- Parivāra
- Cūḷasaṅgāma
Bản dịch
Pvr 14 — Xung đột (phần phụ)
14. Anuvijjakassapaṭipatti
SỰ THỰC HÀNH CỦA VỊ XÉT XỬ:
Inda-bh 1~1Trong khi đi đến hội chúng, vị tỳ khưu theo đuổi sự xung đột nên đi đến hội chúng với tâm nhún nhường, với tâm như là không bị cấu uế, nên khéo léo về chỗ ngồi và khéo léo khi ngồi xuống, nên ngồi xuống ở chỗ ngồi thích hợp không chiếm chỗ của các tỳ khưu trưởng lão, không buộc các tỳ khưu mới tu phải nhường chỗ ngồi, không nên là người nói linh tinh, không nên là người nói chuyện nhảm nhí, hoặc là nên tự mình nói Pháp hoặc là nên thỉnh cầu vị khác (nói Pháp), hoặc là không nên xem thường trạng thái im lặng thánh thiện.
Inda-bh 2~2Vị được hội chúng thừa nhận, vị xét xử, vị có ý định xét xử không nên hỏi về thầy tế độ, không nên hỏi về thầy dạy học, không nên hỏi về người đệ tử, không nên hỏi về người học trò, không nên hỏi về vị đồng thầy tế độ, không nên hỏi về vị đồng thầy dạy học, không nên hỏi về sự xuất thân, không nên hỏi về tên, không nên hỏi về dòng họ, không nên hỏi về sự truyền thừa, không nên hỏi về trú quán của gia đình, không nên hỏi về nơi sanh ra. Việc ấy là vì lý do gì? Trường hợp ấy có thể có sự thương hoặc là sự ghét. Khi có sự thương hoặc có sự ghét, thì có thể thiên vị vì ưa thích, có thể thiên vị vì sân hận, có thể thiên vị vì si mê, có thể thiên vị vì sợ hãi.
Inda-bh 3~3Vị được hội chúng thừa nhận, vị xét xử, vị có ý định xét xử nên xem trọng hội chúng không nên xem trọng cá nhân, nên xem trọng Chánh Pháp không nên xem trọng tài vật, nên liên hệ đến mục đích, không nên thỏa hiệp với đám đông, nên xét xử đúng thời không phải sái thời, nên xét xử với sự thật không phải với sự không thật, nên xét xử với sự mềm mỏng không phải với sự thô lỗ, nên xét xử có liên hệ đến mục đích không phải không liên hệ mục đích, nên xét xử với tâm từ không phải với nội tâm có sân hận, không nên có sự nói thì thầm vào tai, không nên nhìn đảo quanh, mắt không nên nhìn soi mói, không nên nhướng mày, không nên ngửa đầu lên, không nên làm cử động bàn tay, không nên làm hiệu bằng bàn tay.
Inda-bh 4~4Nên khéo léo về chỗ ngồi, nên khéo léo khi ngồi xuống. Vị đang theo đuổi mục đích nên ngồi xuống ở chỗ ngồi của mình trong khi nhìn (phía trước) khoảng cách của cây cày, và không nên từ chỗ ngồi đứng dậy, không nên bỏ qua xét đoán, không nên theo đuổi đường lối sai trái, không nên nói với sự quấy rối bằng cánh tay, không nên vội vã không hấp tấp, không nên tỏ vẻ nóng giận bằng sự trầm tĩnh trong lời nói, nên có tâm từ với lòng thương tưởng đến lợi ích, có nên có tâm bi chăm chú đến lợi ích, nên tránh nói điều phù phiếm với lời nói có giới hạn, nên là vị trú vào không oan trái không lòng oán giận.
Nên suy xét về bản thân, nên suy xét về người khác, nên suy xét về vị cáo tội, nên suy xét về vị bị buộc tội, nên suy xét về vị cáo tội sai pháp, nên suy xét về vị bị buộc tội sai pháp, nên suy xét về vị cáo tội đúng pháp, nên suy xét về vị bị buộc tội đúng pháp, không bỏ qua điều đã được nói, không gợi lên điều không được nói, nên khéo léo suy xét những chữ và câu được nói ra, sau khi hỏi lại vị kia rồi nên hành xử theo điều đã được biết. Vị uể oải nên được khích lệ, vị sợ hãi nên được trấn tĩnh, vị giận dữ nên được răn đe, vị không trong sạch nên được làm minh bạch với sự thẳng thắn và mềm mỏng, không nên thiên vị vì ưa thích, không nên thiên vị vì sân hận, không nên thiên vị vì si mê, không nên thiên vị vì sợ hãi, nên duy trì sự công chính đối với các pháp và các hạng người. Và như vậy, vị xét xử trong khi xét xử vừa là vị thầy vừa là vị thực hành giáo pháp, là người được thương yêu, được quý mến, được kính trọng, và có uy tín đối với các bậc có sự hiểu biết và các vị đồng Phạm hạnh.
