- Theravāda Vinaya
- Mahāvibhaṅga
- Pārājikakaṇḍa
Bản dịch
Bu Vb Pj 4 — Điều pārājika thứ tư
4. Catutthapārājikasikkhāpada
Inda-bh 1~1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Vesālī, Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra. Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu đồng quan điểm, thân thiết đã vào mùa (an cư) mưa ở bờ sông Vaggumudā. Vào lúc bấy giờ, xứ Vajjī có sự khan hiếm về vật thực, khó kiếm ăn, có dịch bệnh, thẻ vật thực được phân phối, không dễ sinh sống bằng sự ra sức khất thực.
Inda-bh 2~2Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý rằng: “Hiện nay, xứ Vajjī có sự khan hiếm về vật thực, khó kiếm ăn, có dịch bệnh, thẻ vật thực được phân phối, không dễ sinh sống bằng sự ra sức khất thực. Còn chúng ta có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau, vậy bằng phương thức nào chúng ta có thể sống mùa (an cư) mưa một cách thoải mái và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực?”
Inda-bh 3~3Một số vị đã nói như vầy:—“Này các đại đức, chúng ta hãy quyết định làm công cho các người tại gia đi; như thế họ sẽ nghĩ đến mà bố thí cho chúng ta. Như thế chúng ta có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau sẽ sống mùa (an cư) mưa một cách thoải mái và sẽ không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực.
Inda-bh 4~4Một số vị đã nói như vầy:—“Này các đại đức, thôi đi! Việc gì lại quyết định làm công cho các người tại gia? Này các đại đức, chúng ta hãy đưa tin tức cho các người tại gia đi; như thế họ sẽ nghĩ đến mà bố thí cho chúng ta. Như thế chúng ta có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau sẽ sống mùa (an cư) mưa một cách thoải mái và sẽ không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực.
Inda-bh 5~5Một số vị đã nói như vầy:—“Này các đại đức, thôi đi! Việc gì lại quyết định làm công cho các người tại gia? Việc gì lại đưa tin tức cho các người tại gia? Này các đại đức, chúng ta hãy nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại gia rằng: ‘Vị tỳ khưu như vầy đạt sơ thiền, vị tỳ khưu như vầy đạt nhị thiền, vị tỳ khưu như vầy đạt tam thiền, vị tỳ khưu như vầy đạt tứ thiền, vị tỳ khưu như vầy là vị Nhập Lưu, vị tỳ khưu như vầy là vị Nhất Lai, vị tỳ khưu như vầy là vị Bất Lai, vị tỳ khưu như vầy là vị A-la-hán, vị tỳ khưu như vầy có ba Minh, vị tỳ khưu như vầy có sáu Thắng Trí;’ như thế họ sẽ nghĩ đến mà bố thí cho chúng ta. Như thế chúng ta có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau sẽ sống mùa (an cư) mưa một cách thoải mái và sẽ không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực.”—“Này các đại đức, chính điều này là tốt hơn hết tức là việc chúng ta nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại gia.”
Inda-bh 6~6Sau đó, các tỳ khưu ấy đã nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại gia rằng:—“Vị tỳ khưu như vầy đạt sơ thiền, … (như trên) … vị tỳ khưu như vầy có sáu Thắng Trí.”
Inda-bh 7~7Khi ấy, những người dân ấy (nghĩ rằng): “Quả thật điều lợi ích đã có cho chúng ta! Quả thật chúng ta đã đạt được điều tốt! Chúng ta có được các tỳ khưu như vầy trong số các tỳ khưu có giới có thiện pháp vào mùa (an cư) mưa! Quả thật từ trước đến nay chúng ta không có các tỳ khưu như vầy vào mùa (an cư) mưa!” Họ dâng đến các tỳ khưu những vật thực loại mềm mà họ không ăn bởi chính mình, không dâng đến cha mẹ, không cho đến vợ con, không cho đến các tôi tớ và người làm công, không cho đến bạn bè và các quan lại, không cho đến các thân quyến cùng huyết thống. Họ dâng đến các tỳ khưu những vật thực loại cứng … (như trên) … những thức nếm … (như trên) … những thức uống mà họ không uống bởi chính mình, không dâng đến cha mẹ, không cho đến vợ con, không cho đến các tôi tớ và người làm công, không cho đến bạn bè và các quan lại, không cho đến các thân quyến cùng huyết thống. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã có sắc tướng, căn quyền sung mãn, sắc diện rạng rỡ, sắc thân an tịnh.
Inda-bh 8~8Điều này đã là thông lệ cho các tỳ khưu trải qua mùa (an cư) mưa là đi đến diện kiến đức Thế Tôn. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy trải qua ba tháng mùa (an cư) mưa đã thu xếp chỗ trú ngụ, cầm y bát, ra đi về phía Vesālī. Theo tuần tự các vị đã đi đến thành Vesālī, Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên.
Inda-bh 9~9Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa ở các phương thì ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân; trái lại các tỳ khưu ở bờ sông Vaggumudā thì có sắc tướng, căn quyền sung mãn, sắc diện rạng rỡ, sắc thân an tịnh. Điều này đã là thông lệ của chư Phật Thế Tôn là niềm nở đối với các tỳ khưu đi đến.
Inda-bh 10~10Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với các vị tỳ khưu ở bờ sông Vaggumudā điều này:—“Này các tỳ khưu, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Các ngươi có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau, chắc hẳn đã sống qua mùa (an cư) mưa được thoải mái, và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực?”—“Bạch Thế Tôn, sức khoẻ khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc đều tốt đẹp. Và bạch ngài, chúng con có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau đã sống qua mùa (an cư) mưa được thoải mái, và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực.” Các đấng Như Lai dầu biết vẫn hỏi, dầu biết các vị vẫn không hỏi, biết đúng thời các vị mới hỏi, biết đúng thời các vị vẫn không hỏi. Các đấng Như lai hỏi có liên quan đến lợi ích và không (hỏi việc) không có liên quan đến lợi ích, khi không có liên quan đến lợi ích các đấng Như Lai có cách để cắt đứt vấn đề.
Inda-bh 11~11Chư Phật Thế Tôn hỏi các tỳ khưu bởi hai lý do: “Chúng ta sẽ thuyết Pháp hoặc sẽ quy định điều học cho các đệ tử.” Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu ở bờ sông Vaggumudā điều này:—“Này các tỳ khưu, các ngươi có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau, đã sống mùa (an cư) mưa được thoải mái và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực như thế nào?” Khi ấy, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, các ngươi có thực chứng không?”—“Bạch Thế Tôn, không thực chứng.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này những kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này những kẻ rồ dại, tại sao các ngươi vì lý do bao tử lại nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại gia? Này những kẻ rồ dại, thà các ngươi bị mổ banh bụng bởi dao giết trâu sắc bén còn là điều cao thượng, chớ vì lý do bao tử mà nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại gia là không (cao thượng). Điều ấy có lý do như thế nào? Này những kẻ rồ dại, bởi vì do nguyên nhân kia các ngươi có thể đi đến cái chết hoặc khổ gần như chết, nhưng không vì nguyên nhân kia, khi tan rã thân xác và chết đi, các ngươi lại có thể bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục. Này những kẻ rồ dại, quả thật do nguyên nhân này, khi tan rã thân xác và chết đi, các ngươi có thể bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục. Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
Inda-bh 12~12—“Này các tỳ khưu, đây là năm kẻ cướp lớn được biết đến ở thế gian? Thế nào là năm?
[1] Này các tỳ khưu, ở đây có kẻ cướp lớn khởi ý như vầy: ‘Đến khi nào được tháp tùng bởi một trăm hay một ngàn, ta sẽ vừa đi quanh làng mạc phố thị kinh thành vừa giết vừa ra lệnh giết, vừa chém vừa ra lệnh chém, vừa hành hạ vừa ra lệnh hành hạ.’ Một thời gian sau, được tháp tùng bởi một trăm hay một ngàn, kẻ ấy vừa đi quanh làng mạc phố thị kinh thành vừa giết vừa ra lệnh giết, vừa chém vừa ra lệnh chém, vừa hành hạ vừa ra lệnh hành hạ. Này các tỳ khưu, tương tợ như thế, ở đây có hạng ác tỳ khưu khởi ý như vầy: ‘Đến khi nào được tùy tùng bởi một trăm hay một ngàn, ta sẽ đi quanh làng mạc phố thị kinh thành và được tiếp rước, được cung kính, được nể sợ, được cúng dường, được tôn trọng, và có được lợi lộc về các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh của các gia chủ và các bậc xuất gia.’ Một thời gian sau, được tùy tùng bởi một trăm hay một ngàn, vị ấy đi quanh làng mạc phố thị kinh thành và được tiếp rước, được cung kính, được nể sợ, được cúng dường, được tôn trọng, và có được lợi lộc về các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh của các gia chủ và các bậc xuất gia. Này các tỳ khưu, đây là kẻ cướp lớn thứ nhất được biết đến ở thế gian.
[2] Này các tỳ khưu, hơn nữa ở đây có hạng ác tỳ khưu sau khi đã học tập Pháp và Luật được công bố bởi Như Lai lại xem là của chính bản thân. Này các tỳ khưu, đây là kẻ cướp lớn thứ nhì được biết đến ở thế gian.
[3] Này các tỳ khưu, hơn nữa ở đây có hạng ác tỳ khưu bôi nhọ vị trong sạch, có Phạm hạnh, đang thực hành Phạm hạnh thanh tịnh bằng điều phi Phạm hạnh không có nguyên cớ. Này các tỳ khưu, đây là kẻ cướp lớn thứ ba được biết đến ở thế gian.
[4] Này các tỳ khưu, hơn nữa ở đây có hạng ác tỳ khưu chiêu dụ mua chuộc các người tại gia bằng các trọng vật là các vật dụng chủ yếu của hội chúng như là tu viện, vùng đất của tu viện, trú xá, vùng đất của trú xá, gường, ghế, nệm, gối, chum đồng, chậu đồng, hũ đồng, vại đồng, rìu, búa, cuốc, xẻng, lưỡi đục, dây leo, tre, cỏ muñja, cỏ pabbaja, cỏ tiṇa, đất sét, đồ gỗ, đồ gốm. Này các tỳ khưu, đây là kẻ cướp lớn thứ tư được biết đến ở thế gian.
[5] Này các tỳ khưu, trong thế gian bao gồm cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, và loài người, kẻ cướp lớn đứng hàng đầu là kẻ khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng. Điều ấy có lý do thế nào? Này các tỳ khưu, các ngươi đã ăn thức ăn của xứ sở theo lối trộm cướp.
Vị tuyên bố thế này, bản thân như thế khác,
ăn cơm kiểu dối lường, như cờ gian bạc lận.Nhiều kẻ cổ quấn y, ác pháp, không thu thúc,
kẻ ác vì nghiệp ác, phải sanh vào địa ngục.Kẻ ác giới buông lung thà ăn vào sắt cục,
cháy đỏ có lửa ngọn, hơn đồ ăn xứ sở.”
Inda-bh 13~13Khi ấy, đức Thế Tôn đã khiển trách các tỳ khưu ở bờ sông Vaggumudā bằng nhiều phương thức về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng … (như trên) … Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu nào trong khi chưa biết rõ về pháp thượng nhân, là pháp thể nhập của bản thân, là pháp thuộc về trí tuệ và sự thấy biết xứng đáng bậc Thánh, lại tuyên bố rằng: ‘Tôi biết như vầy, tôi thấy như vầy.’ Sau đó vào lúc khác, trong khi được hỏi hay trong khi không được hỏi, vị đã phạm tội có ước muốn được trong sạch lại nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã không biết như vầy lại nói biết, đã không thấy lại nói thấy, tôi đã nói điều phù phiếm, điều dối trá;’ vị ấy cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[Sự quy định căn bản]
Inda-bh 14~14Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu trong khi không thấy tưởng là đã thấy, trong khi không đạt tưởng là đã đạt, trong khi không đắc chứng tưởng là đã đắc chứng, trong khi không chứng ngộ tưởng là đã chứng ngộ, đã nói một cách thái quá về trí giải thoát. Một thời gian sau, các vị lại có tâm thiên về tham ái, lại có tâm lại thiên về sân hận, lại có tâm lại thiên về si mê. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc rằng: “Điều học đã được đức Thế Tôn quy định; và chúng ta trong khi không thấy tưởng là đã thấy, trong khi không đạt tưởng là đã đạt, trong khi không đắc chứng tưởng là đã đắc chứng, trong khi không chứng ngộ tưởng là đã chứng ngộ, đã nói một cách thái quá về trí giải thoát, phải chăng chúng ta đã phạm tội pārājika?” Các vị ấy đã kể lại sự việc ấy cho đại đức Ānanda. Đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 15~15“Này Ānanda, có các vị tỳ khưu trong khi không thấy tưởng là đã thấy, trong khi không đạt tưởng là đã đạt, trong khi không đắc chứng tưởng là đã đắc chứng, trong khi không chứng ngộ tưởng là đã chứng ngộ, đã nói với sự tự tin thái quá về trí giải thoát; điều ấy vốn không thuộc về trường hợp này. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu nào trong khi chưa biết rõ về pháp thượng nhân, là pháp thể nhập của bản thân, là pháp thuộc về trí tuệ và sự thấy biết xứng đáng bậc Thánh, lại tuyên bố rằng: ‘Tôi biết như vầy, tôi thấy như vầy.’ Sau đó vào lúc khác, trong khi được hỏi hay trong khi không được hỏi, vị đã phạm tội có ước muốn được trong sạch lại nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã không biết như vầy lại nói biết, đã không thấy lại nói thấy, tôi đã nói điều phù phiếm, điều dối trá,’ ngoại trừ vì sự tự tin thái quá; vị này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”
[Sự quy định lần hai]
Inda-bh 16~16Vị nào: là bất cứ vị nào … (như trên) …
Tỳ khưu … nt … [đã được tu lên bậc trên ... bằng hành sự có lời thông báo đến lần thứ tư]. Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.
