thủ đi theo quyền lực của tà kiến. Do si mê, do mê mờ, do bị si mê chi phối, người ấy trình bày điều phi pháp là chánh pháp, trình bày chánh pháp là phi pháp, ... cho đến ... trình bày tội thô lậu là tội không thô lậu, trình bày tội không thô lậu là tội thô lậu. Do mười tám sự việc này, người đi đến thiên vị do si mê là người đã thực hành vì bất lợi cho đa số, vì không an lạc cho đa số, vì sự vô ích, vì bất lợi, vì đau khổ cho chư thiên và nhân loại. Do mười tám sự việc này, người đi đến thiên vị do si mê tự mình mang lấy sự tổn hại, sự hủy hoại; người ấy có lỗi và đáng bị người trí chê trách, và tạo ra nhiều điều bất thiện. Người đi đến thiên vị do si mê là đi đến thiên vị do si mê như thế ấy.
bhayāgatiṁ gacchanto kathaṁ bhayāgatiṁ gacchati?
Idhekacco—“ayaṁ visamanissito vā gahananissito vā balavanissito vā kakkhaḷo pharuso jīvitantarāyaṁ vā brahmacariyantarāyaṁ vā karissatī”ti, tassa bhayā bhīto adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti, avinayaṁ vinayoti dīpeti, vinayaṁ avinayoti dīpeti, abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatena bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatenāti dīpeti, bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatena abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatenāti dīpeti, anāciṇṇaṁ tathāgatena āciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpeti, āciṇṇaṁ tathāgatena anāciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpeti, apaññattaṁ tathāgatena paññattaṁ tathāgatenāti dīpeti, paññattaṁ tathāgatena apaññattaṁ tathāgatenāti dīpeti, anāpattiṁ āpattīti dīpeti, āpattiṁ anāpattīti dīpeti, lahukaṁ āpattiṁ garukā āpattīti dīpeti, garukaṁ āpattiṁ lahukā āpattīti dīpeti, sāvasesaṁ āpattiṁ anavasesā āpattīti dīpeti, anavasesaṁ āpattiṁ sāvasesā āpattīti dīpeti, duṭṭhullaṁ āpattiṁ aduṭṭhullā āpattīti dīpeti, aduṭṭhullaṁ āpattiṁ duṭṭhullā āpattīti dīpeti.
Imehi aṭṭhārasahi vatthūhi bhayāgatiṁ gacchanto bahujanāhitāya paṭipanno hoti bahujanāsukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ. Imehi aṭṭhārasahi vatthūhi bhayāgatiṁ gacchanto khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti, sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavati. Bhayāgatiṁ gacchanto evaṁ bhayāgatiṁ gacchati.
How is one biased by fear?
It may be that someone thinks, “This one relies on the uneven, on thick covers, and on powerful individuals; he’s cruel and harsh, and might be a threat to life or the monastic life.” Fearful or frightened of him, he proclaims what is contrary to the Teaching as being in accordance with it and what is in accordance with the Teaching as contrary to it. He proclaims what is contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, and what is in accordance with the Monastic Law as contrary to it. He proclaims what hasn’t been spoken by the Buddha as spoken by him, and what has been spoken by the Buddha as not spoken by him. He proclaims what was not practiced by the Buddha as practiced by him, and what was practiced by the Buddha as not practiced by him. He proclaims what was not laid down by the Buddha as laid down by him, and what was laid down by the Buddha as not laid down by him. He proclaims a non-offense as an offense, and an offense as a non-offense. He proclaims a light offense as heavy, and a heavy offense as light. He proclaims a curable offense as incurable, and an incurable offense as curable. He proclaims a grave offense as minor, and a minor offense as grave.
If he is biased by fear by way of these eighteen grounds, then his behavior is unbeneficial and a cause of unhappiness for humanity; it is harmful, detrimental, and a cause of suffering for gods and humans. If he is biased by fear by way of these eighteen grounds, then he is damaged and impaired, blamed and criticized by sensible people, and makes much demerit.
382. Thế nào là không nên đi theo con đường sai lầm do sợ hãi? Người đi theo con đường sai lầm do sợ hãi, đi theo như thế nào? Ở đây, có người (nghĩ rằng): ‘Vị này nương tựa vào điều không công bằng, hoặc nương tựa vào tà kiến, hoặc nương tựa vào người có quyền thế, là người cứng rắn, thô bạo, sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc gây nguy hiểm đến phạm hạnh,’ do sợ hãi vị ấy, nên đã hoảng sợ mà trình bày phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp, trình bày phi Luật là Luật, trình bày Luật là phi Luật, trình bày điều không được Như Lai nói, không được Như Lai tuyên bố là điều được Như Lai nói, được Như Lai tuyên bố, trình bày điều được Như Lai nói, được Như Lai tuyên bố là điều không được Như Lai nói, không được Như Lai tuyên bố, trình bày điều không được Như Lai thực hành là điều được Như Lai thực hành, trình bày điều được Như Lai thực hành là điều không được Như Lai thực hành, trình bày điều không được Như Lai chế định là điều được Như Lai chế định, trình bày điều được Như Lai chế định là điều không được Như Lai chế định, trình bày không phạm tội là phạm tội, trình bày phạm tội là không phạm tội, trình bày tội nhẹ là tội nặng, trình bày tội nặng là tội nhẹ, trình bày tội còn dư sót là tội không còn dư sót, trình bày tội không còn dư sót là tội còn dư sót, trình bày tội thô là tội không thô, trình bày tội không thô là tội thô. Với mười tám sự việc này, người đi theo con đường sai lầm do sợ hãi đã thực hành vì sự bất lợi cho đa số, vì sự không an lạc cho đa số, vì sự vô ích, bất lợi, đau khổ cho chư thiên và nhân loại. Với mười tám sự việc này, người đi theo con đường sai lầm do sợ hãi mang theo một bản ngã đã bị đào xới, bị hủy hoại, trở nên có lỗi và đáng bị các bậc hiền trí khiển trách, và tạo ra nhiều điều phi phước. Người đi theo con đường sai lầm do sợ hãi là đi theo như vậy.
Chandā dosā bhayā mohā, yo dhammaṁ ativattati; Nihīyati tassa yaso, kāḷapakkheva candimāti.
“If, because of favoritism, ill will, fear, or confusion, He goes beyond the Teaching, Then his reputation is harmed, Like the moon during the waning half-month.”
Người nào do tham ái, sân hận, sợ hãi, si mê, mà vi phạm Chánh pháp; danh tiếng của người ấy bị suy giảm, giống như mặt trăng trong kỳ hạ huyền.