Inda-bh 5~5Điều học nhằm mục đích là sự khẳng định, ví dụ nhằm mục đích là sự minh họa, ý nghĩa nhằm mục đích là sự giảng giải, câu hỏi nhằm mục đích là sự xác định, việc thỉnh ý nhằm mục đích là sự cáo tội, sự cáo tội nhằm mục đích là làm cho nhớ lại, sự làm cho nhớ lại nhằm mục đích là sự bảo ban, sự bảo ban nhằm mục đích là sự ngăn cản, sự ngăn cản nhằm mục đích là sự phán quyết, sự phán quyết nhằm mục đích là sự điều tra, sự điều tra nhằm mục đích là sự đạt đến việc có bằng cớ hay không có bằng cớ, việc có bằng cớ hay không có bằng cớ nhằm mục đích là sự kiềm chế những nhân vật ác xấu, nhằm mục đích là sự ủng hộ các tỳ khưu hiền thiện, hội chúng nhằm mục đích là sự đồng ý, sự đồng ý nhằm mục đích là sự tán thành, sự tán thành nhằm mục đích là sự không chán nản, các nhân vật được hội chúng thừa nhận là (những vị) có sự kiên trì, không có sự dối trá.
Inda-bh 6~6Luật nhằm mục đích là sự thu thúc, sự thu thúc nhằm mục đích là sự không vi phạm, không vi phạm nhằm mục đích là sự khoan khoái, sự khoan khoái nhằm mục đích là hỷ, hỷ nhằm mục đích là tịnh, tịnh nhằm mục đích là lạc, lạc nhằm mục đích là định, định nhằm mục đích là sự thấy biết đúng theo bản thể, sự thấy biết đúng theo bản thể nhằm mục đích là sự nhờm gớm, sự nhờm gớm nhằm mục đích là sự ly tham, sự ly tham nhằm mục đích là sự giải thoát, sự giải thoát nhằm mục đích là sự thấy biết của giải thoát, sự thấy biết của giải thoát nhằm mục đích là Niết Bàn không còn chấp thủ. Lời giảng (về Luật) là mục đích của việc này, bàn bạc (về Luật) là mục đích của việc này, sự tuần tự diễn tiến là mục đích của việc này, sự lắng tai nghe là mục đích của việc này, tức là sự giải thoát của tâm do không còn chấp thủ.
Inda-bh 1~7Hãy suy xét về trách nhiệm và phận sự đã được bậc giác ngộ thiết lập một cách khéo léo, đã được quy định rõ ràng phù hợp theo các điều học, trong khi chớ có làm hủy hoại cảnh giới ngày vị lai.
Inda-bh 2~8Là người không rành rẽ về sự việc, về sự hư hỏng, về tội vị phạm, về duyên khởi, về sự biểu hiện, vị không biết việc trước rồi việc sau, và cũng thế về việc đã làm hoặc chưa làm.
Inda-bh 3~9Và cũng là người không rành rẽ về hành sự, về sự tranh tụng, và luôn cả các sự dàn xếp, là vị bị ái nhiễm, xấu xa, và ngu dốt, và thiên vị vì sợ hãi, vì si mê.
Inda-bh 4~10Và là người không khéo léo về việc thông tin, không rành rẽ về việc dập tắt, đạt được bè phái, không hổ thẹn, có việc làm đen tối, không có tôn trọng, hiển nhiên vị tỳ khưu như thế ấy gọi là ‘không đáng trọng.’
Inda-bh 5~11Là người rành rẽ về sự việc, về điều hư hỏng, về tội vi phạm, về duyên khởi, về sự biểu hiện, vị thông hiểu việc trước rồi việc sau, và tương tợ về việc đã làm hoặc chưa làm.