Trong khi chưa biết rõ: là không có, không thực chứng, trong khi không tự biết, trong khi không hiểu, trong khi không thấy thiện pháp ở nơi mình (lại nói): “Tôi có thiện pháp.”
Pháp thượng nhân nghĩa là thiền, sự giải thoát, định, sự chứng đạt, trí tuệ và sự thấy biết, sự tu tập về Đạo, sự chứng ngộ về Quả, sự dứt bỏ phiền não, sự không còn bị che lấp của tâm, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng.
Là pháp thể nhập của bản thân: hoặc là thể nhập các thiện pháp ấy vào bản thân, hoặc là thể nhập bản thân vào các thiện pháp ấy.
Trí tuệ: là ba Minh.
Thấy biết: điều gì là trí tuệ điều ấy là sự thấy biết. Điều gì là sự thấy biết điều ấy là trí tuệ.
Tuyên bố: vị nói ra đến người nữ, hoặc đến người nam, hoặc đến người tại gia, hoặc đến vị xuất gia.
Tôi biết như vầy, tôi thấy như vầy: Tôi biết các pháp này, tôi thấy các pháp này, các pháp này có ở tôi, các pháp này được thuần thục ở tôi, và tôi thuần thục trong các pháp này.
Sau đó vào lúc khác: được thực hiện trong giây phút nào, thì đã trải qua giây phút ấy, khoảng thời gian ấy, thời điểm ấy.
Trong khi được hỏi: Sự việc gì đã cho biết thì đang được hỏi về việc ấy: “Điều gì đã được đại đức đắc chứng? Được đại đức đắc chứng như thế nào? Được đại đức đắc chứng vào lúc nào? Được đại đức đắc chứng ở đâu? Các phiền não nào đã được đại đức dứt bỏ? Đại đức đã đạt được các pháp nào?”
Trong khi không được hỏi: không được bất cứ ai đề cập đến.
Vị đã phạm tội: vị có ước muốn xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn, rồi khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng thì phạm tội pārājika.
Có ước muốn được trong sạch: hoặc là có ước muốn trở thành người gia chủ, hoặc là có ước muốn trở thành nam cư sĩ, hoặc là có ước muốn trở thành người phụ việc cho tu viện, hoặc là có ước muốn trở thành vị sa di.
Này các đại đức, tôi đã không biết như vầy lại nói biết, đã không thấy lại nói thấy: Tôi không biết các pháp này, tôi không thấy các pháp này, các pháp này có ở tôi, các pháp này được thuần thục ở tôi, và tôi thuần thục trong các pháp này.
Tôi đã nói điều phù phiếm, điều dối trá: Điều phù phiếm đã được tôi nói ra, điều dối trá đã được tôi nói ra, điều không thực đã được tôi nói ra, trong lúc tôi không biết tôi lại nói ra.
Ngoại trừ vì sự tự tin thái quá: trừ ra sự tự tin thái quá.
Vị này cũng: được đề cập liên quan đến các vị trước đây.
Là vị phạm tội pārājika: cũng giống như cây thốt nốt bị chặt ở ngọn không thể tăng trưởng được nữa, tương tợ như thế vị tỳ khưu có ước muốn xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn, khi đã khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng, thì không phải là Sa-môn, không phải là Thích tử; vì thế, được gọi là ‘vị phạm tội pārājika.’
Không được cộng trú: cộng trú nghĩa là có chung hành sự, có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học tập giống nhau, điều ấy gọi là cộng trú. Vị ấy không có được điều ấy, vì thế được gọi là ‘không được cộng trú.’
Pháp thượng nhân nghĩa là thiền, sự giải thoát, định, sự chứng đạt, trí tuệ và sự thấy biết, sự tu tập về Đạo, sự chứng ngộ về Quả, sự dứt bỏ phiền não, sự không còn bị che lấp của tâm, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng.
Thiền: là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền.
Sự giải thoát: là vô phiền não giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát.
Định: là vô phiền não định, vô tướng định, vô nguyện định.
Sự chứng đạt: là sự chứng đạt về vô phiền não, sự chứng đạt về vô tướng, sự chứng đạt về vô nguyện.
Trí tuệ: là ba Minh.
Sự tu tập về Đạo: là bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy giác chi, Thánh Đạo tám chi phần.
Sự chứng ngộ về Quả: là sự chứng ngộ quả Nhập Lưu, sự chứng ngộ quả Nhất Lai, sự chứng ngộ quả Bất Lai, sự chứng ngộ quả vị A-la-hán.
Sự dứt bỏ phiền não: là sự dứt bỏ tham ái, sự dứt bỏ sân, sự dứt bỏ si.
Sự không còn bị che lấp của tâm: nghĩa là tâm không còn bị che lấp bởi tham ái, tâm không còn bị che lấp bởi sân, tâm không còn bị che lấp bởi si.
Sự thỏa thích ở nơi thanh vắng: là sự thỏa thích ở nơi thanh vắng với sơ thiền, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng với nhị thiền, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng với tam thiền, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng với tứ thiền.
Inda-bh 1~17Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’
Inda-bh 2~18Với bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm.
Inda-bh 3~19Với năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi.
Inda-bh 4~20Với sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát.
Inda-bh 5~21Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.
Inda-bh 6~22Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’
Inda-bh 7~23Với bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm.
Inda-bh 8~24Với năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi.
Inda-bh 9~25Với sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát.
Inda-bh 10~26Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.
Inda-bh 11~27Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng được sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’
Inda-bh 12~28Với bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng được sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm.
Inda-bh 13~29Với năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng được sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi.
Inda-bh 14~30Với sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng được sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát.
Inda-bh 15~31Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng được sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.
Inda-bh 16~32Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có đạt sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’
Inda-bh 17~33Với bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có đạt sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm.
Inda-bh 18~34Với năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có đạt sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi.
Inda-bh 19~35Với sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có đạt sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát.
Inda-bh 20~36Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có đạt sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.
Inda-bh 21~37Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có trú sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’
Inda-bh 22~38Với bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có trú sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm.
Inda-bh 23~39Với năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có trú sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi.
Inda-bh 24~40Với sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có trú sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát.
Inda-bh 25~41Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có trú sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.
Inda-bh 26~42Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ngộ sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’
Inda-bh 27~43Với bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ngộ sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm.
Inda-bh 28~44Với năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ngộ sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi.
Inda-bh 29~45Với sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ngộ sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát.
Inda-bh 30~46Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ngộ sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.
(Phần sơ thiền này đã được giải chi tiết như thế nào,
toàn bộ nên được giải chi tiết như thế).
Inda-bh 31~47Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... tôi chứng ... Tôi đã chứng được nhị thiền ... tam thiền ... tứ thiền ... Tôi có đạt tứ thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ tứ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.
Inda-bh 32~48Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được vô phiền não giải thoát ... vô tướng giải thoát ... vô nguyện giải thoát ... Tôi có đạt vô nguyện giải thoát ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ vô nguyện giải thoát” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 33~49Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được vô phiền não định ... vô tướng định ... vô nguyện định ... Tôi có đạt vô nguyện định ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ vô nguyện định” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 34~50Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sự chứng đạt về vô phiền não ... sự chứng đạt về vô tướng ... sự chứng đạt về vô nguyện ... Tôi có đạt sự chứng đạt về vô nguyện ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sự chứng đạt về vô nguyện” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 35~51Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được ba Minh, ... Tôi có đạt ba Minh ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ ba Minh” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 36~52Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được bốn sự thiết lập niệm ... bốn chánh cần ... bốn nền tảng của thần thông ... Tôi có đạt bốn nền tảng của thần thông ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ bốn nền tảng của thần thông” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 37~53Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được năm quyền ... năm lực ... Tôi có đạt năm lực ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ năm lực” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 38~54Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được bảy giác chi ... Tôi có đạt bảy giác chi ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ bảy giác chi” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 39~55Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được Thánh Đạo tám chi phần ... Tôi có đạt Thánh Đạo tám chi phần ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ Thánh Đạo tám chi phần” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 40~56Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được quả Nhập Lưu ... quả Nhất Lai ... quả Bất Lai ... phẩm vị A-la-hán ... Tôi có đạt phẩm vị A-la-hán ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ phẩm vị A-la-hán” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 41~57Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã từ bỏ tham ái, đã quăng bỏ tham ái, đã thoát khỏi tham ái, đã dứt bỏ tham ái, đã xa rời tham ái, đã khai trừ tham ái, đã đoạn trừ tham ái” bị phạm tội pārājika … nt …
Inda-bh 42~58Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã từ bỏ sân, đã quăng bỏ sân, đã thoát khỏi sân, đã dứt bỏ sân, đã xa rời sân, đã khai trừ sân, đã đoạn trừ sân” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 43~59Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã từ bỏ si, đã quăng bỏ si, đã thoát khỏi si, đã dứt bỏ si, đã xa rời si, đã khai trừ si, đã đoạn trừ si” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 44~60Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 45~61Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi sân” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 46~62Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’
Inda-bh 47~63Với bốn yếu tố … (như trên) … Với năm yếu tố … (như trên) … Với sáu yếu tố … (như trên) … Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.
Dứt phần đơn giản.
Inda-bh 1~64Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và nhị thiền, ... Tôi có đạt sơ thiền và nhị thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và nhị thiền” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 2~65Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và tam thiền, ... Tôi có đạt sơ thiền và tam thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và tam thiền” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 3~66Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và tứ thiền, ... Tôi có đạt sơ thiền và tứ thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và tứ thiền” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 4~67Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và vô phiền não giải thoát ... sơ thiền và vô tướng giải thoát ... sơ thiền và vô nguyện giải thoát ... Tôi có đạt sơ thiền và vô nguyện giải thoát ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và vô nguyện giải thoát” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 5~68Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và vô phiền não định ... sơ thiền và vô tướng định ... sơ thiền và vô nguyện định ... Tôi có đạt sơ thiền và vô nguyện định ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và vô nguyện định” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 6~69Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và sự chứng đạt về vô phiền não ... sơ thiền và sự chứng đạt về vô tướng ... sơ thiền và sự chứng đạt về vô nguyện ... Tôi có đạt sơ thiền và sự chứng đạt về vô nguyện ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và sự chứng đạt về vô nguyện” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 7~70Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và ba Minh ... Tôi có đạt sơ thiền và ba Minh ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và ba Minh” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 8~71Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và bốn sự thiết lập niệm ... sơ thiền và bốn chánh cần ... sơ thiền và bốn nền tảng của thần thông ... Tôi có đạt sơ thiền và bốn nền tảng của thần thông ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và bốn nền tảng của thần thông” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 9~72Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và năm quyền ... sơ thiền và năm lực ... Tôi có đạt sơ thiền và năm lực ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và năm lực” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 10~73Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và bảy giác chi ... Tôi có đạt sơ thiền và bảy giác chi ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và bảy giác chi” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 11~74Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và Thánh Đạo tám chi phần ... Tôi có đạt sơ thiền và Thánh Đạo tám chi phần ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và Thánh Đạo tám chi phần” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 12~75Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền và quả Nhập Lưu ... sơ thiền và quả Nhất Lai ... sơ thiền và quả Bất Lai ... sơ thiền và phẩm vị A-la-hán ... Tôi có đạt sơ thiền và phẩm vị A-la-hán ... Tôi có trú ... tôi đã chứng ngộ sơ thiền và phẩm vị A-la-hán” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 13~76Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền ... Tôi có đạt sơ thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền ... và tôi đã từ bỏ tham ái ... và tôi đã từ bỏ sân ... và tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 14~77Với ba yếu tố ... Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền ... Tôi có đạt sơ thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ sơ thiền ... và tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái ... và tâm của tôi không bị che lấp bởi sân ... và tâm của tôi không bị che lấp bởi si” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.
Dứt sự luân phiên từng phần.
Inda-bh 1~78Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được nhị thiền và tam thiền ... Tôi có đạt nhị thiền và tam thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ nhị thiền và tam thiền” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 2~79Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được nhị thiền và tứ thiền ... Tôi có đạt nhị thiền và tứ thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ nhị thiền và tứ thiền” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 3~80Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được nhị thiền và vô phiền não giải thoát ... và vô tướng giải thoát ... và vô nguyện giải thoát ... và vô phiền não định ... và vô tướng định ... và vô nguyện định ... và sự chứng đạt về vô phiền não ... và sự chứng đạt về vô tướng ... và sự chứng đạt về vô nguyện ... và ba Minh ... và bốn sự thiết lập niệm ... và bốn chánh cần ... và bốn nền tảng của thần thông ... và năm quyền ... và năm lực ... và bảy giác chi ... và Thánh Đạo tám chi phần ... và quả Nhập Lưu ... và quả Nhất Lai ... và quả Bất Lai ... và phẩm vị A-la-hán … (như trên) … Tôi có đạt nhị thiền và phẩm vị A-la-hán ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ nhị thiền và phẩm vị A-la-hán” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 4~81Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được nhị thiền ... Tôi có đạt nhị thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ nhị thiền ... và tôi đã từ bỏ tham ái ... và tôi đã từ bỏ sân ... và tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si, và tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái ... và tâm của tôi không bị che lấp bởi sân ... và tâm của tôi không bị che lấp bởi si” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 5~82Với ba yếu tố ... Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được nhị thiền và sơ thiền ... Tôi có đạt nhị thiền và sơ thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ nhị thiền và sơ thiền” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Sự luân phiên kết hợp.