3. Agatiagamana
3. Not being biased
3. Sự Không Đi Theo Con Đường Sai Lầm
- Kathaṁ na chandāgatiṁ gacchati?
Adhammaṁ adhammoti dīpento na chandāgatiṁ gacchati, dhammaṁ dhammoti dīpento na chandāgatiṁ gacchati, avinayaṁ avinayoti dīpento na chandāgatiṁ gacchati, vinayaṁ vinayoti dīpento na chandāgatiṁ gacchati, abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatena abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatenāti dīpento na chandāgatiṁ gacchati, bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatena bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatenāti dīpento na chandāgatiṁ gacchati, anāciṇṇaṁ tathāgatena anāciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpento na chandāgatiṁ gacchati, āciṇṇaṁ tathāgatena āciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpento na chandāgatiṁ gacchati, apaññattaṁ tathāgatena apaññattaṁ tathāgatenāti dīpento na chandāgatiṁ gacchati, paññattaṁ tathāgatena paññattaṁ tathāgatenāti dīpento na chandāgatiṁ gacchati, anāpattiṁ anāpattīti dīpento na chandāgatiṁ gacchati, āpattiṁ āpattīti dīpento na chandāgatiṁ gacchati, lahukaṁ āpattiṁ lahukā āpattīti dīpento na chandāgatiṁ gacchati, garukaṁ āpattiṁ garukā āpattīti dīpento na chandāgatiṁ gacchati, sāvasesaṁ āpattiṁ sāvasesā āpattīti dīpento na chandāgatiṁ gacchati, anavasesaṁ āpattiṁ anavasesā āpattīti dīpento na chandāgatiṁ gacchati, duṭṭhullaṁ āpattiṁ duṭṭhullā āpattīti dīpento na chandāgatiṁ gacchati, aduṭṭhullaṁ āpattiṁ aduṭṭhullā āpattīti dīpento na chandāgatiṁ gacchati. Evaṁ na chandāgatiṁ gacchati.
- How is one not biased by favoritism?
One is not biased by favoritism if one proclaims what is contrary to the Teaching as such, and what is in accordance with the Teaching as such; if one proclaims what is contrary to the Monastic Law as such, and what is in accordance with the Monastic Law as such; if one proclaims what hasn’t been spoken by the Buddha as such, and what has been spoken by the Buddha as such; if one proclaims what was not practiced by the Buddha as such, and what was practiced by the Buddha as such; if one proclaims what was not laid down by the Buddha as such, and what was laid down by the Buddha as such; if one proclaims a non-offense as such, and an offense as such; if one proclaims a light offense as light, and a heavy offense as heavy; if one proclaims a curable offense as curable, and an incurable offense as incurable; if one proclaims a grave offense as grave, and a minor offense as minor.
383. Thế nào là không đi theo con đường sai lầm do tham ái? Người trình bày phi Pháp là phi Pháp thì không đi theo con đường sai lầm do tham ái, người trình bày Pháp là Pháp thì không đi theo con đường sai lầm do tham ái, người trình bày phi Luật là phi Luật thì không đi theo con đường sai lầm do tham ái, người trình bày Luật là Luật thì không đi theo con đường sai lầm do tham ái, người trình bày điều không được Như Lai nói, không được Như Lai tuyên bố là điều không được Như Lai nói, không được Như Lai tuyên bố thì không đi theo con đường sai lầm do tham ái, người trình bày điều được Như Lai nói, được Như Lai tuyên bố là điều được Như Lai nói, được Như Lai tuyên bố thì không đi theo con đường sai lầm do tham ái, người trình bày điều không được Như Lai thực hành là điều không được Như Lai thực hành thì không đi theo con đường sai lầm do tham ái, người trình bày điều được Như Lai thực hành là điều được Như Lai thực hành thì không đi theo con đường sai lầm do tham ái, người trình bày điều không được Như Lai chế định là điều không được Như Lai chế định thì không đi theo con đường sai lầm do tham ái, người trình bày điều được Như Lai chế định là điều được Như Lai chế định thì không đi theo con đường sai lầm do tham ái, người trình bày không phạm tội là không phạm tội thì không đi theo con đường sai lầm do tham ái, người trình bày phạm tội là phạm tội thì không đi theo con đường sai lầm do tham ái, người trình bày tội nhẹ là tội nhẹ thì không đi theo con đường sai lầm do tham ái, người trình bày tội nặng là tội nặng thì không đi theo con đường sai lầm do tham ái, người trình bày tội còn dư sót là tội còn dư sót thì không đi theo con đường sai lầm do tham ái, người trình bày tội không còn dư sót là tội không còn dư sót thì không đi theo con đường sai lầm do tham ái, người trình bày tội thô là tội thô thì không đi theo con đường sai lầm do tham ái, người trình bày tội không thô là tội không thô thì không đi theo con đường sai lầm do tham ái. Như vậy là không đi theo con đường sai lầm do tham ái.
Adhammaṁ adhammoti dīpento na dosāgatiṁ gacchati, dhammaṁ dhammoti dīpento na dosāgatiṁ gacchati …pe… duṭṭhullaṁ āpattiṁ duṭṭhullā āpattīti dīpento na dosāgatiṁ gacchati, aduṭṭhullaṁ āpattiṁ aduṭṭhullā āpattīti dīpento na dosāgatiṁ gacchati. Evaṁ na dosāgatiṁ gacchati.
One is not biased by ill will if one proclaims what is contrary to the Teaching as such, and what is in accordance with the Teaching as such … if one proclaims a grave offense as grave, and a minor offense as minor.
384. Thế nào là không đi theo con đường sai lầm do sân hận? Người trình bày phi Pháp là phi Pháp thì không đi theo con đường sai lầm do sân hận, người trình bày Pháp là Pháp thì không đi theo con đường sai lầm do sân hận, ... cho đến ... người trình bày tội thô là tội thô thì không đi theo con đường sai lầm do sân hận, người trình bày tội không thô là tội không thô thì không đi theo con đường sai lầm do sân hận. Như vậy là không đi theo con đường sai lầm do sân hận.
Adhammaṁ adhammoti dīpento na mohāgatiṁ gacchati, dhammaṁ dhammoti dīpento na mohāgatiṁ gacchati …pe… duṭṭhullaṁ āpattiṁ duṭṭhullā āpattīti dīpento na mohāgatiṁ gacchati, aduṭṭhullaṁ āpattiṁ aduṭṭhullā āpattīti dīpento na mohāgatiṁ gacchati. Evaṁ na mohāgatiṁ gacchati.