Inda-bh 6~12Và còn là vị rành rẽ về hành sự, và sự tranh tụng, luôn cả các sự dàn xếp, không ái nhiễm, chẳng xấu xa, không mê mờ, không thiên vị vì sợ hãi, vì si mê.
Inda-bh 7~13Là người khéo léo về việc thông tin, rành rẽ về việc dập tắt, đạt được phe nhóm, biết hổ thẹn, có việc làm trong sáng, có sự tôn kính, hiển nhiên vị tỳ khưu như thế ấy gọi là ‘đáng kính trọng.’”
Dứt Chương Xung Đột (Phần Phụ).
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
Với tâm nhún nhường nên hỏi, là người với hội chúng có sự kính trọng, điều học nhằm mục đích là sự khẳng định và nhằm nâng đỡ Luật, phần tóm lược ở chương Xung Đột (Phần Phụ) đã được làm thành phần đọc tụng này.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- The Compendium
- The short chapter on the resolution of conflicts
The procedure for an investigator
1. Sự thực hành của vị thẩm xét
Saṅgāmāvacarena bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamantena: nīcacittena saṅgho upasaṅkamitabbo; rajoharaṇasamena cittena; āsanakusalena bhavitabbaṁ nisajjakusalena; there bhikkhū anupakhajjantena, nave bhikkhū āsanena appaṭibāhantena, yathāpatirūpe āsane nisīditabbaṁ; anānākathikena bhavitabbaṁ atiracchānakathikena; sāmaṁ vā dhammo bhāsitabbo paro vā ajjhesitabbo ariyo vā tuṇhībhāvo nātimaññitabbo.
“When a monk who is involved in a conflict is about to approach the Sangha, he should: be humble; be intent on removing defilements; be skilled in appropriate seating and where to sit down, taking a seat without encroaching on the senior monks and without blocking the junior monks; not ramble or engage in worldly talk, but speak according to the Teaching or invite others to speak or value noble silence.
365. Vị tỳ khưu đi vào nơi tranh tụng, khi đến gần Tăng chúng, nên đến gần Tăng chúng với tâm khiêm hạ, với tâm giống như giẻ lau chân; nên là người khéo léo về chỗ ngồi, khéo léo về việc ngồi; không chen lấn các vị tỳ khưu trưởng lão, không ngăn cản các vị tỳ khưu mới bằng chỗ ngồi, nên ngồi ở chỗ ngồi thích hợp với mình; nên là người không nói nhiều chuyện khác nhau, không nói chuyện bàng sanh; hoặc tự mình nên nói pháp, hoặc nên thỉnh cầu người khác, hoặc không nên xem thường sự im lặng của bậc Thánh.
Saṅghena anumatena puggalena anuvijjakena anuvijjitukāmena na upajjhāyo pucchitabbo, na ācariyo pucchitabbo, na saddhivihāriko pucchitabbo, na antevāsiko pucchitabbo, na samānupajjhāyako pucchitabbo, na samānācariyako pucchitabbo, na jāti pucchitabbā, na nāmaṁ pucchitabbaṁ, na gottaṁ pucchitabbaṁ, na āgamo pucchitabbo, na kulapadeso pucchitabbo, na jātibhūmi pucchitabbā. Taṁ kiṁ kāraṇā? Atrassa pemaṁ vā doso vā. Peme vā sati dose vā, chandāpi gaccheyya, dosāpi gaccheyya, mohāpi gaccheyya, bhayāpi gaccheyya.
An investigator—who has been approved by the Sangha and who wishes to investigate—should not ask about preceptor, teacher, student, pupil, co-student, co-pupil, caste, name, family, reciter tradition, home address, or nationality. What is the reason for that? In these cases there is affection or ill will. When there is affection or ill will, one might be biased by favoritism, ill will, confusion, or fear.