Sau khi thực hiện mỗi một nhân tố như thế,
sự luân phiên kết hợp nên được tiến hành viên mãn.
Inda-bh 1~83Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được tam thiền và tứ thiền ... ... tam thiền và phẩm vị A-la-hán ... Tôi có đạt tam thiền và phẩm vị A-la-hán ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ tam thiền và phẩm vị A-la-hán” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 2~84Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được tam thiền ... Tôi có đạt tam thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ tam thiền ... và tôi đã từ bỏ tham ái ... và tôi đã từ bỏ sân ... và tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si, và tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái ... và tâm của tôi không bị che lấp bởi sân ... và tâm của tôi không bị che lấp bởi si” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 3~85Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được tam thiền và sơ thiền ... tam thiền và nhị thiền ... Tôi có đạt tam thiền và nhị thiền ... Tôi có trú ... Tôi đã chứng ngộ nhị thiền và sơ thiền” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 4~86Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được sơ thiền ... nhị thiền ... tam thiền ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt tứ thiền ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ tứ thiền” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 5~87Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được vô phiền não giải thoát, ... vô tướng giải thoát, ... vô nguyện giải thoát ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt vô nguyện giải thoát ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ vô nguyện giải thoát” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 6~88Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được vô phiền não định, vô tướng định, và vô nguyện định ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt vô nguyện định ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ vô nguyện định” bị phạm tội pārājika … nt …
Inda-bh 7~89Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được sự chứng đạt về vô phiền não, sự chứng đạt về vô tướng, sự chứng đạt về vô nguyện ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt sự chứng đạt về vô nguyện ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ sự chứng đạt về vô nguyện” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 8~90Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được ba Minh ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt ba Minh ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ ba Minh” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 9~91Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt bốn nền tảng của thần thông ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ bốn nền tảng của thần thông” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 10~92Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được năm quyền ... năm lực ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt năm lực ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ năm lực” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 11~93Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được bảy giác chi ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt bảy giác chi ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ bảy giác chi” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 12~94Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được Thánh Đạo tám chi phần ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt Thánh Đạo tám chi phần ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ Thánh Đạo tám chi phần” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 13~95Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được quả Nhập Lưu, quả Nhất Lai, quả Bất Lai, phẩm vị A-la-hán ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt phẩm vị A-la-hán ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ phẩm vị A-la-hán” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 14~96Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... và tôi chứng ... và tôi đã chứng được sơ thiền ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt sơ thiền ... tôi có trú ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ sơ thiền” bị phạm tội pārājika … (như trên) …
Inda-bh 15~97Với ba yếu tố ... Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng nhị thiền ... tam thiền ... tứ thiền ... vô phiền não giải thoát ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi sân” bị phạm tội pārājika: ... Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.
Dứt phần một nhân tố.
Inda-bh 16~98Phần hai nhân tố, phần ba nhân tố, phần bốn nhân tố, phần năm nhân tố, phần sáu nhân tố, phần bảy nhân tố, phần tám nhân tố, phần chín nhân tố, phần mười nhân tố nên được thực hiện. Theo cách các từ ngữ đã được trình bày, phần một nhân tố nên được triển khai. Phần một nhân tố đã được giải chi tiết như thế nào, phần hai nhân tố cũng nên được giải chi tiết y như thế.
Inda-bh 1~99Với ba yếu tố ... Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ... Tôi chứng ... Tôi đã chứng được sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, vô phiền não giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát, vô phiền não định, vô tướng định, vô nguyện định, sự chứng đạt về vô phiền não, sự chứng đạt về vô tướng, sự chứng đạt về vô nguyện, ba Minh, bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy giác chi, Thánh Đạo tám chi phần, quả Nhập Lưu, quả Nhất Lai, quả Bất Lai, phẩm vị A-la-hán, … (như trên) … Tôi đã từ bỏ tham ái, tôi đã từ bỏ sân, tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si, tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái, tâm của tôi không bị che lấp bởi sân, và tâm của tôi không bị che lấp bởi si” bị phạm tội pārājika: … (như trên) … Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.
Dứt phần tất cả các nhân tố.
Dứt phần giảng về các trường hợp đơn giản.
Inda-bh 1~100Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng sơ thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng nhị thiền,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 2~101Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng sơ thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng tam thiền ... tứ thiền ... vô phiền não giải thoát ... vô tướng giải thoát ... vô nguyện giải thoát ... vô phiền não định ... vô tướng định ... vô nguyện định ... sự chứng đạt về vô phiền não ... sự chứng đạt về vô tướng ... sự chứng đạt về vô nguyện ... ba Minh ... bốn sự thiết lập niệm ... bốn chánh cần ... bốn nền tảng của thần thông ... năm quyền ... năm lực ... bảy giác chi ... Thánh Đạo tám chi phần ... quả Nhập Lưu ... quả Nhất Lai ... quả Bất Lai ... phẩm vị A-la-hán ... Tôi đã từ bỏ tham ái ... Tôi đã từ bỏ sân ... Tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi sân ... Tâm của tôi không bị che lấp bởi si,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.
Dứt sự luân phiên từng phần
của một nhân tố theo lời phát biểu của người nói.
Inda-bh 1~102Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng nhị thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng tam thiền,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 2~103Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng nhị thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 3~104Với ba yếu tố ... Với bảy yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng nhị thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya … (như trên) … đã che giấu ý định.
Sự luân phiên kết hợp của một nhân tố
theo lời phát biểu của người nói.
PHẦN NHÂN TỐ ĐƯỢC TÓM LƯỢC:
Inda-bh 1~105Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 2~106Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si” lại cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi sân,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya.
Dứt phần một nhân tố
theo lời phát biểu của người nói.
Inda-bh 3~107Phần hai nhân tố, phần ba nhân tố, phần bốn nhân tố, phần năm nhân tố, phần sáu nhân tố, phần bảy nhân tố, phần tám nhân tố, phần chín nhân tố, phần mười nhân tố nên được thực hiện y như thế.
ĐÂY LÀ PHẦN TẤT CẢ CÁC NHÂN TỐ:
Inda-bh 1~108Với ba yếu tố, … (như trên) … Với bảy yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, vô phiền não giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát, vô phiền não định, vô tướng định, vô nguyện định, sự chứng đạt về vô phiền não, sự chứng đạt về vô tướng, sự chứng đạt về vô nguyện, ba Minh, bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy giác chi, Thánh Đạo tám chi phần, quả Nhập Lưu, quả Nhất Lai, quả Bất Lai, phẩm vị A-la-hán ... Tôi đã từ bỏ tham ái ... Tôi đã từ bỏ sân ... Tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si, tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái, tâm của tôi không bị che lấp bởi sân, tâm của tôi không bị che lấp bởi si,” lại cố tình nói điều dối trá, (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya … (như trên) … đã che giấu ý định.
Inda-bh 2~109Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, vô phiền não giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát, vô phiền não định, vô tướng định, vô nguyện định, sự chứng đạt về vô phiền não, sự chứng đạt về vô tướng, sự chứng đạt về vô nguyện, ba Minh, bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy giác chi, Thánh Đạo tám chi phần, quả Nhập Lưu, quả Nhất Lai, quả Bất Lai, phẩm vị A-la-hán, tôi đã từ bỏ tham ái, tôi đã từ bỏ sân, tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si, tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái, tâm của tôi không bị che lấp bởi sân, và tâm của tôi không bị che lấp bởi si” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 3~110Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng tam thiền, tứ thiền, … (như trên) … Tâm của tôi không bị che lấp bởi si … (như trên) … và tôi đã chứng sơ thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng nhị thiền,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 4~111Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si, và tôi đã chứng sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, … (như trên) … Tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái” lại cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi sân,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.
Phần tất cả các nhân tố.
Dứt phần giản lược về
sự luân phiên theo lời phát biểu của người nói.
Dứt phần giảng về trường hợp ‘Có ý định nói.’
Inda-bh 1~112Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị tỳ khưu cư ngụ trong trú xá của đạo hữu đã chứng, chứng, đã chứng được sơ thiền, vị tỳ khưu ấy có đạt, có trú sơ thiền, sơ thiền đã được chứng ngộ bởi vị tỳ khưu ấy,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’
Inda-bh 2~113Với bốn yếu tố ... Với năm yếu tố ... Với sáu yếu tố ... Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị tỳ khưu cư ngụ trong trú xá của đạo hữu đã chứng, chứng, đã chứng được sơ thiền, vị tỳ khưu ấy có đạt, có trú sơ thiền, sơ thiền đã được chứng ngộ bởi vị tỳ khưu ấy,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.
Inda-bh 3~114Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị tỳ khưu cư ngụ trong trú xá của đạo hữu đã chứng ... chứng ... đã chứng được nhị thiền ... tam thiền ... tứ thiền ... vô phiền não giải thoát ... vô tướng giải thoát ... vô nguyện giải thoát ... vô phiền não định ... vô tướng định ... vô nguyện định ... sự chứng đạt về vô phiền não ... sự chứng đạt về vô tướng ... sự chứng đạt về vô nguyện ... ba Minh ... bốn sự thiết lập niệm ... bốn chánh cần ... bốn nền tảng của thần thông ... năm quyền ... năm lực ... bảy giác chi ... Thánh Đạo tám chi phần ... quả Nhập Lưu ... quả Nhất Lai ... quả Bất Lai ... phẩm vị A-la-hán ... Vị tỳ khưu ấy có đạt phẩm vị A-la-hán ... có trú ... phẩm vị A-la-hán đã được chứng ngộ bởi vị tỳ khưu ấy,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 4~115Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị tỳ khưu ấy đã từ bỏ tham ái ... đã từ bỏ sân ... đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 5~116Với ba yếu tố ... Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị tỳ khưu ấy có tâm không bị che lấp bởi tham ái ... có tâm không bị che lấp bởi sân ... có tâm không bị che lấp bởi si,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.
Inda-bh 6~117Với ba yếu tố ... Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị tỳ khưu cư ngụ trong trú xá của đạo hữu đã chứng ... chứng... đã chứng được sơ thiền ... nhị thiền ... tam thiền ... tứ thiền ở nơi thanh vắng ... vị tỳ khưu ấy có đạt tứ thiền ở nơi thanh vắng ... có trú ... tứ thiền ở nơi thanh vắng đã được chứng ngộ bởi vị tỳ khưu ấy,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.
Inda-bh 7~118Với ba yếu tố ... Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị nào đã thọ dụng trú xá của đạo hữu, vị nào đã thọ dụng y của đạo hữu, vị nào đã thọ dụng vật thực của đạo hữu, vị nào đã thọ dụng chỗ trú ngụ của đạo hữu, vị nào đã thọ dụng thuốc men trị bệnh của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy đã chứng ... chứng ... đã chứng được tứ thiền ở nơi thanh vắng, vị tỳ khưu ấy có đạt tứ thiền ở nơi thanh vắng ... có trú ... tứ thiền ở nơi thanh vắng đã được chứng ngộ bởi vị tỳ khưu ấy,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa. … (như trên) …
Inda-bh 8~119Với ba yếu tố ... Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “ Trú xá của đạo hữu đã được thọ dụng bởi vị nào, y của đạo hữu đã được thọ dụng bởi vị nào, vật thực của đạo hữu đã được thọ dụng bởi vị nào, chỗ trú ngụ của đạo hữu đã được thọ dụng bởi vị nào, thuốc men trị bệnh của đạo hữu đã được thọ dụng bởi vị nào, vị tỳ khưu ấy đã chứng ... chứng ... đã chứng được tứ thiền ở nơi thanh vắng, vị tỳ khưu ấy có đạt tứ thiền ở nơi thanh vắng ... có trú ... tứ thiền ở nơi thanh vắng đã được chứng ngộ bởi vị tỳ khưu ấy,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa. … (như trên) …
Inda-bh 9~120Với ba yếu tố ... Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị nào đạo hữu đã đi đến và đã dâng y, đã dâng vật thực, đã dâng chỗ trú ngụ, đã dâng thuốc men trị bệnh, vị tỳ khưu ấy đã chứng ... chứng ... đã chứng được tứ thiền ở nơi thanh vắng, vị tỳ khưu ấy có đạt tứ thiền ở nơi thanh vắng ... có trú ... tứ thiền ở nơi thanh vắng đã được chứng ngộ bởi vị tỳ khưu ấy,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.
Dứt mười lăm phần giản lược.
Dứt phần giảng về các trường hợp liên quan đến vật dụng.
Dứt phần giản lược về sự luân phiên của các Pháp Thượng Nhân.
Inda-bh 10~121Vì sự tự tin thái quá, vị không có ý định khoác lác, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
CHUYỆN DẪN GIẢI:
Do tự tin thái quá, trong rừng, đồ ăn khất thực, thầy tế độ, oai nghi, các sự trói buộc, nơi vắng vẻ, trú xá, các pháp (thượng nhân), được hộ độ.
Không phải là việc khó, tinh tấn, tử thần, sợ hãi, này đại đức, sự ân hận, chơn chánh, với sự tinh tấn, với sự gắn bó, đưa đến sự thành tựu, rồi có hai câu chuyện về cảm thọ.
