- Theravāda Vinaya
- Mahāvibhaṅga
- Sekhiyakaṇḍa
- Pādukavagga
Bản dịch
Bu Vb Sk 67 — Chúng học 67
67. Oguṇṭhitasikkhāpada
Inda-bh 1Duyên khởi ở thành Sāvatthī: Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư thuyết Pháp đến người có đầu được trùm lại. … (như trên) …
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp đến người không bị bệnh có đầu được trùm lại’ là việc học tập nên được thực hành.”
Inda-bh 2Có đầu được trùm lại nghĩa là đề cập đến đầu đã được (y) trùm lên.
Không nên thuyết Pháp đến người không bị bệnh có đầu được trùm lại. Vị nào thuyết Pháp đến người không bị bệnh có đầu được trùm lại do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 3Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, sau khi bảo tháo vật trùm đầu ra rồi thuyết giảng, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Điều học thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Great Analysis
- The chapter on training
- The subchapter on shoes
67. Covering the head
Origin story
Phần Sekhiya (Ưng học pháp) đã kết thúc.
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū oguṇṭhitasīsassa dhammaṁ desenti …pe….
“Na oguṇṭhitasīsassa agilānassa dhammaṁ desessāmīti sikkhā karaṇīyā”ti.
- Oguṇṭhitasīso nāma
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time the monks from the group of six gave teachings to people with covered heads. …
Final ruling
“‘I will not give a teaching to anyone with a covered head who is not sick,’ this is how you should train.”
Definitions
- With a covered head:
1. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đức Thế Tôn trú ngụ ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, Sāḷha là cháu của Migāra có ý muốn xây dựng một ngôi trú xá cho chúng tỳ khưu ni. Khi ấy, Sāḷha là cháu của Migāra sau khi đi đến các tỳ khưu ni đã nói lên điều này: ‘Thưa các sư cô, tôi muốn xây dựng một ngôi trú xá cho chúng tỳ khưu ni. Xin quý vị hãy cử cho tôi một vị tỳ khưu ni trông coi công việc mới.’ Vào lúc bấy giờ, có bốn chị em đã xuất gia trong hàng tỳ khưu ni là Nandā, Nandavatī, Sundarīnandā, và Thullanandā. Trong số ấy, tỳ khưu ni Sundarīnandā đã xuất gia khi còn trẻ, có dung sắc xinh đẹp, đáng ưa nhìn, đáng mến; là người có trí tuệ, sáng suốt, thông minh, khéo léo, không biếng nhác, và được hội đủ sự thẩm xét thích hợp trong các công việc ấy, có khả năng thực hiện, có khả năng sắp đặt. Khi ấy, chúng tỳ khưu ni sau khi chỉ định tỳ khưu ni Sundarīnandā đã giao cho Sāḷha là cháu của Migāra việc trông coi công việc mới. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, tỳ khưu ni Sundarīnandā thường xuyên đi đến nhà của Sāḷha là cháu của Migāra (và nói): ‘Hãy cho cái bào, hãy cho cái búa lưỡi vòm, hãy cho cái rìu, hãy cho cái cuốc, hãy cho cái đục.’ Và Sāḷha là cháu của Migāra cũng thường xuyên đi đến trú xá của tỳ khưu ni để xem xét việc đã làm và chưa làm. Do việc gặp gỡ thường xuyên, hai người họ đã có tâm quyến luyến.
Na oguṇṭhitasīsassa agilānassa dhammo desetabbo. Yo anādariyaṁ paṭicca oguṇṭhitasīsassa agilānassa dhammaṁ deseti, āpatti dukkaṭassa.
Anāpatti—asañcicca, assatiyā, ajānantassa, gilānassa, sīsaṁ vivarāpetvā deseti, āpadāsu, ummattakassa, ādikammikassāti.
Sattamasikkhāpadaṁ niṭṭhitaṁ.
One should not give a teaching to anyone with a covered head who is not sick. If a monk, out of disrespect, gives a teaching to someone with a covered head who is not sick, he commits an offense of wrong conduct.
Non-offenses
There is no offense: if it is unintentional; if he is not mindful; if he does not know; if he is sick; if he teaches the person after having them uncover their head; if there is an emergency; if he is insane; if he is the first offender.
The seventh training rule is finished.
Vào lúc bấy giờ, Sāḷha, cháu của Migāra, đang đứng ở bên ngoài cổng vòm hỏi về tỳ-khưu-ni Sundarīnandā rằng: “Thưa các sư cô, sư cô Sundarīnandā ở đâu? Thưa các sư cô, sư cô Sundarīnandā ở đâu?” Khi được nói vậy, vị tỳ-khưu-ni đệ tử của tỳ-khưu-ni Sundarīnandā đã thưa với Sāḷha, cháu của Migāra, điều này: “Thưa thí chủ, (sư cô) bị bệnh. Tôi sẽ mang vật thực khất thực đi.” Bấy giờ, Sāḷha, cháu của Migāra, (nghĩ rằng): “Ta đã cúng dường bữa ăn đến hội chúng tỳ-khưu-ni là vì sư cô Sundarīnandā,” rồi ra lệnh cho các người làm rằng: “Hãy phục vụ bữa ăn đến hội chúng tỳ-khưu-ni,” sau khi nói xong, ông ta đi đến trú xứ của tỳ-khưu-ni. Vào lúc bấy giờ, tỳ-khưu-ni Sundarīnandā đang đứng ở bên ngoài cổng tu viện, đang trông chờ Sāḷha, cháu của Migāra. Tỳ-khưu-ni Sundarīnandā đã nhìn thấy Sāḷha, cháu của Migāra, đang đi đến từ xa. Sau khi nhìn thấy, vị ni đã đi vào trú xứ, trùm kín cả đầu, rồi nằm xuống giường. Bấy giờ, Sāḷha, cháu của Migāra, đi đến chỗ tỳ-khưu-ni Sundarīnandā; sau khi đến, ông ta đã nói với tỳ-khưu-ni Sundarīnandā điều này: “Thưa sư cô, sư cô không khỏe về điều gì, tại sao sư cô lại nằm?” “Thưa thí chủ, sự việc là như vậy đối với người nữ mong muốn người không mong muốn (mình).” “Thưa sư cô, tại sao tôi lại không mong muốn sư cô? Hơn nữa, tôi đã không có được cơ hội để làm hại sư cô.” (Ông ta) bị thôi thúc bởi dục vọng đã có sự tiếp xúc thân thể với tỳ-khưu-ni Sundarīnandā, người (cũng) bị thôi thúc bởi dục vọng.