Vị có phận sự thẩm vấn, muốn thẩm vấn, đã được Tăng chúng cho phép thì không nên hỏi về thầy tế độ, không nên hỏi về thầy giáo thọ, không nên hỏi về đệ tử cùng ở, không nên hỏi về đệ tử gần gũi, không nên hỏi về người cùng thầy tế độ, không nên hỏi về người cùng thầy giáo thọ, không nên hỏi về dòng dõi, không nên hỏi về tên, không nên hỏi về họ, không nên hỏi về truyền thống học tập, không nên hỏi về chi tiết gia tộc, không nên hỏi về nơi sinh. Vì lý do gì? Vì ở đây có thể có sự thương yêu hoặc ghét bỏ. Khi có sự thương yêu hoặc ghét bỏ, vị ấy có thể đi đến thiên vị vì thương, có thể đi đến thiên vị vì ghét, có thể đi đến thiên vị vì si, có thể đi đến thiên vị vì sợ.
Saṅghena anumatena puggalena anuvijjakena anuvijjitukāmena saṅghagarukena bhavitabbaṁ no puggalagarukena, saddhammagarukena bhavitabbaṁ no āmisagarukena, atthavasikena bhavitabbaṁ no parisakappikena, kālena anuvijjitabbaṁ no akālena, bhūtena anuvijjitabbaṁ no abhūtena, saṇhena anuvijjitabbaṁ no pharusena, atthasaṁhitena anuvijjitabbaṁ no anatthasaṁhitena, mettācittena anuvijjitabbaṁ no dosantarena, na upakaṇṇakajappinā bhavitabbaṁ, na jimhaṁ pekkhitabbaṁ, na akkhi nikhaṇitabbaṁ, na bhamukaṁ ukkhipitabbaṁ, na sīsaṁ ukkhipitabbaṁ, na hatthavikāro kātabbo, na hatthamuddā dassetabbā.
An investigator—who has been approved by the Sangha and who wishes to investigate—should respect the Sangha, not individuals; should value the true Dhamma, not worldly things; should value the goal, not conforming to the gathering; should investigate at an appropriate time, not at an inappropriate one; should investigate truthfully, not falsely; should investigate gently, not harshly; should investigate beneficially, not unbeneficially; should investigate with a mind of good will, not with ill will; should not whisper in the ear; should not look for flaws; should not wink; should not raise an eyebrow; should not raise the head; should not signal with the hand; should not gesture with the hand.
Vị có phận sự thẩm vấn, muốn thẩm vấn, đã được Tăng chúng cho phép thì nên là người tôn trọng Tăng chúng, không nên là người tôn trọng cá nhân; nên là người tôn trọng Chánh pháp, không nên là người tôn trọng lợi dưỡng; nên là người quyết định theo ý nghĩa, không nên là người chiều theo ý hội chúng; nên thẩm vấn đúng lúc, không nên không đúng lúc; nên thẩm vấn bằng sự thật, không nên bằng điều không thật; nên thẩm vấn bằng lời nhu hòa, không nên bằng lời thô bạo; nên thẩm vấn bằng lời có lợi ích, không nên bằng lời vô ích; nên thẩm vấn với tâm từ, không nên với tâm sân; không nên là người thì thầm bên tai, không nên tìm lỗi một cách quanh co, không nên nháy mắt, không nên nhíu mày, không nên ngẩng đầu, không nên làm cử chỉ tay bất thường, không nên ra dấu bằng tay.
Āsanakusalena bhavitabbaṁ nisajjakusalena, yugamattaṁ pekkhantena atthaṁ anuvidhiyantena sake āsane nisīditabbaṁ, na ca āsanā vuṭṭhātabbaṁ, na vītihātabbaṁ, na kummaggo sevitabbo, na bāhāvikkhepakaṁ bhaṇitabbaṁ, aturitena bhavitabbaṁ asāhasikena, acaṇḍikatena bhavitabbaṁ vacanakkhamena, mettācittena bhavitabbaṁ hitānukampinā, kāruṇikena bhavitabbaṁ hitaparisakkinā, asamphappalāpinā bhavitabbaṁ pariyantabhāṇinā, averavasikena bhavitabbaṁ anasuruttena, attā pariggahetabbo, paro pariggahetabbo, codako pariggahetabbo, cuditako pariggahetabbo, adhammacodako pariggahetabbo, adhammacuditako pariggahetabbo, dhammacodako pariggahetabbo, dhammacuditako pariggahetabbo, vuttaṁ ahāpentena avuttaṁ apakāsentena otiṇṇāni padabyañjanāni sādhukaṁ pariggahetvā paro paṭipucchitvā yathā paṭiññāya kāretabbo, mando hāsetabbo, bhīrū assāsetabbo, caṇḍo nisedhetabbo, asuci vibhāvetabbo, ujumaddavena na chandāgatiṁ gantabbaṁ, na dosāgatiṁ gantabbaṁ, na mohāgatiṁ gantabbaṁ, na bhayāgatiṁ gantabbaṁ, majjhattena bhavitabbaṁ dhammesu ca puggalesu ca. Evañca pana anuvijjako anuvijjamāno satthu ceva sāsanakaro hoti, viññūnañca sabrahmacārīnaṁ piyo ca hoti manāpo ca garu ca bhāvanīyo ca.