Bà-la-môn năm chuyện, ba chuyện vị đề cập trí giải thoát, ngụ nhà, các dục đã ngăn chặn, thỏa thích, và ra đi.
Bộ xương và miếng thịt, hai chuyện kẻ giết bò, cục thịt kẻ bẫy chim, không da người hàng thịt, cây gươm kẻ mổ heo, cây lao thợ săn nai, mũi tên người xử án, cây kim kẻ dạy thú.
Người đâm thọc bị khâu, mang tinh hoàn quan tòa, chìm hố kẻ ngoại tình, Bà-la-môn quỷ quyệt là kẻ bị ăn phân.
Không da gái lăng loàn, gớm ghiếc bà bói toán, thị héo hon tàn tạ, đổ than hồng tình địch, đầu cụt kẻ trảm tù.
Tỳ khưu, tỳ khưu ni, ni tập sự, sa di, rồi vị sa di ni, đã xuất gia trong Luật của Phật Kassapa chúng đã làm ác nghiệp.
Dòng sông Tapodā, thành Rājagaha, chiến trận (Licchavi), và chuyện rồng lặn hụp, tỳ khưu Sobhita là vị A-la-hán nhớ được năm trăm kiếp.
Inda-bh 1~122Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ do sự tự tin thái quá đã nói về trí giải thoát. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Điều học đã được đức Thế Tôn quy định; phải chăng ta đã phạm tội pārājika?” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này tỳ khưu, do sự tự tin thái quá thì vô tội.” (1)
Inda-bh 2~123Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ cư ngụ ở trong rừng sau khi đã mong mỏi rằng: “Như vầy thì dân chúng sẽ kính trọng ta!” Dân chúng đã kính trọng vị ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên cư ngụ ở trong rừng sau khi đã mong mỏi; vị nào cư ngụ thì phạm tội dukkaṭa.” (2)
Inda-bh 3~124Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi khất thực sau khi đã mong mỏi rằng: “Như vầy thì dân chúng sẽ kính trọng ta!” Dân chúng đã kính trọng vị ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … nt … “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên đi khất thực sau khi đã mong mỏi; vị nào đi thì phạm tội dukkaṭa.” (3)
Inda-bh 4~125Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nói với vị tỳ khưu khác điều này:—“Này đại đức, tất cả các đệ tử của thầy tế độ của chúng ta đều là các vị A-la-hán.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?”—“Bạch Thế Tôn, con có ý định khoác lác.”—“Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (4)
Inda-bh 5~126Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nói với vị tỳ khưu khác điều này:—“Này đại đức, tất cả các học trò của thầy tế độ của chúng ta đều có đại thần lực, có đại oai lực.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?”—“Bạch Thế Tôn, con có ý định khoác lác.”—“Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (5)
Inda-bh 6~127Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi kinh hành sau khi đã mong mỏi rằng: … (như trên) … đứng yên sau khi đã mong mỏi rằng: … (như trên) … ngồi xuống sau khi đã mong mỏi rằng: … (như trên) … nằm xuống sau khi đã mong mỏi rằng: “Như vầy thì dân chúng sẽ kính trọng ta!” Dân chúng đã kính trọng vị ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên nằm xuống sau khi đã mong mỏi; vị nào nằm xuống thì phạm tội dukkaṭa.” (6–9)
Inda-bh 7~128Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khoác lác về pháp thượng nhân đến vị tỳ khưu khác. Vị ấy cũng đã nói như vầy:—“Này đại đức, những sự trói buộc của tôi cũng đã được dứt bỏ.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … nt … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (10)
Inda-bh 8~129Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi đến nơi vắng vẻ rồi khoác lác về pháp thượng nhân. Có vị tỳ khưu biết được tâm người khác đã phản bác vị tỳ khưu ấy rằng:—“Này đại đức, chớ có nói như thế. Điều ấy đại đức không có.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … nt … “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.” (11)
Inda-bh 9~130Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi đến nơi vắng vẻ rồi khoác lác về pháp thượng nhân. Có vị Thiên nhân đã phản bác vị tỳ khưu ấy rằng:—“Thưa ngài, chớ có nói như thế. Điều ấy ngài không có.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.” (12)
Inda-bh 10~131Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nói với nam cư sĩ nọ điều này:—“Này đạo hữu, vị tỳ khưu sống trong trú xá của đạo hữu là vị A-la-hán.” Và vị tỳ khưu ấy sống trong trú xá của người ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, … (như trên) … “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?”—“Bạch Thế Tôn, con có ý định khoác lác.”—“Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.”(13)
Inda-bh 11~132Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nói với nam cư sĩ nọ điều này:—“Này đạo hữu, vị tỳ khưu mà ngươi hộ độ bằng vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men trị bệnh là vị A-la-hán.” Và người ấy đang hộ độ vị tỳ khưu ấy bằng vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men trị bệnh. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?”—“Bạch Thế Tôn, con có ý định khoác lác.” “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (141)
Inda-bh 12~133Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này:—“Đại đức có pháp thượng nhân không?” “Này các đại đức, không phải là việc khó để nói lên trí giải thoát.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Chỉ có những vị Thinh Văn của đức Thế Tôn mới có thể nói như thế. Và ta không phải là Thinh Văn của đức Thế Tôn; phải chăng ta đã phạm tội pārājika?” Rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?”—“Bạch Thế Tôn, con không có ý định khoác lác.” “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (15)
Inda-bh 13~134Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này:—“Đại đức có pháp thượng nhân không?” “Này các đại đức, pháp sẽ được thành tựu với vị có sự tinh tấn đã được ra sức.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (16)
Inda-bh 14~135Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này:—“Này đại đức, chớ có sợ hãi!”—“Này các đại đức, tôi không sợ hãi thần chết.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (17)
Inda-bh 15~136Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này:—“Này đại đức, chớ có sợ hãi!”—“Này các đại đức, có lẽ vị nào có sự ân hận thì vị ấy mới sợ hãi.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (18)
Inda-bh 16~137Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này:—“Đại đức có pháp thượng nhân không?” “Này các đại đức, pháp sẽ được thành tựu với vị có sự hành trì chơn chánh.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (19)
Inda-bh 17~138Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này:—“Đại đức có pháp thượng nhân không?” “Này các đại đức, pháp sẽ được thành tựu với vị có sự tinh tấn đã được ra sức.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (20)
Inda-bh 18~139Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này:—“Đại đức có pháp thượng nhân không?”—“Này các đại đức, pháp sẽ được thành tựu với vị có sự kiên trì gắn bó.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … nt … “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (21)
Inda-bh 19~140Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này:—“Này đại đức, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không?”—“Này các đại đức, người nào khác thì không thể chịu đựng nổi.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (22)
Inda-bh 20~141Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này:—“Này đại đức, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không?” “Này các đại đức, phàm nhân thì không thể chịu đựng nổi.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?”—“Bạch Thế Tôn, con có ý định khoác lác.”—“Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (23)
Inda-bh 21~142Vào lúc bấy giờ, có người Bà-la-môn nọ đã thỉnh mời các tỳ khưu và đã nói điều này:—“Thưa các ngài, xin các vị A-la-hán hãy ngự đến.” Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Chúng ta không phải là các vị A-la-hán và người Bà-la-môn này gọi chúng ta bằng từ A-la-hán. Vậy chúng ta nên xử trí như thế nào đây?” Rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, vô tội trong việc xưng hô theo đức tin.” (24)
Inda-bh 22~143Vào lúc bấy giờ, có người Bà-la-môn nọ đã thỉnh mời các tỳ khưu và đã nói điều này:—“Thưa các ngài, xin các vị A-la-hán hãy ngồi xuống.” … (như trên) … “Thưa các ngài, xin các vị A-la-hán hãy thọ thực.” … nt … “Thưa các ngài, xin các vị A-la-hán hãy được hài lòng.” … nt … “Thưa các ngài, xin các vị A-la-hán hãy ra đi.” Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Chúng ta không phải là các vị A-la-hán và người Bà-la-môn này lại đối xử với chúng ta bằng danh xưng A-la-hán. Vậy chúng ta nên xử trí như thế nào đây?” Rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, vô tội trong việc xưng hô theo đức tin.” (25–28)
Inda-bh 23~144Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khoác lác với vị tỳ khưu khác về pháp thượng nhân. Vị ấy cũng đã nói như vầy:—“Này đại đức, tôi cũng đã đoạn tận các lậu hoặc.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (29)
Inda-bh 24~145Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khoác lác với vị tỳ khưu khác về pháp thượng nhân. Vị ấy cũng đã nói như vầy:—“Này đại đức, các pháp này cũng được tìm thấy ở tôi.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (30)
Inda-bh 25~146Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khoác lác với vị tỳ khưu khác về pháp thượng nhân. Vị ấy cũng đã nói như vầy:—“Này đại đức, tôi cũng thành thục các pháp này.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (31)
Inda-bh 26~147Vào lúc bấy giờ, các thân quyến đã nói với vị tỳ khưu nọ điều này:—“Thưa ngài, hãy đến và ngụ ở gia đình.”—“Này các đạo hữu, người như tôi không thể ngụ ở gia đình.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (32)
Inda-bh 27~148Vào lúc bấy giờ, các thân quyến đã nói với vị tỳ khưu nọ điều này:—“Thưa ngài, hãy đến và thọ dụng các dục.”—“Này các đạo hữu, các dục của tôi đã được ngăn chặn.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (33)
Inda-bh 28~149Vào lúc bấy giờ, các thân quyến đã nói với vị tỳ khưu nọ điều này:—“Thưa ngài, xin hãy thỏa thích.”—“Này các đạo hữu, tôi được thỏa thích với sự thỏa thích tối thượng.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Chỉ có những vị Thinh Văn của đức Thế Tôn mới có thể nói như thế. Và ta không phải là Thinh Văn của đức Thế Tôn; phải chăng ta đã phạm tội pārājika?” Rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?”—“Bạch Thế Tôn, con không có ý định khoác lác.” “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (34)
Inda-bh 29~150Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa ở trú xứ nọ sau khi thỏa thuận rằng:—“Vị nào sẽ rời trú xứ này trước tiên, chúng ta sẽ biết vị ấy là ‘vị A-la-hán.’” Có vị tỳ khưu nọ (nghĩ rằng): “Hãy để cho các vị biết ta là ‘vị A-la-hán,’” rồi đã rời trú xứ ấy trước tiên. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (35)
Inda-bh 30~151Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, đại đức Lakkhaṇa và đại đức Mahāmoggallāna cư ngụ tại núi Gijjhakūṭa. Khi ấy vào buổi sáng, đại đức Mahāmoggallāna đã mặc y cầm y bát đi đến gặp đại đức Lakkhaṇa, sau khi đến đã nói với đại đức Lakkhaṇa điều này:—“Này đại đức Lakkhaṇa, chúng ta hãy đi vào thành Rājagaha để khất thực.”—“Này đại đức, xin vâng.” Đại đức Lakkhaṇa đã trả lời đại đức Mahāmoggallāna.
Inda-bh 31~152Sau đó, trong khi đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tại khu vực nọ đại đức Mahāmoggallāna đã mỉm cười. Khi ấy, đại đức Lakkhaṇa đã nói với đại đức Mahāmoggallāna điều này:—“Này đại đức Mahāmoggallāna, nhân gì duyên gì đưa đến việc mỉm cười vậy?”—“Này đại đức Lakkhaṇa, không phải là thời điểm của câu hỏi này, hãy hỏi ta câu hỏi này trong sự hiện diện của đức Thế Tôn.”
Inda-bh 32~153Sau đó, đại đức Lakkhaṇa và đại đức Mahāmoggallāna đã đi khất thực ở trong thành Rājagaha, sau bữa ăn khi đi khất thực trở về đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Lakkhaṇa đã nói với đại đức Mahā-moggallāna điều này:—“Ở đây, đại đức Mahāmoggallāna, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tại khu vực nọ đã mỉm cười. Này đại đức Mahāmoggallāna, nhân gì duyên gì đưa đến việc mỉm cười vậy?” “Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy bộ xương đang đi trong hư không. Có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào bộ xương ấy, rứt ra các phần ở khoảng giữa các xương sườn; bộ xương ấy đã rên rỉ khổ sở. Này đại đức, ta đây đã khởi ý điều này: ‘Thật là kỳ diệu! Thật là phi thường! Cũng có chúng sanh lại trở thành như thế này! Cũng có Dạ-xoa lại trở thành như thế này! Cũng có ngạ quỷ lại trở thành như thế này! Cũng có sự hình thành bản ngã lại là như thế này!’” Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Đại đức Mahāmoggallāna khoác lác về pháp thượng nhân.”