One is not biased by confusion if one proclaims what is contrary to the Teaching as such, and what is in accordance with the Teaching as such … if one proclaims a grave offense as grave, and a minor offense as minor.
385. Thế nào là không đi theo con đường sai lầm do si mê? Người trình bày phi Pháp là phi Pháp thì không đi theo con đường sai lầm do si mê, người trình bày Pháp là Pháp thì không đi theo con đường sai lầm do si mê, ... cho đến ... người trình bày tội thô là tội thô thì không đi theo con đường sai lầm do si mê, người trình bày tội không thô là tội không thô thì không đi theo con đường sai lầm do si mê. Như vậy là không đi theo con đường sai lầm do si mê.
Adhammaṁ adhammoti dīpento na bhayāgatiṁ gacchati, dhammaṁ dhammoti dīpento na bhayāgatiṁ gacchati, avinayaṁ avinayoti dīpento na bhayāgatiṁ gacchati, vinayaṁ vinayoti dīpento na bhayāgatiṁ gacchati, abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatena abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatenāti dīpento na bhayāgatiṁ gacchati, bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatena bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatenāti dīpento na bhayāgatiṁ gacchati, anāciṇṇaṁ tathāgatena anāciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpento na bhayāgatiṁ gacchati, āciṇṇaṁ tathāgatena āciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpento na bhayāgatiṁ gacchati, apaññattaṁ tathāgatena apaññattaṁ tathāgatenāti dīpento na bhayāgatiṁ gacchati, paññattaṁ tathāgatena paññattaṁ tathāgatenāti dīpento na bhayāgatiṁ gacchati, anāpattiṁ anāpattīti dīpento na bhayāgatiṁ gacchati, āpattiṁ āpattīti dīpento na bhayāgatiṁ gacchati, lahukaṁ āpattiṁ lahukā āpattīti dīpento na bhayāgatiṁ gacchati, garukaṁ āpattiṁ garukā āpattīti dīpento na bhayāgatiṁ gacchati, sāvasesaṁ āpattiṁ sāvasesā āpattīti dīpento na bhayāgatiṁ gacchati, anavasesaṁ āpattiṁ anavasesā āpattīti dīpento na bhayāgatiṁ gacchati, duṭṭhullaṁ āpattiṁ duṭṭhullā āpattīti dīpento na bhayāgatiṁ gacchati, aduṭṭhullaṁ āpattiṁ aduṭṭhullā āpattīti dīpento na bhayāgatiṁ gacchati. Evaṁ na bhayāgatiṁ gacchati.
One is not biased by fear if one proclaims what is contrary to the Teaching as such, and what is in accordance with the Teaching as such; if one proclaims what is contrary to the Monastic Law as such, and what is in accordance with the Monastic Law as such; if one proclaims what hasn’t been spoken by the Buddha as such, and what has been spoken by the Buddha as such; if one proclaims what was not practiced by the Buddha as such, and what was practiced by the Buddha as such; if one proclaims what was not laid down by the Buddha as such, and what was laid down by the Buddha as such; if one proclaims a non-offense as such, and an offense as such; if one proclaims a light offense as light, and a heavy offense as heavy; if one proclaims a curable offense as curable, and an incurable offense as incurable; if one proclaims a grave offense as grave, and a minor offense as minor.
386. Làm thế nào không đi đến đường lối sai lạc do sợ hãi? Người trình bày phi Pháp là phi Pháp thì không đi đến đường lối sai lạc do sợ hãi, người trình bày Pháp là Pháp thì không đi đến đường lối sai lạc do sợ hãi, người trình bày phi Luật là phi Luật thì không đi đến đường lối sai lạc do sợ hãi, người trình bày Luật là Luật thì không đi đến đường lối sai lạc do sợ hãi, người trình bày ‘điều không được nói, không được thốt ra bởi Như Lai’ là ‘điều không được nói, không được thốt ra bởi Như Lai’ thì không đi đến đường lối sai lạc do sợ hãi, người trình bày ‘điều được nói, được thốt ra bởi Như Lai’ là ‘điều được nói, được thốt ra bởi Như Lai’ thì không đi đến đường lối sai lạc do sợ hãi, người trình bày ‘điều không được Như Lai thực hành’ là ‘điều không được Như Lai thực hành’ thì không đi đến đường lối sai lạc do sợ hãi, người trình bày ‘điều được Như Lai thực hành’ là ‘điều được Như Lai thực hành’ thì không đi đến đường lối sai lạc do sợ hãi, người trình bày ‘điều không được Như Lai chế định’ là ‘điều không được Như Lai chế định’ thì không đi đến đường lối sai lạc do sợ hãi, người trình bày ‘điều được Như Lai chế định’ là ‘điều được Như Lai chế định’ thì không đi đến đường lối sai lạc do sợ hãi, người trình bày vô tội là vô tội thì không đi đến đường lối sai lạc do sợ hãi, người trình bày có tội là có tội thì không đi đến đường lối sai lạc do sợ hãi, người trình bày tội nhẹ là tội nhẹ thì không đi đến đường lối sai lạc do sợ hãi, người trình bày tội nặng là tội nặng thì không đi đến đường lối sai lạc do sợ hãi, người trình bày tội còn lại dư sót là tội còn lại dư sót thì không đi đến đường lối sai lạc do sợ hãi, người trình bày tội không còn dư sót là tội không còn dư sót thì không đi đến đường lối sai lạc do sợ hãi, người trình bày tội thô lậu là tội thô lậu thì không đi đến đường lối sai lạc do sợ hãi, người trình bày tội không thô lậu là tội không thô lậu thì không đi đến đường lối sai lạc do sợ hãi. Như vậy là không đi đến đường lối sai lạc do sợ hãi.
Chandā dosā bhayā mohā, yo dhammaṁ nātivattati; Āpūrati tassa yaso, sukkapakkheva candimāti.
“If, because of favoritism, ill will, fear, or confusion, He does not go beyond the Teaching, Then his reputation grows, Like the moon during the waxing fortnight.”
Vị nào không vi phạm Pháp, do tham muốn, do sân hận, do sợ hãi, do si mê; danh tiếng của vị ấy được tăng thịnh, giống như mặt trăng trong thượng tuần.
4. Saññāpanīyādi
4. To be persuaded, etc.
4. Trường hợp cần được làm cho hiểu rõ, v.v...
- Kathaṁ saññāpanīye ṭhāne saññāpeti?