He should be skilled in appropriate seating and where to sit down. Looking a plow’s length ahead, acting in line with his aim, he should sit down on his own seat. He should not get up from his seat, bungle the investigation, take a wrong path, or gesticulate. He should proceed without haste or force, not be fierce, and be patient with others’ speech. He should have mind of loving kindness with compassion and empathy, and strive for what is beneficial. He should not speak idly but to the point, without being angry or argumentative. He should assess himself, the others, the accuser, the accused, one who accuses illegitimately, one who is accused illegitimately, one who accuses legitimately, and one who is accused legitimately. Not omitting what has been said, nor announcing what has not been said, he should carefully scrutinize the sentences and words under consideration, question the others, and deal with them according to what they have admitted. He should gladden those who are confused, comfort those who are frightened, restrain those who are fierce, and expose those who are impure. Being upright and gentle, he should not be biased by favoritism, anger, confusion, or fear. He should be impartial in regard to the Teaching and the people involved. In this way an investigator is acting in accordance with the instruction of the Teacher. And they are dear, agreeable, respected, and esteemed by their discerning fellow monastics.
Nên khéo léo về chỗ ngồi, khéo léo về cách ngồi. Nên ngồi vào chỗ của mình, nhìn trong tầm một ách xe, ghi nhớ ý nghĩa. Không nên đứng dậy khỏi chỗ ngồi, không nên làm giảm sút việc phán quyết, không nên đi theo con đường cong vẹo, không nên vừa nói vừa vung tay. Nên là người không vội vàng, không hấp tấp. Nên là người không thô bạo, có lòng kham nhẫn lời nói. Nên có tâm từ, có lòng thương tưởng đến lợi ích. Nên có lòng bi, là người tìm cầu lợi ích. Không nên nói lời vô ích, nên nói lời có giới hạn. Không nên theo ý muốn của người thù ghét, nên có lời nói không tranh cãi. Nên xem xét tự thân, nên xem xét người khác, nên xem xét người chất vấn, nên xem xét người bị chất vấn, nên xem xét người chất vấn không đúng pháp, nên xem xét người bị chất vấn không đúng pháp, nên xem xét người chất vấn đúng pháp, nên xem xét người bị chất vấn đúng pháp. Không làm sót lời đã nói, không trình bày lời chưa nói, sau khi nắm giữ kỹ lưỡng các câu chữ đã được đưa ra, nên hỏi lại người khác rồi thực hiện việc phán quyết theo như lời thú nhận. Người chậm lụt nên được làm cho phấn khởi, người nhút nhát nên được an ủi, người hung dữ nên được ngăn cản, người không trong sạch nên được làm cho rõ ràng, đối với người ngay thẳng nên đối xử một cách mềm mỏng. Không nên đi vào thiên vị vì thương, không nên đi vào thiên vị vì ghét, không nên đi vào thiên vị vì si, không nên đi vào thiên vị vì sợ. Nên có thái độ trung lập đối với các pháp và các cá nhân. Và như vậy, vị thẩm vấn khi đang thẩm vấn vừa là người thực hành giáo pháp của Bậc Đạo Sư, vừa được các bạn đồng phạm hạnh có trí yêu mến, quý trọng, kính nể và phát triển tâm từ.
Suttaṁ saṁsandanatthāya, opammaṁ nidassanatthāya, attho viññāpanatthāya, paṭipucchā ṭhapanatthāya, okāsakammaṁ codanatthāya, codanā sāraṇatthāya, sāraṇā savacanīyatthāya, savacanīyaṁ palibodhatthāya, palibodho vinicchayatthāya, vinicchayo santīraṇatthāya, santīraṇaṁ ṭhānāṭhānagamanatthāya, ṭhānāṭhānagamanaṁ dummaṅkūnaṁ puggalānaṁ niggahatthāya, pesalānaṁ bhikkhūnaṁ sampaggahatthāya, saṅgho sampariggahasampaṭicchanatthāya, saṅghena anumatā puggalā paccekaṭṭhāyino avisaṁvādakaṭṭhāyino.