Inda-bh 33~154Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các vị tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, quả thật các Thinh Văn sống với mắt thấy như thật! Này các tỳ khưu, quả thật các Thinh Văn sống với trí biết như thật! Bởi vì là Thinh Văn thì sẽ biết, hoặc sẽ thấy, hoặc sẽ chứng kiến điều như thế. Này các tỳ khưu, trước đây Ta đã thấy chúng sanh ấy, tuy nhiên Ta đã không nói ra. Và nếu Ta nói ra điều ấy thì những kẻ khác có thể không tin Ta, những ai không tin Ta thì việc ấy sẽ đem lại cho chúng sự bất hạnh khổ đau lâu dài. Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là kẻ giết trâu bò ở ngay trong thành Rājagaha này. Kẻ ấy, do quả của nghiệp ấy, sau khi đã bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, và do quả dư sót của chính nghiệp ấy đã gánh chịu sự hình thành bản ngã có hình thức như thế. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna không phạm tội.” (36)
Inda-bh 34~155“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy miếng thịt đang đi trong hư không. Có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào miếng thịt ấy day nghiến, rứt ra; miếng thịt ấy đã rên rỉ khổ sở. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là kẻ giết trâu bò ở ngay trong thành Rājagaha này.” (37)
Inda-bh 35~156“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy cục thịt đang đi trong hư không. Có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào cục thịt ấy, day nghiến, rứt ra; cục thịt ấy đã rên rỉ khổ sở. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là kẻ bẫy chim ở ngay trong thành Rājagaha này.” (38)
Inda-bh 36~157“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người đàn ông không có lớp da (bao bọc) đang đi trong hư không. Có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào người ấy, day nghiến, rứt ra; người ấy đã rên rỉ khổ sở.” … (như trên) … “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là người hàng thịt ở ngay trong thành Rājagaha này.” (39)
Inda-bh 37~158“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người có lông là các cây gươm đang đi trong hư không. Những cây gươm ấy lăn xả lao vào người ấy, rơi xuống trên cơ thể của chính người ấy; người ấy đã rên rỉ khổ sở. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là người mổ heo ở ngay trong thành Rājagaha này.” (40)
Inda-bh 38~159“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người có lông là các cây lao đang đi trong hư không. Những cây lao ấy lăn xả lao vào người ấy, rơi xuống trên cơ thể của chính người ấy; người ấy đã rên rỉ khổ sở. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là người thợ săn nai ở ngay trong thành Rājagaha này.” (41)
Inda-bh 39~160“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người có lông là các mũi tên đang đi trong hư không. Những mũi tên ấy lăn xả lao vào người ấy, rơi xuống trên cơ thể của chính người ấy; người ấy đã rên rỉ khổ sở. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là người tra khảo ở ngay trong thành Rājagaha này.” (42)
Inda-bh 40~161“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người có lông là các cây kim đang đi trong hư không. Những cây kim ấy lăn xả lao vào người ấy, rơi xuống trên cơ thể của chính người ấy; người ấy đã rên rỉ khổ sở. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là người đánh xe ở ngay trong thành Rājagaha này.” (43)
Inda-bh 41~162“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người có lông là các cây kim đang đi trong hư không. Những cây kim ấy đã đi vào đầu của người ấy rồi đi ra từ miệng, đã đi vào miệng rồi đi ra từ ngực, đã đi vào ngực rồi đi ra từ bụng, đã đi vào bụng rồi đi ra từ hai đùi, đã đi vào hai đùi rồi đi ra từ hai cẳng chân, đã đi vào hai cẳng chân rồi đi ra từ hai bàn chân; người ấy đã rên rỉ khổ sở. … nt … “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là kẻ nói lời đâm thọc ở ngay trong thành Rājagaha này.” (44)
Inda-bh 42~163“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người hình thù quỷ sứ đang đi trong hư không. Trong lúc đi, người ấy đặt hai tinh hoàn ở trên vai rồi đi. Trong khi ngồi xuống, người ấy ngồi xuống trên chính hai tinh hoàn ấy. Có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào người ấy, day nghiến, rứt ra; người ấy đã rên rỉ khổ sở. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là quan xử án ở ngay trong thành Rājagaha này.” (45)
Inda-bh 43~164“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người bị chìm đến tận đầu ở trong hố phân … (như trên) … “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là kẻ phạm tội ngoại tình ở ngay trong thành Rājagaha này.” (46)
Inda-bh 44~165“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người bị chìm đến tận đầu ở trong hố phân, đang ăn phân bằng hai bàn tay—(nt)—“Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là kẻ Bà-la-môn quỷ quyệt ở ngay trong thành Rājagaha này. Trong thời Giáo Pháp của đức Chánh Đẳng Giác Kassapa, kẻ ấy đã thỉnh mời hội chúng tỳ khưu bữa ăn. Sau khi cho người đổ đầy các máng phân và thông báo thời giờ, kẻ ấy đã nói điều này:—‘Này các ngài, hãy ăn rồi hãy mang đi theo ý thích.’” (47)
Inda-bh 45~166“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người đàn bà không có lớp da (bao bọc) đang đi trong hư không. Có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào cô ấy, day nghiến, rứt ra; cô ấy đã rên rỉ khổ sở. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, người đàn bà ấy đã là gái lăng loàn ở ngay trong thành Rājagaha này. (48)
Inda-bh 46~167“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người đàn bà hôi thối gớm ghiếc đang đi trong hư không. Có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào cô ấy, day nghiến, rứt ra; cô ấy đã rên rỉ khổ sở. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, người đàn bà ấy đã là bà bói toán ở ngay trong thành Rājagaha này.” (49)
Inda-bh 47~168“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người đàn bà bị thiêu đốt, héo hon, tàn tạ; cô ấy đã rên rỉ khổ sở. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, người đàn bà ấy đã là đệ nhất hoàng hậu của đức vua Kāliṅga. Bà ta lộ vẻ ghen tương đã dùng chậu than cháy đỏ trút lên người tình địch.” (50)
Inda-bh 48~169“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy thi thể không đầu đang đi trong hư không, còn các con mắt và miệng thì ở trên ngực của người ấy. Có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào người ấy, day nghiến, rứt ra; người ấy đã rên rỉ khổ sở. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là người xử tử bọn trộm cướp tên Hārika ở ngay trong thành Rājagaha này.” (51)
Inda-bh 49~170“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy vị tỳ khưu đang đi trong hư không, y hai lớp của vị ấy bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa, bình bát cũng bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa, dây thắt lưng cũng bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa, thân hình cũng bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa; vị ấy đã rên rỉ khổ sở. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy đã là vị ác tỳ khưu ở vào thời Giáo Pháp của đức Chánh Đẳng Giác Kassapa.” (52)
Inda-bh 50~171“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy vị tỳ khưu ni … (như trên) … đã nhìn thấy vị ni tu tập sự … (như trên) … đã nhìn thấy vị sa di … (như trên) … đã nhìn thấy vị sa di ni đang đi trong hư không, y hai lớp của vị ni ấy bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa, bình bát cũng bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa, dây thắt lưng cũng bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa, thân hình cũng bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa; vị ni ấy đã rên rỉ khổ sở. Này đại đức, ta đây đã khởi ý điều này: “Thật là kỳ diệu! Thật là phi thường! Cũng có chúng sanh lại trở thành như thế này! Cũng có Dạ-xoa lại trở thành như thế này! Cũng có ngạ quỷ lại trở thành như thế này! Cũng có sự hình thành bản ngã lại là như thế này!” Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Đại đức Mahāmoggallāna khoác lác về pháp thượng nhân.”
Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các vị tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, quả thật các Thinh Văn sống với mắt thấy như thật! Này các tỳ khưu, quả thật các Thinh Văn sống với trí biết như thật! Bởi vì là Thinh Văn thì sẽ biết, hoặc sẽ thấy, hoặc sẽ chứng kiến điều như thế. Này các tỳ khưu, trước đây Ta đã thấy vị sa di ni ấy, tuy nhiên Ta đã không nói ra. Và nếu Ta nói ra thì những kẻ khác có thể không tin Ta, những ai không tin Ta thì việc ấy sẽ đem lại cho chúng sự bất hạnh khổ đau lâu dài. Này các tỳ khưu, vị sa di ni ấy đã là ác sa di ni ở vào thời Giáo Pháp của đức Chánh Đẳng Giác Kassapa. Vị ni ấy, do quả của nghiệp ấy, đã bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, và do quả dư sót của chính nghiệp ấy đã gánh chịu sự hình thành bản ngã có hình thức như thế. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna không phạm tội.” (53–56)
Inda-bh 51~172Khi ấy, đại đức Mahāmoggallāna đã nói với các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, dòng sông Tapodā chảy ra từ cái hồ có nước trong, có nước mát, có nước ngọt, có nước thanh khiết, có chỗ nghỉ chân xinh đẹp, đáng thưởng ngoạn, có nhiều cá và rùa, có những đóa hoa sen tròn nở rộ.” Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao đại đức Mahāmoggallāna lại phát biểu như vầy: ‘Này các đại đức, dòng sông Tapodā chảy ra từ cái hồ có nước trong, có nước mát, có nước ngọt, có nước thanh khiết, có chỗ nghỉ chân xinh đẹp, đáng thưởng ngoạn, có nhiều cá và rùa, có những đóa hoa sen tròn nở rộ?’ Vả lại dòng sông Tapodā này là nóng bỏng và trôi chảy. Đại đức Mahāmoggallāna khoác lác về pháp thượng nhân.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. “Này các tỳ khưu, dòng sông Tapodā chảy ra từ cái hồ có nước trong, có nước mát, có nước ngọt, có nước thanh khiết, có chỗ nghỉ chân xinh đẹp, đáng thưởng ngoạn, có nhiều cá và rùa, có những đóa hoa sen tròn nở rộ. Này các tỳ khưu, tuy nhiên dòng sông Tapodā này đi qua giữa hai đại địa ngục, vì thế dòng sông Tapodā này trở nên nóng bỏng và trôi chảy. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna không phạm tội.” (57)
Inda-bh 52~173Vào lúc bấy giờ, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, trong lúc giao chiến với các vị Licchavi, đã bị đánh tan tác. Sau đó, khi đã gom góp lại đội binh hậu bị, đức vua đã đánh bại các vị Licchavi. Và trong trận chiến có sự vui mừng loan truyền rằng: “Các vị Licchavi đã bị đức vua đánh tan tác.” Khi ấy, đại đức Mahāmoggallāna đã nói với các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, đức vua đã bị các vị Licchavi đánh tan tác. Và trong trận chiến có sự vui mừng loan truyền rằng: ‘Các vị Licchavi đã bị đức vua đánh tan tác.’” Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao đại đức Mahāmoggallāna lại phát biểu như vầy: ‘Này các đại đức, đức vua đã bị các vị Licchavi đánh tan tác. Và trong trận chiến có sự vui mừng loan truyền rằng: Các vị Licchavi đã bị đức vua đánh tan tác’? Đại đức Mahāmoggallāna khoác lác về pháp thượng nhân.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, trước tiên đức vua đã bị các vị Licchavi đánh tan tác. Sau đó, khi đã gom góp lại đội binh hậu bị, đức vua đã đánh bại các vị Licchavi. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna không phạm tội.” (58)
Inda-bh 54~174Sau đó, đại đức Mahāmoggallāna đã nói với các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, được thể nhập định bất thối, tôi đây ở nơi bờ sông Sappinikā đã nghe tiếng động của các con rồng đang hụp xuống rồi trồi lên và gầm lên tiếng rống.” Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Làm sao đại đức Mahāmoggallāna, được thể nhập định bất thối, lại có thể nghe tiếng động? Đại đức Mahāmoggallāna khoác lác về pháp thượng nhân.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, có loại định này và vị ấy chưa được thuần thục lắm. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna không phạm tội.” (59)
Inda-bh 55~175Khi ấy, đại đức Sobhita đã nói với các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi nhớ được năm trăm kiếp.” Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao đại đức Sobhita lại nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi nhớ được năm trăm kiếp’? Đại đức Sobhita khoác lác về pháp thượng nhân.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, Sobhita đã sống kiếp sống ấy, và kiếp sống ấy chính là một kiếp sống của Sobhita. Này các tỳ khưu, Sobhita đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Sobhita không phạm tội.” (60)
Điều pārājika thứ tư được đầy đủ.
Bạch chư đại đức, bốn điều pārājika đã được đọc tụng xong. Vị tỳ khưu vi phạm điều nọ hoặc điều kia thuộc về các điều này thì không đạt được sự cộng trú cùng với các vị tỳ khưu, trước đây như thế nào thì sau này là như vậy; (vị ấy) là vị phạm tội pārājika không được cộng trú.
Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Các đại đức ở đây được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
Dứt Điều Học Pārājika.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Bốn điều pārājika là: việc đôi lứa, vật không được cho, mạng người, pháp thượng nhân. Sự việc nên được phân tích, không còn sự nghi vấn.
Dứt Chương Pārājika.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Great Analysis
- The chapter on offenses entailing expulsion
Chương Pārājika đã chấm dứt.
4. Catutthapārājikasikkhāpada
4. The training rule on falsely claiming a superhuman quality
Origin story
First sub-story
1. Điều học về việc cố ý xuất tinh
Tena samayena buddho bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ. Tena kho pana samayena sambahulā sandiṭṭhā sambhattā bhikkhū vaggumudāya nadiyā tīre vassaṁ upagacchiṁsu. Tena kho pana samayena vajjī dubbhikkhā hoti dvīhitikā setaṭṭhikā salākāvuttā, na sukarā uñchena paggahena yāpetuṁ.
Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“etarahi kho vajjī dubbhikkhā dvīhitikā setaṭṭhikā salākāvuttā, na sukarā uñchena paggahena yāpetuṁ. Kena nu kho mayaṁ upāyena samaggā sammodamānā avivadamānā phāsukaṁ vassaṁ vaseyyāma, na ca piṇḍakena kilameyyāmā”ti?
Ekacce evamāhaṁsu—“handa mayaṁ, āvuso, gihīnaṁ kammantaṁ adhiṭṭhema, evaṁ te amhākaṁ dātuṁ maññissanti. Evaṁ mayaṁ samaggā sammodamānā avivadamānā phāsukaṁ vassaṁ vasissāma, na ca piṇḍakena kilamissāmā”ti.