- Adhammaṁ adhammoti dīpento saññāpanīye ṭhāne saññāpeti, dhammaṁ dhammoti dīpento saññāpanīye ṭhāne saññāpeti …pe… duṭṭhullaṁ āpattiṁ duṭṭhullā āpattīti dīpento saññāpanīye ṭhāne saññāpeti, aduṭṭhullaṁ āpattiṁ aduṭṭhullā āpattīti dīpento saññāpanīye ṭhāne saññāpeti. Evaṁ saññāpanīye ṭhāne saññāpeti.
- How does one persuade when persuasion is appropriate?
- Proclaiming what is contrary to the Teaching as such, and what is in accordance with the Teaching as such, he persuades others when persuasion is appropriate. … Proclaiming a grave offense as grave and a minor offense as minor, he persuades others when persuasion is appropriate.
387. Làm thế nào làm cho hiểu rõ ở trường hợp cần được làm cho hiểu rõ? Người trình bày phi Pháp là phi Pháp thì làm cho hiểu rõ ở trường hợp cần được làm cho hiểu rõ, người trình bày Pháp là Pháp thì làm cho hiểu rõ ở trường hợp cần được làm cho hiểu rõ, ... cho đến ... người trình bày tội thô lậu là tội thô lậu thì làm cho hiểu rõ ở trường hợp cần được làm cho hiểu rõ, người trình bày tội không thô lậu là tội không thô lậu thì làm cho hiểu rõ ở trường hợp cần được làm cho hiểu rõ. Như vậy là làm cho hiểu rõ ở trường hợp cần được làm cho hiểu rõ.
388. Làm thế nào làm cho thẩm xét ở trường hợp cần được làm cho thẩm xét? Người trình bày phi Pháp là phi Pháp thì làm cho thẩm xét ở trường hợp cần được làm cho thẩm xét, người trình bày Pháp là Pháp thì làm cho thẩm xét ở trường hợp cần được làm cho thẩm xét, ... cho đến ... người trình bày tội thô lậu là tội thô lậu thì làm cho thẩm xét ở trường hợp cần được làm cho thẩm xét, người trình bày tội không thô lậu là tội không thô lậu thì làm cho thẩm xét ở trường hợp cần được làm cho thẩm xét. Như vậy là làm cho thẩm xét ở trường hợp cần được làm cho thẩm xét.
389. Làm thế nào xem xét ở trường hợp cần được xem xét? Người trình bày phi Pháp là phi Pháp thì xem xét ở trường hợp cần được xem xét, người trình bày Pháp là Pháp thì xem xét ở trường hợp cần được xem xét, ... cho đến ... người trình bày tội thô lậu là tội thô lậu thì xem xét ở trường hợp cần được xem xét, người trình bày tội không thô lậu là tội không thô lậu thì xem xét ở trường hợp cần được xem xét. Như vậy là xem xét ở trường hợp cần được xem xét.
390. Làm thế nào làm cho có tín tâm ở trường hợp cần được làm cho có tín tâm? Người trình bày phi Pháp là phi Pháp thì làm cho có tín tâm ở trường hợp cần được làm cho có tín tâm, người trình bày Pháp là Pháp thì làm cho có tín tâm ở trường hợp cần được làm cho có tín tâm, ... cho đến ... người trình bày tội thô lậu là tội thô lậu thì làm cho có tín tâm ở trường hợp cần được làm cho có tín tâm, người trình bày tội không thô lậu là tội không thô lậu thì làm cho có tín tâm ở trường hợp cần được làm cho có tín tâm. Như vậy là làm cho có tín tâm ở trường hợp cần được làm cho có tín tâm.
5. Parapakkhādiavajānana
5. Despising the supporters of others, etc.
5. Sự khinh thường phe nhóm đối lập, v.v...
- Kathaṁ laddhapakkhomhīti parapakkhaṁ avajānāti?
- Idhekacco laddhapakkho hoti laddhaparivāro pakkhavā ñātimā. “Ayaṁ aladdhapakkho aladdhaparivāro na pakkhavā na ñātimā”ti tassa avajānanto adhammaṁ dhammoti dīpeti, dhammaṁ adhammoti dīpeti …pe… duṭṭhullaṁ āpattiṁ aduṭṭhullā āpattīti dīpeti, aduṭṭhullaṁ āpattiṁ duṭṭhullā āpattīti dīpeti. Evaṁ laddhapakkhomhīti parapakkhaṁ avajānāti.
- Thinking, “I’ve obtained supporters,” how does one despise the supporters of others?
- It may be that someone has obtained supporters and a group of followers, and has relatives. He thinks, “This one doesn’t have supporters or a group of followers, and doesn’t have relatives,” and despising him, he proclaims what is contrary to the Teaching as being in accordance with it and what is in accordance with the Teaching as contrary to it. … He proclaims a grave offense as minor, and a minor offense as grave.
391. Làm thế nào khinh thường phe nhóm đối lập với ý nghĩ rằng: ‘Ta đây có phe nhóm’? Ở đây, có người có được phe nhóm, có được đoàn tùy tùng, có phe nhóm, có quyến thuộc. Vị ấy khinh thường người kia với ý nghĩ rằng: ‘Vị này không có được phe nhóm, không có được đoàn tùy tùng, không có phe nhóm, không có quyến thuộc,’ rồi trình bày phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp, ... cho đến ... trình bày tội thô lậu là tội không thô lậu, trình bày tội không thô lậu là tội thô lậu. Như vậy là khinh thường phe nhóm đối lập với ý nghĩ rằng: ‘Ta đây có phe nhóm’.
392. Làm thế nào khinh thường người ít học với ý nghĩ rằng: ‘Ta đây là bậc đa văn’? Ở đây, có người là bậc đa văn, ghi nhớ điều đã nghe, tích lũy điều đã nghe. Vị ấy khinh thường người kia với ý nghĩ rằng: ‘Vị này ít học, ít thuộc lòng, ít ghi nhớ,’ rồi trình bày phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp, ... cho đến ... trình bày tội thô lậu là tội không thô lậu, trình bày tội không thô lậu là tội thô lậu. Như vậy là khinh thường người ít học với ý nghĩ rằng: ‘Ta đây là bậc đa văn’.