The Monastic Code is for the sake of concluding, a simile for the sake of illustration, the goal is to be made known, and questioning is for sake of establishing. Getting permission is for the sake of accusing, accusing for reminding, reminding for directing, directing for obstructing, obstructing for investigating, investigating for weighing up, weighing up for deciding what is and is not the case, and deciding what is and is not the case is for the sake of restraining bad people and to support the good monks. The Sangha has the purpose of examining and accepting the decision. The Sangha should appoint people who are trustworthy to positions of authority.
366. Kinh điển là để đối chiếu, ví dụ là để minh họa, ý nghĩa là để làm cho hiểu rõ, câu hỏi lại là để xác lập, việc xin phép là để chất vấn, sự chất vấn là để nhắc nhở, sự nhắc nhở là để có điều để nói, việc có điều để nói là để dễ ngăn cản, sự ngăn cản là để đi đến phán quyết, sự phán quyết là để thẩm xét, sự thẩm xét là để biết được điều hợp lý và không hợp lý. Việc biết điều hợp lý và không hợp lý là để khiển trách những người có giới hạnh xấu và để tán dương các tỳ khưu có giới hạnh đáng mến. Tăng chúng là để chấp nhận và thừa nhận. Các vị được Tăng chúng cho phép là những người đứng ở vị trí riêng biệt, là những người đứng ở vị trí không nói lời sai lệch.
Vinayo saṁvaratthāya, saṁvaro avippaṭisāratthāya, avippaṭisāro pāmujjatthāya, pāmujjaṁ pītatthāya, pīti passaddhatthāya, passaddhi sukhatthāya, sukhaṁ samādhatthāya, samādhi yathābhūtañāṇadassanatthāya, yathābhūtañāṇadassanaṁ nibbidatthāya, nibbidā virāgatthāya, virāgo vimuttatthāya, vimutti vimuttiñāṇadassanatthāya, vimuttiñāṇadassanaṁ anupādāparinibbānatthāya. Etadatthā kathā, etadatthā mantanā, etadatthā upanisā, etadatthaṁ sotāvadhānaṁ—yadidaṁ anupādācittassa vimokkhoti.
The Monastic Law is for the sake of restraint, restraint for non-regret, non-regret for joy, joy for rapture, rapture for tranquility, tranquility for bliss, bliss for stillness, stillness for seeing things according to reality, seeing things according to reality for repulsion, repulsion for dispassion, dispassion for liberation, liberation for knowledge and vision of liberation, and knowledge and vision of liberation is for the sake of extinguishment without grasping. This is the purpose of discussion, this is the purpose of consultation, this is the purpose of vital conditions, this is the purpose of listening, that is, the release of mind without grasping.”
Giới luật là để thu thúc, sự thu thúc là để không hối hận, sự không hối hận là để có sự hân hoan, sự hân hoan là để có sự hoan hỷ, sự hoan hỷ là để có sự an tịnh, sự an tịnh là để có sự an lạc, sự an lạc là để có định, định là để có tri kiến như thật, tri kiến như thật là để có sự nhàm chán, sự nhàm chán là để có sự ly tham, sự ly tham là để có sự giải thoát, sự giải thoát là để có tri kiến giải thoát, tri kiến giải thoát là để có Vô dư y Niết-bàn. Cuộc nói chuyện là vì mục đích ấy, sự bàn luận là vì mục đích ấy, nhân duyên gần là vì mục đích ấy, sự lắng nghe là vì mục đích ấy – tức là sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ.
Anuyogavattaṁ nisāmaya, Kusalena buddhimatā kataṁ; Suvuttaṁ sikkhāpadānulomikaṁ, Gatiṁ na nāsento samparāyikaṁ.
“Consider carefully the proper procedure of examination, As formulated by the skilled Awakened One, Well-spoken in line with the training rules—Do not ruin your future rebirth.
Hãy lắng nghe phép tắc thẩm vấn, được tạo ra bởi bậc Thiện xảo, có Trí tuệ; được khéo nói, phù hợp với các học giới, không hủy hoại cảnh giới ở đời sau.