Ekacce evamāhaṁsu—“alaṁ, āvuso, kiṁ gihīnaṁ kammantaṁ adhiṭṭhitena. Handa mayaṁ, āvuso, gihīnaṁ dūteyyaṁ harāma, evaṁ te amhākaṁ dātuṁ maññissanti. Evaṁ mayaṁ samaggā sammodamānā avivadamānā phāsukaṁ vassaṁ vasissāma, na ca piṇḍakena kilamissāmā”ti.
Ekacce evamāhaṁsu—“alaṁ, āvuso, kiṁ gihīnaṁ kammantaṁ adhiṭṭhitena. Kiṁ gihīnaṁ dūteyyaṁ haṭena. Handa mayaṁ, āvuso, gihīnaṁ aññamaññassa uttarimanussadhammassa vaṇṇaṁ bhāsissāma—‘asuko bhikkhu paṭhamassa jhānassa lābhī, asuko bhikkhu dutiyassa jhānassa lābhī, asuko bhikkhu tatiyassa jhānassa lābhī, asuko bhikkhu catutthassa jhānassa lābhī, asuko bhikkhu sotāpanno, asuko bhikkhu sakadāgāmī, asuko bhikkhu anāgāmī, asuko bhikkhu arahā, asuko bhikkhu tevijjo, asuko bhikkhu chaḷabhiñño’ti. Evaṁ te amhākaṁ dātuṁ maññissanti. Evaṁ mayaṁ samaggā sammodamānā avivadamānā phāsukaṁ vassaṁ vasissāma, na ca piṇḍakena kilamissāmā”ti. “Esoyeva kho, āvuso, seyyo yo amhākaṁ gihīnaṁ aññamaññassa uttarimanussadhammassa vaṇṇo bhāsito”ti.
Atha kho te bhikkhū gihīnaṁ aññamaññassa uttarimanussadhammassa vaṇṇaṁ bhāsiṁsu—“asuko bhikkhu paṭhamassa jhānassa lābhī …pe… asuko bhikkhu chaḷabhiñño”ti. Atha kho te manussā—“lābhā vata no, suladdhaṁ vata no, yesaṁ no evarūpā bhikkhū vassaṁ upagatā; na vata no ito pubbe evarūpā bhikkhū vassaṁ upagatā yathayime bhikkhū sīlavanto kalyāṇadhammā”ti, te na tādisāni bhojanāni attanā paribhuñjanti mātāpitūnaṁ denti puttadārassa denti dāsakammakaraporisassa denti mittāmaccānaṁ denti ñātisālohitānaṁ denti, yādisāni bhikkhūnaṁ denti. Te na tādisāni khādanīyāni sāyanīyāni pānāni attanā khādanti sāyanti pivanti mātāpitūnaṁ denti puttadārassa denti dāsakammakaraporisassa denti mittāmaccānaṁ denti ñātisālohitānaṁ denti, yādisāni bhikkhūnaṁ denti. Atha kho te bhikkhū vaṇṇavā ahesuṁ pīṇindriyā pasannamukhavaṇṇā vippasannachavivaṇṇā.
Āciṇṇaṁ kho panetaṁ vassaṁvuṭṭhānaṁ bhikkhūnaṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ. Atha kho te bhikkhū vassaṁvuṭṭhā temāsaccayena senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaraṁ ādāya yena vesālī tena pakkamiṁsu. Anupubbena yena vesālī mahāvanaṁ kūṭāgārasālā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Tena kho pana samayena disāsu vassaṁvuṭṭhā bhikkhū kisā honti lūkhā dubbaṇṇā uppaṇḍuppaṇḍukajātā dhamanisanthatagattā; vaggumudātīriyā pana bhikkhū vaṇṇavā honti pīṇindriyā pasannamukhavaṇṇā vippasannachavivaṇṇā. Āciṇṇaṁ kho panetaṁ buddhānaṁ bhagavantānaṁ āgantukehi bhikkhūhi saddhiṁ paṭisammodituṁ. Atha kho bhagavā vaggumudātīriye bhikkhū etadavoca—“kacci, bhikkhave, khamanīyaṁ kacci yāpanīyaṁ
kacci samaggā sammodamānā avivadamānā phāsukaṁ vassaṁ vasittha, na ca piṇḍakena kilamitthā”ti?
“Khamanīyaṁ, bhagavā, yāpanīyaṁ, bhagavā. Samaggā ca mayaṁ, bhante, sammodamānā avivadamānā phāsukaṁ vassaṁ vasimhā, na ca piṇḍakena kilamimhā”ti. Jānantāpi tathāgatā pucchanti, jānantāpi na pucchanti …pe… dvīhākārehi buddhā bhagavanto bhikkhū paṭipucchanti— “dhammaṁ vā desessāma, sāvakānaṁ vā sikkhāpadaṁ paññapessāmā”ti.
Atha kho bhagavā vaggumudātīriye bhikkhū etadavoca—“yathā kathaṁ pana tumhe, bhikkhave, samaggā sammodamānā avivadamānā phāsukaṁ vassaṁ vasittha na ca piṇḍakena kilamitthā”ti?
Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Kacci pana vo, bhikkhave, bhūtan”ti?
“Abhūtaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ, moghapurisā, ananulomikaṁ appatirūpaṁ assāmaṇakaṁ akappiyaṁ akaraṇīyaṁ. Kathañhi nāma tumhe, moghapurisā, udarassa kāraṇā gihīnaṁ aññamaññassa uttarimanussadhammassa vaṇṇaṁ bhāsissatha. Varaṁ tumhehi, moghapurisā, tiṇhena govikantanena kucchi parikanto, na tveva udarassa kāraṇā gihīnaṁ aññamaññassa uttarimanussadhammassa vaṇṇo bhāsito. Taṁ kissa hetu? Tatonidānañhi, moghapurisā, maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ, na tveva tappaccayā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya. Itonidānañca kho, moghapurisā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya. Netaṁ, moghapurisā, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“Pañcime, bhikkhave, mahācorā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame pañca? Idha, bhikkhave, ekaccassa mahācorassa evaṁ hoti—
At one time when the Buddha was staying in the house with the peaked roof in the Great Wood near Vesālī, a number of monks who were friends had entered the rainy-season residence on the banks of the river Vaggumudā. At that time Vajjī was short of food and afflicted with hunger, with crops affected by whiteheads and turned to straw. It was not easy to get by on almsfood.
The monks considered the difficult circumstances, and they thought, “How can we have a comfortable rains, live in peace and harmony, and get almsfood without trouble?”
Some said, “We could work for the householders, and they’ll support us in return.”
Others said, “There’s no need to work for the householders. Let’s instead take messages for them, and they’ll support us in return.”
Still others said, “There’s no need to work or take messages for them. Let’s instead talk up one another’s superhuman qualities to the householders: ‘That monk has the first absorption, that monk the second absorption, that monk the third, that monk the fourth; that monk is a streamenterer, that monk a once-returner, that a non-returner, that a perfected one; that monk has the three true insights, and that the six direct knowledges.’ Then they’ll support us. In this way we’ll have a comfortable and harmonious rains, and get almsfood without trouble. This is the way to go.”
Then those monks did just that. And the people there thought, “We’re so fortunate that such monks have come to us for the rainy-season residence. Such virtuous and good monks have never before entered the rains residence with us.” And they gave such food and drink to those monks that they did not even eat and drink themselves, or give to their parents, to their wives and children, to their slaves, servants, and workers, to their friends and companions, or to their relatives. Soon those monks had a good color, bright faces, clear skin, and sharp senses.
Now it was the custom for monks who had completed the rainy-season residence to go and visit the Buddha. And so, when the three months were over and they had completed the rains residence, those monks put their dwellings in order, took their bowls and robes, and set out for Vesālī. When they eventually arrived, they went to the house with the peaked roof in the Great Wood. There they approached the Buddha, bowed, and sat down.
At that time the monks who had completed the rains residence in that region were thin, haggard, and pale, with veins protruding all over their bodies. Yet the monks from the banks of the Vaggumudā had a good color, bright faces, clear skin, and sharp senses. Since it is the custom for Buddhas to greet newly-arrived monks, the Buddha said to them, “I hope you’re keeping well, monks, I hope you’re getting by?
I hope you had a comfortable and harmonious rains, and got almsfood without trouble?”
“We’re keeping well, sir, we’re getting by. We had a comfortable and harmonious rains, and got almsfood without trouble.” When Buddhas know what is going on, sometimes they ask and sometimes not. They know the right time to ask and when not to ask. Buddhas ask when it is beneficial, otherwise they do not, for Buddhas are incapable of doing what is unbeneficial. Buddhas question the monks for two reasons: to give a teaching or to lay down a training rule.
And the Buddha said to those monks, “In what way, monks, did you have a comfortable and harmonious rains? And how did you get almsfood without trouble?”
They then told him.
“But did you really have those superhuman qualities?”
“No, sir.”
The Buddha rebuked them, “It’s not suitable, foolish men, it’s not proper, it’s not worthy of a monastic, it’s not allowable, it’s not to be done. How could you for the sake of your stomachs talk up one another’s superhuman qualities to householders? It would be better for your bellies to be cut open with a sharp butcher’s knife than for you to talk up one another’s superhuman qualities to householders. Why is that? For although it might cause death or death-like suffering, it would not cause you to be reborn in a bad destination. But <em>this</em> might. This will affect people’s confidence …” After rebuking them and giving a teaching, he addressed the monks:
“Monks, there are these five notorious gangsters to be found in the world. What five? There is the notorious gangster who thinks like this:
234. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn đang trú ngụ ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của trưởng giả Anāthapiṇḍika. Và vào lúc bấy giờ, đại đức Seyyasako đang thực hành phạm hạnh một cách không hoan hỷ. Do đó, vị ấy trở nên gầy gò, thô kệch, xấu xí, xanh xao vàng vọt, và thân nổi đầy gân. Đại đức Udāyī đã nhìn thấy đại đức Seyyasako gầy gò, thô kệch, xấu xí, xanh xao vàng vọt, và thân nổi đầy gân. Sau khi nhìn thấy, vị ấy đã nói với đại đức Seyyasako điều này: – “Này hiền giả Seyyasaka, tại sao hiền giả lại gầy gò, thô kệch, xấu xí, xanh xao vàng vọt, và thân nổi đầy gân? Có phải chăng, này hiền giả Seyyasaka, hiền giả đang thực hành phạm hạnh một cách không hoan hỷ?” – “Thưa hiền giả, đúng vậy.” – “Nếu vậy, này hiền giả Seyyasaka, hiền giả hãy ăn thỏa thích, ngủ thỏa thích, tắm thỏa thích. Sau khi đã ăn thỏa thích, ngủ thỏa thích, tắm thỏa thích, khi nào sự không hoan hỷ khởi lên nơi hiền giả, dục vọng khuấy đảo tâm trí, thì khi ấy hãy cố gắng dùng tay làm cho xuất tinh.” – “Này hiền giả, làm một việc như vậy có được phép chăng?” – “Thưa hiền giả, được phép. Tôi cũng làm như vậy.”
195. Này các tỳ khưu, có năm hạng đại đạo tặc này hiện hữu, có mặt ở đời. Năm hạng ấy là những gì? Này các tỳ khưu, ở đây, có hạng đại đạo tặc khởi lên ý nghĩ như vầy: ‘Khi nào ta, được vây quanh bởi trăm hay ngàn (thuộc hạ), sẽ đi lang thang trong các làng, thị trấn, kinh đô, vừa đánh đập, vừa sai đánh đập, vừa chặt chém, vừa sai chặt chém, vừa nấu nướng, vừa sai nấu nướng?’ Rồi về sau, kẻ ấy được vây quanh bởi trăm hay ngàn (thuộc hạ), đi lang thang trong các làng, thị trấn, kinh đô, vừa đánh đập, vừa sai đánh đập, vừa chặt chém, vừa sai chặt chém, vừa nấu nướng, vừa sai nấu nướng. Cũng vậy, này các tỳ khưu, ở đây, có tỳ khưu ác hạnh khởi lên ý nghĩ như vầy: ‘Khi nào ta, được vây quanh bởi trăm hay ngàn (tỳ khưu), sẽ đi du hành trong các làng, thị trấn, kinh đô, được cung kính, trọng vọng, tôn trọng, cúng dường, kính nể bởi cả tại gia và xuất gia, và nhận được y, vật thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh?’ Rồi về sau, vị ấy được vây quanh bởi trăm hay ngàn (tỳ khưu), đi du hành trong các làng, thị trấn, kinh đô, được cung kính, trọng vọng, tôn trọng, cúng dường, kính nể bởi cả tại gia và xuất gia, và nhận được y, vật thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Này các tỳ khưu, đây là hạng đại đạo tặc thứ nhất hiện hữu, có mặt ở đời.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco pāpabhikkhu tathāgatappaveditaṁ dhammavinayaṁ pariyāpuṇitvā attano dahati. Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo mahācoro santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Or a bad monk learns the spiritual path proclaimed by the Buddha and takes it as his own. This is the second notorious gangster to be found in the world.
Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây, có tỳ khưu ác hạnh sau khi học thuộc Giáo pháp và Giới luật do Như Lai tuyên thuyết đã chiếm làm của riêng. Này các tỳ khưu, đây là hạng đại đạo tặc thứ hai hiện hữu, có mặt ở đời.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco pāpabhikkhu suddhaṁ brahmacāriṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carantaṁ amūlakena abrahmacariyena anuddhaṁseti. Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo mahācoro santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Or a bad monk groundlessly charges someone living a pure spiritual life with a sexual offense. This is the third notorious gangster to be found in the world.
Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây, có tỳ khưu ác hạnh vu khống một người sống phạm hạnh thanh tịnh, đang thực hành phạm hạnh hoàn toàn trong sạch, bằng tội phi phạm hạnh không có căn cứ. Này các tỳ khưu, đây là hạng đại đạo tặc thứ ba hiện hữu, có mặt ở đời.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco pāpabhikkhu yāni tāni saṅghassa garubhaṇḍāni garuparikkhārāni, seyyathidaṁ—ārāmo ārāmavatthu vihāro vihāravatthu mañco pīṭhaṁ bhisi bibbohanaṁ lohakumbhī lohabhāṇakaṁ lohavārako lohakaṭāhaṁ vāsi parasu kuṭhārī kudālo nikhādanaṁ valli veḷu muñjaṁ pabbajaṁ tiṇaṁ mattikā dārubhaṇḍaṁ mattikābhaṇḍaṁ, tehi gihiṁ saṅgaṇhāti upalāpeti. Ayaṁ, bhikkhave, catuttho mahācoro santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Or a bad monk takes valuable goods and requisites from the Sangha—a monastery, the site of a monastery, a dwelling, the site of a dwelling, a bed, a bench, a mattress, a pillow, a metal pot, a metal jar, a metal bucket, a metal bowl, a machete, a hatchet, an ax, a spade, a chisel, a creeper, bamboo, a reed, grass, clay, wooden goods, ceramic goods—and uses them to bribe and create a following among householders. This is the fourth notorious gangster to be found in the world.
Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây, có tỳ khưu ác hạnh dùng những vật nặng, vật dụng nặng của Tăng chúng, ví như là: khu vườn, đất vườn, tịnh xá, đất tịnh xá, giường, ghế, nệm, gối, nồi đồng, chảo đồng, chậu đồng, vạc đồng, rìu nhỏ, rìu lớn, búa, cuốc, đục, dây leo, tre, cỏ muñja, cỏ pabbaja, các loại cỏ khác, đất sét, đồ gỗ, đồ đất sét, để lôi kéo, tâng bốc người tại gia. Này các tỳ khưu, đây là hạng đại đạo tặc thứ tư hiện hữu, có mặt ở đời.
Sadevake, bhikkhave, loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya ayaṁ aggo mahācoro yo asantaṁ abhūtaṁ uttarimanussadhammaṁ ullapati. Taṁ kissa hetu? Theyyāya vo, bhikkhave, raṭṭhapiṇḍo bhutto”ti.
But in this world with its gods, lords of death, and supreme beings, in this society with its monastics and brahmins, its gods and humans, this is the most notorious gangster of all: one who claims to have a non-existent superhuman quality. Why is that? Monks, you’ve eaten the country’s almsfood by theft.”
Này các tỳ khưu, trong thế giới cùng với chư Thiên, cùng với Ma vương, cùng với Phạm thiên, trong chúng sanh cùng với Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với chư Thiên và loài người, kẻ nào khoe khoang pháp thượng nhân không có thật, không hiện hữu, kẻ ấy là tên đại đạo tặc tột bậc. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, là vì vật thực của quốc độ đã được (người ấy) thọ dụng một cách trộm cắp.
Aññathā santamattānaṁ, aññathā yo pavedaye; Nikacca kitavasseva, bhuttaṁ theyyena tassa taṁ.
“Whoever should declare himself To be other than he truly is, Has eaten this by theft, Like a cheater who has deceived.
Kẻ nào tự thân là một đằng, lại tỏ bày ra một nẻo; việc thọ dụng của kẻ ấy là do trộm cắp, giống như kẻ lừa đảo gian trá.
Kāsāvakaṇṭhā bahavo, pāpadhammā asaññatā; Pāpā pāpehi kammehi, nirayaṁ te upapajjare.
Many ocher-necks of bad qualities, Uncontrolled and wicked—By their wicked deeds, They are reborn in hell.
Nhiều kẻ quấn y cà-sa quanh cổ, có các pháp ác, không được thu thúc; những kẻ ác ấy do các nghiệp ác, sanh vào địa ngục.
Seyyo ayoguḷo bhutto, tatto aggisikhūpamo; Yañce bhuñjeyya dussīlo, raṭṭhapiṇḍaṁ asaññatoti.
It’s better to eat an iron ball, As hot as a licking flame, Than for the immoral and uncontrolled To eat the country’s alms.”
Thà nuốt hòn sắt nóng cháy, như ngọn lửa, còn hơn là kẻ vô giới, không thu thúc, lại thọ dụng vật thực của quốc độ.
Atha kho bhagavā vaggumudātīriye bhikkhū anekapariyāyena vigarahitvā dubbharatāya dupposatāya …pe… evañca pana, bhikkhave, imaṁ sikkhāpadaṁ uddiseyyātha—
After rebuking the monks from the banks of the Vaggumudā in many ways for being difficult to maintain, difficult to support … “And, monks, this training rule should be recited like this:
Preliminary ruling
Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi quở trách các vị tỳ khưu ở bờ sông Vaggumudā bằng nhiều cách về sự khó nuôi, khó dưỡng... vân vân... (Ngài phán): Này các tỳ khưu, các con hãy tụng đọc học giới này như vầy:
“Yo pana bhikkhu anabhijānaṁ uttarimanussadhammaṁ attupanāyikaṁ alamariyañāṇadassanaṁ samudācareyya—‘iti jānāmi iti passāmī’ti, tato aparena samayena samanuggāhīyamāno vā asamanuggāhīyamāno vā āpanno visuddhāpekkho evaṁ vadeyya—‘ajānamevaṁ, āvuso, avacaṁ jānāmi, apassaṁ passāmi. Tucchaṁ musā vilapin’ti, ayampi pārājiko hoti asaṁvāso”ti.
‘If a monk falsely claims for himself a superhuman quality, a knowledge and vision worthy of the noble ones, saying, “This I know, this I see,” but after some time—whether he is questioned or not, but having committed the offense and seeking purification—should say: “Not knowing I said that I know, not seeing that I see; what I said was empty and false,” he too is expelled and excluded from the community.’”
Vị tỳ khưu nào không biết mà lại tuyên bố về pháp thượng nhân, tri kiến đặc biệt của bậc Thánh có trong tự thân rằng: ‘Tôi biết như vầy, tôi thấy như vầy,’ rồi về sau, dù bị tra hỏi hay không bị tra hỏi, đã phạm tội, mong muốn được thanh tịnh, lại nói như vầy: ‘Thưa chư hiền, không biết mà tôi đã nói là biết, không thấy mà tôi đã nói là thấy. Tôi đã nói lời trống rỗng, dối trá,’ vị này cũng phạm tội bất cộng trụ.
Evañcidaṁ bhagavatā bhikkhūnaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ hoti.
In this way the Buddha laid down this training rule for the monks.
Second sub-story
Như vậy, học giới này đã được đức Thế Tôn chế định cho các tỳ khưu.
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū adiṭṭhe diṭṭhasaññino apatte pattasaññino anadhigate adhigatasaññino asacchikate sacchikatasaññino adhimānena aññaṁ byākariṁsu. Tesaṁ aparena samayena rāgāyapi cittaṁ namati dosāyapi cittaṁ namati mohāyapi cittaṁ namati. Tesaṁ kukkuccaṁ ahosi—“bhagavatā sikkhāpadaṁ paññattaṁ. Mayañcamha adiṭṭhe diṭṭhasaññino apatte pattasaññino anadhigate adhigatasaññino asacchikate sacchikatasaññino, adhimānena aññaṁ byākarimhā. Kacci nu kho mayaṁ pārājikaṁ āpattiṁ āpannā”ti? Te āyasmato ānandassa etamatthaṁ ārocesuṁ. Āyasmā ānando bhagavato etamatthaṁ ārocesi. “Honti ye te, ānanda, bhikkhū adiṭṭhe diṭṭhasaññino apatte pattasaññino anadhigate adhigatasaññino asacchikate sacchikatasaññino adhimānena aññaṁ byākaronti. Tañca kho etaṁ abbohārikan”ti.
Soon afterwards a number of monks, thinking they had seen and realized what in fact they had not, declared final knowledge because of overestimation. After some time, their minds inclined to sensual desire, ill will, and confusion. They became anxious, thinking, “The Buddha has laid down a training rule, yet we declared final knowledge because of overestimation. Could it be that we’ve committed an offense entailing expulsion?” They told Venerable Ānanda, who told the Buddha. He said, “This is negligible, Ānanda.
196. Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu đối với điều chưa thấy lại tưởng là đã thấy, đối với điều chưa đến lại tưởng là đã đến, đối với điều chưa chứng đắc lại tưởng là đã chứng đắc, đối với điều chưa chứng ngộ lại tưởng là đã chứng ngộ, do tưởng lầm mà đã tuyên bố về A-la-hán quả. Về sau, tâm của các vị ấy cũng hướng về tham, cũng hướng về sân, cũng hướng về si. Các vị ấy khởi lên hối hận: ‘Đức Thế Tôn đã chế định học giới. Còn chúng ta, đối với điều chưa thấy lại tưởng là đã thấy, đối với điều chưa đến lại tưởng là đã đến, đối với điều chưa chứng đắc lại tưởng là đã chứng đắc, đối với điều chưa chứng ngộ lại tưởng là đã chứng ngộ, do tưởng lầm mà đã tuyên bố về A-la-hán quả. Phải chăng chúng ta đã phạm tội bất cộng trụ?’ Các vị ấy đã trình bày sự việc này lên Tôn giả Ānanda. Tôn giả Ānanda đã trình bày sự việc này lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): ‘Này Ānanda, có những tỳ khưu đối với điều chưa thấy lại tưởng là đã thấy, đối với điều chưa đến lại tưởng là đã đến, đối với điều chưa chứng đắc lại tưởng là đã chứng đắc, đối với điều chưa chứng ngộ lại tưởng là đã chứng ngộ, do tưởng lầm mà tuyên bố về A-la-hán quả. Và điều ấy không thể gọi là (nguyên nhân của) tội.’
“Evañca pana, bhikkhave, imaṁ sikkhāpadaṁ uddiseyyātha—
And so, monks, this training rule should be recited like this:
Final ruling
Này các tỳ khưu, và các con hãy tụng đọc học giới này như vầy:
“Yo pana bhikkhu anabhijānaṁ uttarimanussadhammaṁ attupanāyikaṁ alamariyañāṇadassanaṁ samudācareyya—‘iti jānāmi iti passāmī’ti, tato aparena samayena samanuggāhīyamāno vā asamanuggāhīyamāno vā āpanno visuddhāpekkho evaṁ vadeyya—‘ajānamevaṁ, āvuso, avacaṁ jānāmi, apassaṁ passāmi. Tucchaṁ musā vilapin’ti, aññatra adhimānā, ayampi pārājiko hoti asaṁvāso”ti.
- Yo panāti
- yo yādiso …pe…
- bhikkhūti
‘If a monk falsely claims for himself a superhuman quality, a knowledge and vision worthy of the noble ones, saying, “This I know, this I see,” but after some time—whether he is questioned or not, but having committed the offense and seeking purification—should say: “Not knowing I said that I know, not seeing that I see; what I said was empty and false,” then, except if it is due to overestimation, he too is expelled and excluded from the community.’”
Definitions
- A:
- whoever …
- Monk:
197. “Vị tỳ khưu nào trong khi không biết (pháp thượng nhân) lại loan truyền pháp thượng nhân, là tri kiến thánh thiện đầy đủ, hướng đến tự thân rằng: ‘Tôi biết như vầy, tôi thấy như vầy,’ rồi vào một lúc khác sau đó, hoặc đang được gạn hỏi hoặc không đang được gạn hỏi, đã phạm tội, mong muốn sự trong sạch, lại nói lên như vầy: ‘Này chư hiền, tôi đã nói ‘tôi biết’ trong khi không biết, (đã nói) ‘tôi thấy’ trong khi không thấy. Tôi đã nói lời trống rỗng, dối trá,’ ngoại trừ do tưởng lầm, vị này cũng bị tội pārājika, không được sống chung.”
198. Vị nào có nghĩa là: Vị nào, có bản chất như thế nào ... cho đến ... Tỳ khưu có nghĩa là: ... cho đến ... Vị tỳ khưu này được ám chỉ trong ý nghĩa này.
Không biết có nghĩa là: Trong khi không biết, không thấy pháp thiện không có, không thật, không hiện hữu ở nơi mình (mà lại nghĩ) rằng: ‘Pháp thiện có nơi tôi.’
Pháp thượng nhân được gọi là: Thiền, giải thoát, định, chứng nhập, tri kiến, sự tu tập đạo, sự chứng ngộ quả, sự đoạn trừ phiền não, tâm không còn triền cái, sự hoan hỷ ở nơi thanh vắng.
199. Pháp thượng nhân được gọi là: Thiền, giải thoát, định, chứng nhập, tri kiến, sự tu tập đạo, sự chứng ngộ quả, sự đoạn trừ phiền não, tâm không còn triền cái, sự hoan hỷ ở nơi thanh vắng.
Vào một lúc khác sau đó có nghĩa là: Sau khi khoảnh khắc, laya, muhutta mà sự loan truyền đã xảy ra đã trôi qua.
Đang được gạn hỏi có nghĩa là: Đang được gạn hỏi về sự việc đã được thừa nhận rằng: ‘Ngươi đã chứng đắc điều gì? Ngươi đã chứng đắc như thế nào? Ngươi đã chứng đắc khi nào? Ngươi đã chứng đắc ở đâu? Những phiền não nào của ngươi đã được đoạn trừ? Ngươi là người đã chứng được những pháp nào?’