393. Làm thế nào khinh thường vị trẻ tuổi hơn với ý nghĩ rằng: ‘Ta đây là bậc trưởng lão hơn’? Ở đây, có người là trưởng lão, có nhiều hạ lạp, xuất gia đã lâu. Vị ấy khinh thường người kia với ý nghĩ rằng: ‘Vị này là người mới, không được biết đến, không có công đức, lời nói của vị này sẽ không được thực hiện,’ rồi trình bày phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp, ... cho đến ... trình bày tội thô lậu là tội không thô lậu, trình bày tội không thô lậu là tội thô lậu. Như vậy là khinh thường vị trẻ tuổi hơn với ý nghĩ rằng: ‘Ta đây là bậc trưởng lão hơn’.
394. “Không nên trình bày việc chưa đến” có nghĩa là không nên đặt xuống gánh nặng chưa được mang vào. “Không nên làm cho suy giảm việc đã đến khỏi Pháp và Luật” có nghĩa là Tăng chúng đã tụ họp vì mục đích nào thì không nên làm cho mục đích ấy bị suy giảm khỏi Pháp và Luật.
395. “Bởi Pháp nào” có nghĩa là bởi sự việc có thật. “Bởi Luật nào” có nghĩa là sau khi khiển trách, sau khi nhắc nhở. “Bởi giáo huấn của Bậc Đạo Sư nào” có nghĩa là bởi sự thành tựu của yết-ma, bởi sự thành tựu của tuyên cáo; việc tranh tụng ấy được dập tắt bởi Pháp nào, bởi Luật nào, bởi giáo huấn của Bậc Đạo Sư nào, thì việc tranh tụng ấy nên được dập tắt theo cách thức ấy.
6. Anuvijjakassaanuyoga
6. Questioning by the investigator
6. Sự tra hỏi của vị tra xét
Anuvijjakena codako pucchitabbo—“yaṁ kho tvaṁ, āvuso, imassa bhikkhuno pavāraṇaṁ ṭhapesi, kimhi naṁ ṭhapesi, sīlavipattiyā vā ṭhapesi, ācāravipattiyā vā ṭhapesi, diṭṭhivipattiyā vā ṭhapesī”ti?
So ce evaṁ vadeyya—“sīlavipattiyā vā ṭhapemi, ācāravipattiyā vā ṭhapemi, diṭṭhivipattiyā vā ṭhapemī”ti, so evamassa vacanīyo—“jānāti panāyasmā sīlavipattiṁ, jānāti ācāravipattiṁ, jānāti diṭṭhivipattin”ti?
So ce evaṁ vadeyya—“jānāmi kho ahaṁ, āvuso, sīlavipattiṁ, jānāmi ācāravipattiṁ, jānāmi diṭṭhivipattin”ti, so evamassa vacanīyo—
“katamā panāvuso, sīlavipatti, katamā ācāravipatti, katamā diṭṭhivipattī”ti? So ce evaṁ vadeyya—“cattāri pārājikāni terasa saṅghādisesā—ayaṁ sīlavipatti. Thullaccayaṁ pācittiyaṁ pāṭidesanīyaṁ dukkaṭaṁ dubbhāsitaṁ—ayaṁ ācāravipatti. Micchādiṭṭhi antaggāhikādiṭṭhi—ayaṁ diṭṭhivipattī”ti, so evamassa vacanīyo—“yaṁ kho tvaṁ, āvuso, imassa bhikkhuno pavāraṇaṁ ṭhapesi, diṭṭhena vā ṭhapesi, sutena vā ṭhapesi, parisaṅkāya vā ṭhapesī”ti?
So ce evaṁ vadeyya—“diṭṭhena vā ṭhapemi, sutena vā ṭhapemi, parisaṅkāya vā ṭhapemī”ti, so evamassa vacanīyo—“yaṁ kho tvaṁ, āvuso, imassa bhikkhuno diṭṭhena pavāraṇaṁ ṭhapesi, kiṁ te diṭṭhaṁ, kinti te diṭṭhaṁ, kadā te diṭṭhaṁ, kattha te diṭṭhaṁ, pārājikaṁ ajjhāpajjanto diṭṭho, saṅghādisesaṁ ajjhāpajjanto diṭṭho, thullaccayaṁ … pācittiyaṁ … pāṭidesanīyaṁ … dukkaṭaṁ … dubbhāsitaṁ ajjhāpajjanto diṭṭho, kattha ca tvaṁ ahosi, kattha cāyaṁ bhikkhu ahosi, kiñca tvaṁ karosi, kiṁ cāyaṁ bhikkhu karotī”ti?
So ce evaṁ vadeyya—“na kho ahaṁ, āvuso, imassa bhikkhuno diṭṭhena pavāraṇaṁ ṭhapemi, api ca sutena pavāraṇaṁ ṭhapemī”ti, so evamassa vacanīyo—“yaṁ kho tvaṁ, āvuso, imassa bhikkhuno sutena pavāraṇaṁ ṭhapesi, kiṁ te sutaṁ, kinti te sutaṁ, kadā te sutaṁ, kattha te sutaṁ, pārājikaṁ ajjhāpannoti sutaṁ, saṅghādisesaṁ ajjhāpannoti sutaṁ, thullaccayaṁ … pācittiyaṁ … pāṭidesanīyaṁ … dukkaṭaṁ … dubbhāsitaṁ ajjhāpannoti sutaṁ, bhikkhussa sutaṁ, bhikkhuniyā sutaṁ, sikkhamānāya sutaṁ, sāmaṇerassa sutaṁ, sāmaṇeriyā sutaṁ, upāsakassa sutaṁ, upāsikāya sutaṁ, rājūnaṁ sutaṁ, rājamahāmattānaṁ sutaṁ, titthiyānaṁ sutaṁ, titthiyasāvakānaṁ sutan”ti?
So ce evaṁ vadeyya—“na kho ahaṁ, āvuso, imassa bhikkhuno sutena pavāraṇaṁ ṭhapemi, api ca parisaṅkāya pavāraṇaṁ ṭhapemī”ti, so evamassa vacanīyo—“yaṁ kho tvaṁ, āvuso, imassa bhikkhuno parisaṅkāya pavāraṇaṁ ṭhapesi, kiṁ parisaṅkasi, kinti parisaṅkasi, kadā parisaṅkasi, kattha parisaṅkasi, pārājikaṁ ajjhāpannoti parisaṅkasi, saṅghādisesaṁ ajjhāpannoti parisaṅkasi, thullaccayaṁ … pācittiyaṁ … pāṭidesanīyaṁ … dukkaṭaṁ … dubbhāsitaṁ ajjhāpannoti parisaṅkasi, bhikkhussa sutvā parisaṅkasi, bhikkhuniyā sutvā parisaṅkasi, sikkhamānāya sutvā parisaṅkasi, sāmaṇerassa sutvā parisaṅkasi, sāmaṇeriyā sutvā parisaṅkasi, upāsakassa sutvā parisaṅkasi, upāsikāya sutvā parisaṅkasi, rājūnaṁ sutvā parisaṅkasi, rājamahāmattānaṁ sutvā parisaṅkasi, titthiyānaṁ sutvā parisaṅkasi, titthiyasāvakānaṁ sutvā parisaṅkasī”ti?