Vatthuṁ vipattiṁ āpattiṁ, Nidānaṁ ākāraakovido; Pubbāparaṁ na jānāti, Katākataṁ samena ca.
Ignorant about basis, failure, and offense, As well as source and ways; Not knowing the right order, Nor what has and has not been done.
Vị ấy không biết vật, sự sai phạm, tội, nhân duyên, không khéo léo về cách thức; không biết trước sau, và không biết việc đã làm và chưa làm một cách tương xứng.
Kammañca adhikaraṇañca, samathe cāpi akovido; Ratto duṭṭho ca mūḷho ca, bhayā mohā ca gacchati.
Ignorant about legal procedures and legal issues, As well as their settling. Greedy, angry, and confused, Biased by fear and confusion,
Vị ấy không biết về nghiệp và sự tranh cãi, cũng không khéo léo trong các cách dập tắt; là người tham ái, sân hận, và si mê; và đi đến thiên vị vì sợ hãi và si mê.
Na ca saññattikusalo, nijjhattiyā ca akovido; Laddhapakkho ahiriko, kaṇhakammo anādaro; Sa ve tādisako bhikkhu, appaṭikkhoti vuccati.
Not skilled in persuasion, Nor in making others understand; A shameless one who has obtained supporters, Disrespectful and doing dark deeds—A monk such as this Is called ‘not worthy of attention’.
Vị ấy không khéo léo trong việc làm cho hiểu, và không khéo léo trong việc phán quyết; có được phe phái, không hổ thẹn, có hành vi đen tối, không tôn trọng. Vị tỳ khưu như vậy, thật sự được gọi là người không đáng được xem xét.
Vatthuṁ vipattiṁ āpattiṁ, nidānaṁ ākārakovido; Pubbāparañca jānāti, katākataṁ samena ca.
Understanding basis, failure, and offense, As well as source and ways; Knowing the right order, And also what has and has not been done.
Vị ấy biết vật, sự sai phạm, tội, nhân duyên, khéo léo về cách thức; biết trước sau, và biết việc đã làm và chưa làm một cách tương xứng.
Kammañca adhikaraṇañca, samathe cāpi kovido; Aratto aduṭṭho amūḷho, bhayā mohā na gacchati.
Understanding legal procedures and legal issues, As well as their settling. Not greedy, angry, or confused, Biased neither by fear nor confusion,
Vị ấy biết về nghiệp và sự tranh cãi, cũng khéo léo trong các cách dập tắt; là người không tham ái, không sân hận, không si mê; không đi đến thiên vị vì sợ hãi và si mê.
Saññattiyā ca kusalo, nijjhattiyā ca kovido; Laddhapakkho hirimano, sukkakammo sagāravo; Sa ve tādisako bhikkhu, sappaṭikkhoti vuccatīti.
Skilled in persuasion, And in making others understand; A conscientious one who has obtained supporters, Respectful and doing bright deeds—A monk such as this Is called ‘worthy of attention’.”
Vị ấy khéo léo trong việc làm cho hiểu, và khéo léo trong việc phán quyết; có được sự ủng hộ, có lòng hổ thẹn, có hành vi trong sạch, có lòng tôn trọng. Vị tỳ khưu như vậy, thật sự được gọi là người đáng được xem xét.
Cūḷasaṅgāmaṁ niṭṭhitaṁ.
Tassuddānaṁ
The short chapter on the resolution of conflicts is finished
This is the summary:
Phần Tiểu Trận Chiến đã kết thúc.
Nīcacittena puccheyya, garu saṅghe na puggale; Suttaṁ saṁsandanatthāya, vinayānuggahena ca; uddānaṁ cūḷasaṅgāme, ekuddeso idaṁ katanti.
“Humble, one may ask, Respect for the Sangha, not individuals; The Monastic Code is for the sake of concluding, And through supporting the training—The summary of the short chapter on the resolution of conflicts, Made into one recitation.”
Nên đến gần với tâm khiêm hạ, không nên hỏi, nên tôn trọng Tăng chúng, không phải cá nhân; Kinh được nói ra là nhằm mục đích đối chiếu, và cũng để nâng đỡ Luật; Phần tóm lược này là sự chỉ dẫn duy nhất đã được thực hiện trong Cūḷasaṅgāma.