The investigator should ask the accuser, “Are you canceling this monk’s invitation because he has failed in morality, in conduct, or in view?”
If he says, “I’m canceling it because he has failed in morality,” “I’m canceling it because he has failed in conduct,” or “I’m canceling it because he has failed in view,” he should be asked, “Do you know what failure in morality is?” “Do you know what failure in conduct is?” or “Do you know what failure in view is?”
If he says, “I do,” he should be asked what they are.
If he says, “The four offenses entailing expulsion and the thirteen entailing suspension are failure in morality,” “The serious offenses, the offenses entailing confession, the offenses entailing acknowledgment, the offenses of wrong conduct, and the offenses of wrong speech are failure in conduct,” “Wrong views and extreme views are failure in view,” he should be asked, “Are you canceling this monk’s invitation because of what you’ve seen, what you’ve heard, or what you suspect?”
If he says, “I’m canceling it because of what I’ve seen,” “I’m canceling it because of what I’ve heard,” or “I’m canceling it because of what I suspect,” he should be asked, “Since you’re canceling this monk’s invitation because of what you’ve seen, what have you seen? How did you see it? When did you see it? Where did you see it? Did you see him commit an offense entailing expulsion? Did you see him commit an offense entailing suspension? Did you see him commit a serious offense, an offense entailing confession, an offense entailing acknowledgment, an offense of wrong conduct, or an offense of wrong speech? Where were you? Where was this monk? What were you doing? What was this monk doing?”
If he says, “I didn’t cancel this monk’s invitation because of what I’ve seen, but because of what I’ve heard,” he should be asked, “Since you’re canceling this monk’s invitation because of what you’ve heard, what have you heard? How did you hear it? When did you hear it? Where did you hear it? Did you hear that he has committed an offense entailing expulsion? Did you hear that he has committed an offense entailing suspension? Did you hear that he has committed a serious offense, an offense entailing confession, an offense entailing acknowledgment, an offense of wrong conduct, or an offense of wrong speech? Did you hear it from a monk, a nun, a trainee nun, a novice monk, a novice nun, a male lay follower, or a female lay follower? Or did you hear it from kings, a king’s officials, the monastics of another religion, or the lay followers of another religion?”
If he says, “I didn’t cancel this monk’s invitation because of what I’ve heard, but because of what I suspect,” he should be asked, “Since you’re canceling this monk’s invitation because of suspicion, what do you suspect? How do you suspect it? When did you suspect it? Where did you suspect it? Do you suspect that he has committed an offense entailing expulsion? Do you suspect that he has committed an offense entailing suspension? Do you suspect that he has committed a serious offense, an offense entailing confession, an offense entailing acknowledgment, an offense of wrong conduct, or an offense of wrong speech? Do you suspect it after hearing about it from a monk, a nun, a trainee nun, a novice monk, a novice nun, a male lay follower, or a female lay follower? Or do you suspect it after hearing about it from kings, a king’s officials, the monastics of another religion, or the lay followers of another religion?”
396. Vị tra xét nên hỏi vị khiển trách rằng: “Này hiền giả, việc hiền giả đã ngăn cản lễ pavāraṇā của vị tỳ khưu này, vì sao hiền giả đã ngăn cản vị ấy? Hiền giả đã ngăn cản vì giới bị hư hỏng, hay đã ngăn cản vì hạnh kiểm bị hư hỏng, hay đã ngăn cản vì tri kiến bị hư hỏng?”. Nếu vị ấy nói như vầy: “Tôi đã ngăn cản vì giới bị hư hỏng, hoặc tôi đã ngăn cản vì hạnh kiểm bị hư hỏng, hoặc tôi đã ngăn cản vì tri kiến bị hư hỏng,” vị ấy nên được nói như vầy: “Vậy Tôn giả có biết về giới bị hư hỏng, có biết về hạnh kiểm bị hư hỏng, có biết về tri kiến bị hư hỏng không?”. Nếu vị ấy nói như vầy: “Này hiền giả, tôi quả thật biết về giới bị hư hỏng, biết về hạnh kiểm bị hư hỏng, biết về tri kiến bị hư hỏng,” vị ấy nên được nói như vầy: “Này hiền giả, vậy giới bị hư hỏng là gì, hạnh kiểm bị hư hỏng là gì, tri kiến bị hư hỏng là gì?”. Nếu vị ấy nói như vầy: “Bốn tội pārājika và mười ba tội saṅghādisesa – đây là giới bị hư hỏng. Tội thullaccaya, pācittiya, pāṭidesanīya, dukkaṭa, dubbhāsita – đây là hạnh kiểm bị hư hỏng. Tà kiến và biên chấp kiến – đây là tri kiến bị hư hỏng,” vị ấy nên được nói như vầy: “Này hiền giả, việc hiền giả đã ngăn cản lễ pavāraṇā của vị tỳ khưu này, là do thấy, hay do nghe, hay do nghi ngờ?”. Nếu vị ấy nói như vầy: “Tôi đã ngăn cản do thấy, hoặc do nghe, hoặc do nghi ngờ,” vị ấy nên được nói như vầy: “Này hiền giả, việc hiền giả đã ngăn cản lễ pavāraṇā của vị tỳ khưu này do thấy, hiền giả đã thấy gì, hiền giả đã thấy như thế nào, hiền giả đã thấy khi nào, hiền giả đã thấy ở đâu? Có thấy vị ấy đang phạm tội pārājika, đang phạm tội saṅghādisesa, đang phạm tội thullaccaya… pācittiya… pāṭidesanīya… dukkaṭa… dubbhāsita không? Và hiền giả đã ở đâu, và vị tỳ khưu này đã ở đâu? Và hiền giả đã làm gì, và vị tỳ khưu này đã làm gì?”. Nếu vị ấy nói như vầy: “Này hiền giả, tôi quả thật không ngăn cản lễ pavāraṇā của vị tỳ khưu này do thấy, mà là do nghe tôi đã ngăn cản lễ pavāraṇā,” vị ấy nên được nói như vầy: “Này hiền giả, việc hiền giả đã ngăn cản lễ pavāraṇā của vị tỳ khưu này do nghe, hiền giả đã nghe gì, hiền giả đã nghe như thế nào, hiền giả đã nghe khi nào, hiền giả đã nghe ở đâu? Có nghe nói rằng vị ấy đã phạm tội pārājika, đã phạm tội saṅghādisesa, đã phạm tội thullaccaya… pācittiya… pāṭidesanīya… dukkaṭa… dubbhāsita không? Đã nghe từ một vị tỳ khưu, từ một vị tỳ khưu ni, từ một vị sikkhamānā, từ một vị sāmaṇera, từ một vị sāmaṇerī, từ một nam cư sĩ, từ một nữ cư sĩ, từ các vị vua, từ các vị đại thần của vua, từ các người ngoại đạo, từ các đệ tử của người ngoại đạo?”. Nếu vị ấy nói như vầy: “Này hiền giả, tôi quả thật không ngăn cản lễ pavāraṇā của vị tỳ khưu này do nghe, mà là do nghi ngờ tôi đã ngăn cản lễ pavāraṇā,” vị ấy nên được nói như vầy: “Này hiền giả, việc hiền giả đã ngăn cản lễ pavāraṇā của vị tỳ khưu này do nghi ngờ, hiền giả nghi ngờ điều gì, hiền giả nghi ngờ như thế nào, hiền giả nghi ngờ khi nào, hiền giả nghi ngờ ở đâu? Có nghi ngờ rằng vị ấy đã phạm tội pārājika, đã phạm tội saṅghādisesa, đã phạm tội thullaccaya… pācittiya… pāṭidesanīya… dukkaṭa… dubbhāsita không? Có phải hiền giả nghi ngờ sau khi nghe lời của một vị tỳ khưu, sau khi nghe lời của một vị tỳ khưu ni, sau khi nghe lời của một vị sikkhamānā, sau khi nghe lời của một vị sāmaṇera, sau khi nghe lời của một vị sāmaṇerī, sau khi nghe lời của một nam cư sĩ, sau khi nghe lời của một nữ cư sĩ, sau khi nghe lời của các vị vua, sau khi nghe lời của các vị đại thần của vua, sau khi nghe lời của các người ngoại đạo, sau khi nghe lời của các đệ tử của người ngoại đạo?”.
Diṭṭhaṁ diṭṭhena sameti, diṭṭhena saṁsandate diṭṭhaṁ; Diṭṭhaṁ paṭicca na upeti, asuddhaparisaṅkito; So puggalo paṭiññāya, kātabbā tena pavāraṇā.
“If what he saw agrees with what he says he saw, If they correspond with each other, But what was seen isn’t adequate to prove the accusation, Then the one suspecting impurity Should admit it, And they should then do the invitation ceremony with him.
Cái thấy phù hợp với cái thấy, cái thấy tương đồng với cái thấy; do nương vào cái thấy mà không đi đến (tội), vị ấy bị nghi ngờ là không trong sạch; do sự thú nhận của vị ấy, nên thực hiện lễ Tự tứ cùng với vị ấy.
Sutaṁ sutena sameti, sutena saṁsandate sutaṁ; Sutaṁ paṭicca na upeti, asuddhaparisaṅkito; So puggalo paṭiññāya, kātabbā tena pavāraṇā.
If what he heard agrees with what he says he heard, If they correspond with each other, But what was heard isn’t adequate to prove the accusation, Then the one suspecting impurity Should admit it, And they should then do the invitation ceremony with him.
Điều đã nghe phù hợp với lời nói “đã nghe”, điều đã nghe tương ứng với lời nói “đã nghe”; Dựa vào điều đã nghe mà không phạm tội, người ấy bị nghi ngờ là không trong sạch; Do sự thừa nhận của người ấy, nên thực hiện lễ pavāraṇā cùng với người ấy.
Mutaṁ mutena sameti, Mutena saṁsandate mutaṁ; Mutaṁ paṭicca na upeti, Asuddhaparisaṅkito; So puggalo paṭiññāya, Kātabbā tena pavāraṇāti.
If what he sensed agrees with what he says he sensed, If they correspond with each other, But what was sensed isn’t adequate to prove the accusation, Then the one suspecting impurity Should admit it, And they should then do the invitation ceremony with him.”
Điều đã cảm nhận phù hợp với lời nói “đã cảm nhận”, điều đã cảm nhận tương ứng với lời nói “đã cảm nhận”; Dựa vào điều đã cảm nhận mà không phạm tội, người ấy bị nghi ngờ là không trong sạch; Do sự thừa nhận của người ấy, nên thực hiện lễ pavāraṇā cùng với người ấy.
7. Pucchāvibhāga
7. The details of asking
7. Phân tích các câu hỏi
Kiṁ te diṭṭhanti katamā pucchā? Kinti te diṭṭhanti katamā pucchā? Kadā te diṭṭhanti katamā pucchā? Kattha te diṭṭhanti katamā pucchā?
“What are the questions in regard to ‘What have you seen?’ What are the questions in regard to ‘How did you see it?’ What are the questions in regard to ‘When did you see it?’ What are the questions in regard to ‘Where did you see it?’
398. Câu hỏi “Hiền giả đã thấy gì?” là câu hỏi nào? Câu hỏi “Hiền giả đã thấy như thế nào?” là câu hỏi nào? Câu hỏi “Hiền giả đã thấy khi nào?” là câu hỏi nào? Câu hỏi “Hiền giả đã thấy ở đâu?” là câu hỏi nào?
- Kiṁ te diṭṭhanti
- vatthupucchā, vipattipucchā, āpattipucchā, ajjhācārapucchā. Vatthupucchāti—aṭṭhapārājikānaṁ vatthupucchā, tevīsasaṅghādisesānaṁ vatthupucchā, dveaniyatānaṁ vatthupucchā, dvecattārīsanissaggiyānaṁ vatthupucchā, aṭṭhāsītisatapācittiyānaṁ vatthupucchā, dvādasapāṭidesanīyānaṁ vatthupucchā, dukkaṭānaṁ vatthupucchā, dubbhāsitānaṁ vatthupucchā. Vipattipucchāti—sīlavipattipucchā, ācāravipattipucchā, diṭṭhivipattipucchā, ājīvavipattipucchā. Āpattipucchāti—pārājikāpattipucchā, saṅghādisesāpattipucchā, thullaccayāpattipucchā, pācittiyāpattipucchā, pāṭidesanīyāpattipucchā, dukkaṭāpattipucchā, dubbhāsitāpattipucchā. Ajjhācārapucchāti—dvayaṁdvayasamāpattipucchā.
- In regard to ‘What have you seen?’
- there are questions on the actions that are the bases for offenses, there are questions on failure, there are questions on offenses, and there are questions on misconduct. ‘Questions on the actions that are the bases for offenses’: there are questions on the actions that are the bases for the eight offenses entailing expulsion, on the actions that are the bases for the twenty-three offenses entailing suspension, for the two undetermined offenses, for the forty-two offenses entailing relinquishment, for the one hundred and eighty-eight offenses entailing confession, for the twelve offenses entailing acknowledgment, for the offenses of wrong conduct, and for the offenses of wrong speech. ‘Questions on failure’: there are questions on failure in morality, on failure in conduct, on failure in view, and on failure in livelihood. ‘Questions on the offenses’: there are questions on the offenses entailing expulsion, on the offenses entailing suspension, on the serious offenses, on the offenses entailing confession, on the offenses entailing acknowledgement, on the offenses of wrong conduct, and on the offenses of wrong speech. ‘Questions on misconduct’: there are questions on that which is done wherever there are couples.
399. Câu hỏi ‘Bạn đã thấy gì?’ là câu hỏi về sự vật, câu hỏi về sự hư hỏng, câu hỏi về tội, câu hỏi về hành vi. Câu hỏi về sự vật là – câu hỏi về sự vật của tám tội pārājika, câu hỏi về sự vật của hai mươi ba tội saṅghādisesa, câu hỏi về sự vật của hai tội aniyata, câu hỏi về sự vật của bốn mươi hai tội nissaggiya, câu hỏi về sự vật của một trăm tám mươi tám tội pācittiya, câu hỏi về sự vật của mười hai tội pāṭidesanīya, câu hỏi về sự vật của các tội dukkaṭa, câu hỏi về sự vật của các tội dubbhāsita. Câu hỏi về sự hư hỏng là – câu hỏi về sự hư hỏng của giới, câu hỏi về sự hư hỏng của hạnh kiểm, câu hỏi về sự hư hỏng của tri kiến, câu hỏi về sự hư hỏng của mạng sống. Câu hỏi về tội là – câu hỏi về tội pārājika, câu hỏi về tội saṅghādisesa, câu hỏi về tội thullaccaya, câu hỏi về tội pācittiya, câu hỏi về tội pāṭidesanīya, câu hỏi về tội dukkaṭa, câu hỏi về tội dubbhāsita. Câu hỏi về hành vi là – câu hỏi về sự vi phạm của từng cặp hai người.
400. Câu hỏi ‘Bạn đã thấy như thế nào?’ là câu hỏi về hình tướng, câu hỏi về oai nghi, câu hỏi về trạng thái, câu hỏi về sự biến đổi. Câu hỏi về hình tướng là – (đã thấy) dài hay ngắn, đen hay trắng. Câu hỏi về oai nghi là – (đã thấy) đang đi, đang đứng, đang ngồi, hay đang nằm. Câu hỏi về trạng thái là – (đã thấy) trong hình tướng người tại gia, trong hình tướng ngoại đạo, hay trong hình tướng người xuất gia. Câu hỏi về sự biến đổi là – (đã thấy) đang đi, đang đứng, đang ngồi, hay đang nằm.
401. Câu hỏi ‘Bạn đã thấy khi nào?’ là câu hỏi về thời gian, câu hỏi về thời điểm, câu hỏi về ngày, câu hỏi về mùa. Câu hỏi về thời gian là – (đã thấy) vào buổi sáng, buổi trưa, hay buổi chiều. Câu hỏi về thời điểm là – (đã thấy) vào lúc sáng, lúc trưa, hay lúc chiều. Câu hỏi về ngày là – (đã thấy) trước bữa ăn, sau bữa ăn, ban đêm, ban ngày, vào ngày tối (hạ huyền), hay vào ngày sáng (thượng huyền). Câu hỏi về mùa là – (đã thấy) vào mùa đông, mùa hè, hay mùa mưa.
402. Câu hỏi ‘Bạn đã thấy ở đâu?’ là câu hỏi về nơi chốn, câu hỏi về đất, câu hỏi về vị trí, câu hỏi về khu vực. Câu hỏi về nơi chốn là – (đã thấy) trên bhūmi (đất), trên pathavī (đất), trên dharaṇī (đất), hay trên jagati (đất). Câu hỏi về đất là – (đã thấy) trên đất, trên mặt đất, trên núi, trên đá, hay trong lâu đài. Câu hỏi về vị trí là – (đã thấy) ở vị trí phía đông, vị trí phía tây, vị trí phía bắc, hay vị trí phía nam. Câu hỏi về khu vực là – (đã thấy) ở khu vực phía đông, khu vực phía tây, khu vực phía bắc, hay khu vực phía nam.
Mahāsaṅgāmaṁ niṭṭhitaṁ.
Tassuddānaṁ
The great chapter on the resolution of conflicts is finished.
This is the summary:
Phần Đại Chiến đã kết thúc.
Vatthu nidānaṁ ākāro, pubbāparaṁ katākataṁ; Kammādhikaraṇañceva, samatho chandagāmi ca.
“Basis for an offense, origin story, attribute, The right order, what has and has not been done; Legal procedure and legal issue, Settling, and biased by favoritism.
Sự vật, nguyên nhân, trạng thái, trước sau, đã làm và chưa làm; nghiệp và vụ tranh tụng, sự dàn xếp, và thiên vị do yêu thích.
Dosā mohā bhayā ceva, saññā nijjhāpanena ca; Pekkhā pasāde pakkhomhi, sutatheratarena ca.
By ill will, confusion, and fear, Persuasion, and by making understand; Looking on, inspiration, I have supporters, Learned, and with more senior.
Do sân, do si, và do sợ hãi; sự nhận biết và sự thẩm xét; sự xem xét, sự trong sạch, ‘tôi có phe phái,’ ‘tôi là người có học thức,’ và ‘tôi là trưởng lão hơn.’
Asampattañca sampattaṁ, dhammena vinayena ca; Satthussa sāsanenāpi, mahāsaṅgāmañāpanāti.
And not reached, reached, According to the Teaching, and the Monastic Law; Also according to the Teacher’s instruction—The explanation in the great chapter on the resolution of conflicts.”
Chưa đến và đã đến, bằng Pháp và bằng Luật; và bằng giáo huấn của Bậc Đạo Sư, (đây là) những điều làm cho biết về Đại Chiến.