Không đang được gạn hỏi có nghĩa là: Không được ai nói đến.
Đã phạm tội có nghĩa là: Do có ước muốn xấu xa, bị ước muốn xấu xa chi phối, sau khi đã khoe khoang pháp thượng nhân không có, không thật, vị ấy đã phạm tội pārājika.
Mong muốn sự trong sạch có nghĩa là: Hoặc muốn trở thành người tại gia, hoặc muốn trở thành cận sự nam, hoặc muốn trở thành người giữ vườn, hoặc muốn trở thành sa-di.
Này chư hiền, tôi đã nói ‘tôi biết’ trong khi không biết, (đã nói) ‘tôi thấy’ trong khi không thấy có nghĩa là: ‘Tôi không biết những pháp này, tôi không thấy những pháp này, và những pháp này không có nơi tôi, và tôi không được thấy trong những pháp này.’
Tôi đã nói lời trống rỗng, dối trá có nghĩa là: Lời trống rỗng đã được tôi nói, lời dối trá đã được tôi nói, lời không thật đã được tôi nói, lời đã được tôi nói trong khi không biết.
Ngoại trừ do tưởng lầm có nghĩa là: Đặt sang một bên sự tưởng lầm.
Vị này cũng có nghĩa là: Được nói liên quan đến những vị trước.
Bị pārājika có nghĩa là: Ví như cây thốt nốt bị chặt ngọn không thể mọc lại được, cũng vậy, vị tỳ khưu có ước muốn xấu xa, bị ước muốn xấu xa chi phối, sau khi đã khoe khoang pháp thượng nhân không có, không thật, thì không còn là sa-môn, không còn là con của dòng họ Thích Ca. Do đó, được gọi là: ‘Bị pārājika.’
Uttarimanussadhammo nāma jhānaṁ vimokkho samādhi samāpatti ñāṇadassanaṁ maggabhāvanā phalasacchikiriyā kilesappahānaṁ vinīvaraṇatā cittassa suññāgāre abhirati.
- Jhānanti
Permutations
Summary
A superhuman quality: absorption, release, stillness, attainment, knowledge and vision, development of the path, realization of the fruits, abandoning the defilements, a mind without hindrances, delighting in solitude.
Definitions
- Absorption:
‘Không được sống chung’ có nghĩa là: Sống chung được gọi là cùng hành tăng sự, cùng một tụng giới, cùng một sự học tập – đây được gọi là sống chung. Sự sống chung ấy không có cùng với vị ấy. Vì thế, gọi là: ‘Không được sống chung’.
Thiền có nghĩa là: Thiền thứ nhất, thiền thứ hai, thiền thứ ba, thiền thứ tư.
Giải thoát có nghĩa là: Không giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát.
Định có nghĩa là: Không định, vô tướng định, vô nguyện định.
Chứng nhập có nghĩa là: Không chứng nhập, vô tướng chứng nhập, vô nguyện chứng nhập.
Tri kiến có nghĩa là: Ba minh.
Sự tu tập đạo có nghĩa là: Bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, thánh đạo tám ngành.
Sự chứng ngộ quả có nghĩa là: Sự chứng ngộ quả Dự lưu, sự chứng ngộ quả Nhất lai, sự chứng ngộ quả Bất lai, sự chứng ngộ quả A-la-hán.
Sự đoạn trừ phiền não có nghĩa là: Sự đoạn trừ tham, sự đoạn trừ sân, sự đoạn trừ si.
Tâm không còn triền cái có nghĩa là: Tâm không còn triền cái do tham, tâm không còn triền cái do sân, tâm không còn triền cái do si.
Exposition
First absorption
Sự hoan hỷ ở nơi thanh vắng có nghĩa là: Sự hoan hỷ ở nơi thanh vắng bằng thiền thứ nhất, sự hoan hỷ ở nơi thanh vắng bằng thiền thứ hai, sự hoan hỷ ở nơi thanh vắng bằng thiền thứ ba, sự hoan hỷ ở nơi thanh vắng bằng thiền thứ tư.
Tīhākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjinti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied.
200. Trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói láo;’ trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói láo;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói láo đã được tôi nói ra.’ Do ba lý do này, vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Tôi đã nhập thiền thứ nhất’ thì phạm tội pārājika.
Catūhākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjinti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when four conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true.
Trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói láo;’ trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói láo;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói láo đã được tôi nói ra;’ và đã che giấu tri kiến. Do bốn lý do này, vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Tôi đã nhập thiền thứ nhất’ thì phạm tội pārājika.
Pañcahākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjinti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ vinidhāya khantiṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when five conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true.
Trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói láo;’ trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói láo;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói láo đã được tôi nói ra;’ đã che giấu tri kiến, và đã che giấu sự kham nhẫn. Do năm lý do này, vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Tôi đã nhập thiền thứ nhất’ thì phạm tội pārājika.
Chahākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjinti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when six conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true.
Trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói láo;’ trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói láo;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói láo đã được tôi nói ra;’ đã che giấu tri kiến, đã che giấu sự kham nhẫn, và đã che giấu sự ưa thích. Do sáu lý do này, vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Tôi đã nhập thiền thứ nhất’ thì phạm tội pārājika.
Sattahākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjinti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when seven conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true; he misrepresents his sentiment of what is true.
Trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói láo;’ trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói láo;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói láo đã được tôi nói ra;’ đã che giấu tri kiến, đã che giấu sự kham nhẫn, đã che giấu sự ưa thích, và đã che giấu ý muốn. Do bảy lý do này, vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Tôi đã nhập thiền thứ nhất’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjāmīti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti.
If he lies in full awareness, saying, “I’m attaining the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied.
201. Trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói láo;’ trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói láo;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói láo đã được tôi nói ra.’ Do ba lý do này, vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Tôi đang nhập thiền thứ nhất’ thì phạm tội pārājika.
Catūhākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjāmīti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I’m attaining the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when four conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true.
Trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói láo;’ trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói láo;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói láo đã được tôi nói ra;’ và đã che giấu tri kiến. Do bốn lý do này, vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Tôi đang nhập thiền thứ nhất’ thì phạm tội pārājika.
Pañcahākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjāmīti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I’m attaining the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when five conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true.
Trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói láo;’ trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói láo;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói láo đã được tôi nói ra;’ đã che giấu tri kiến, và đã che giấu sự kham nhẫn. Do năm lý do này, vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Tôi đang nhập thiền thứ nhất’ thì phạm tội pārājika.
Chahākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjāmīti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I’m attaining the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when six conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true.
Trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói láo;’ trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói láo;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói láo đã được tôi nói ra;’ đã che giấu tri kiến, đã che giấu sự kham nhẫn, và đã che giấu sự ưa thích. Do sáu lý do này, vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Tôi đang nhập thiền thứ nhất’ thì phạm tội pārājika.
Sattahākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjāmīti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I’m attaining the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when seven conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true; he misrepresents his sentiment of what is true.
Trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói láo;’ trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói láo;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói láo đã được tôi nói ra;’ đã che giấu tri kiến, đã che giấu sự kham nhẫn, đã che giấu sự ưa thích, và đã che giấu ý muốn. Do bảy lý do này, vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Tôi đang nhập thiền thứ nhất’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannoti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti.
If he lies in full awareness, saying, “I’ve attained the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied.
202. Trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói láo;’ trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói láo;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói láo đã được tôi nói ra.’ Do ba lý do này, vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Tôi đã nhập thiền thứ nhất’ thì phạm tội pārājika.
Catūhākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannoti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I’ve attained the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when four conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true.
Trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói láo;’ trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói láo;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói láo đã được tôi nói ra;’ và đã che giấu tri kiến. Do bốn lý do này, vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Tôi đã nhập thiền thứ nhất’ thì phạm tội pārājika.
Pañcahākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannoti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I’ve attained the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when five conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true.
Trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói láo;’ trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói láo;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói láo đã được tôi nói ra;’ đã che giấu tri kiến, và đã che giấu sự kham nhẫn. Do năm lý do này, vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Tôi đã nhập thiền thứ nhất’ thì phạm tội pārājika.
Chahākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannoti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I’ve attained the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when six conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true.
Trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói láo;’ trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói láo;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói láo đã được tôi nói ra;’ đã che giấu tri kiến, đã che giấu sự kham nhẫn, và đã che giấu sự ưa thích. Do sáu lý do này, vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Tôi đã nhập thiền thứ nhất’ thì phạm tội pārājika.
Sattahākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannoti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I’ve attained the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when seven conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true; he misrepresents his sentiment of what is true.
Trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói láo;’ trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói láo;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói láo đã được tôi nói ra;’ đã che giấu tri kiến, đã che giấu sự kham nhẫn, đã che giấu sự ưa thích, và đã che giấu ý muốn. Do bảy lý do này, vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Tôi đã nhập thiền thứ nhất’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi paṭhamassa jhānassa lābhimhīti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti.
If he lies in full awareness, saying, “I obtain the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied.
203. Trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói láo;’ trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói láo;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói láo đã được tôi nói ra.’ Do ba lý do này, vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Tôi là người chứng đắc thiền thứ nhất’ thì phạm tội pārājika.
Catūhākārehi paṭhamassa jhānassa lābhimhīti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I obtain the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when four conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true.
Trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói láo;’ trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói láo;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói láo đã được tôi nói ra;’ và đã che giấu tri kiến. Do bốn lý do này, vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Tôi là người chứng đắc thiền thứ nhất’ thì phạm tội pārājika.
Pañcahākārehi paṭhamassa jhānassa lābhimhīti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I obtain the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when five conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true.
Vị tỳ khưu cố ý nói dối rằng: ‘Tôi là người đắc thiền thứ nhất’ với năm cách thức thì phạm tội pārājika. (Đó là) trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói dối;’ trong khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói dối;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói dối đã được tôi nói ra;’ sau khi đã che giấu quan điểm, sau khi đã che giấu sự chấp nhận.
Chahākārehi paṭhamassa jhānassa lābhimhīti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I obtain the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when six conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true.
Vị tỳ khưu cố ý nói dối rằng: ‘Tôi là người đắc thiền thứ nhất’ với sáu cách thức thì phạm tội pārājika. (Đó là) trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói dối;’ trong khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói dối;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói dối đã được tôi nói ra;’ sau khi đã che giấu quan điểm, sau khi đã che giấu sự chấp nhận, sau khi đã che giấu sự ưa thích.
Sattahākārehi paṭhamassa jhānassa lābhimhīti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I obtain the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when seven conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true; he misrepresents his sentiment of what is true.
Vị tỳ khưu cố ý nói dối rằng: ‘Tôi là người đắc thiền thứ nhất’ với bảy cách thức thì phạm tội pārājika. (Đó là) trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói dối;’ trong khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói dối;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói dối đã được tôi nói ra;’ sau khi đã che giấu quan điểm, sau khi đã che giấu sự chấp nhận, sau khi đã che giấu sự ưa thích, sau khi đã che giấu ý muốn.
Tīhākārehi paṭhamassa jhānassa vasimhīti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti.
If he lies in full awareness, saying, “I master the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied.
204. Vị tỳ khưu cố ý nói dối rằng: ‘Tôi là người thuần thục thiền thứ nhất’ với ba cách thức thì phạm tội pārājika. (Đó là) trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói dối;’ trong khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói dối;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói dối đã được tôi nói ra.’
Catūhākārehi paṭhamassa jhānassa vasimhīti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I master the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when four conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true.
Vị tỳ khưu cố ý nói dối rằng: ‘Tôi là người thuần thục thiền thứ nhất’ với bốn cách thức thì phạm tội pārājika. (Đó là) trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói dối;’ trong khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói dối;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói dối đã được tôi nói ra;’ sau khi đã che giấu quan điểm.
Pañcahākārehi paṭhamassa jhānassa vasimhīti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I master the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when five conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true.
Vị tỳ khưu cố ý nói dối rằng: ‘Tôi là người thuần thục thiền thứ nhất’ với năm cách thức thì phạm tội pārājika. (Đó là) trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói dối;’ trong khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói dối;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói dối đã được tôi nói ra;’ sau khi đã che giấu quan điểm, sau khi đã che giấu sự chấp nhận.
Chahākārehi paṭhamassa jhānassa vasimhīti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I master the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when six conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true.
Vị tỳ khưu cố ý nói dối rằng: ‘Tôi là người thuần thục thiền thứ nhất’ với sáu cách thức thì phạm tội pārājika. (Đó là) trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói dối;’ trong khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói dối;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói dối đã được tôi nói ra;’ sau khi đã che giấu quan điểm, sau khi đã che giấu sự chấp nhận, sau khi đã che giấu sự ưa thích.
Sattahākārehi paṭhamassa jhānassa vasimhīti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I master the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when seven conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true; he misrepresents his sentiment of what is true.
Vị tỳ khưu cố ý nói dối rằng: ‘Tôi là người thuần thục thiền thứ nhất’ với bảy cách thức thì phạm tội pārājika. (Đó là) trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói dối;’ trong khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói dối;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói dối đã được tôi nói ra;’ sau khi đã che giấu quan điểm, sau khi đã che giấu sự chấp nhận, sau khi đã che giấu sự ưa thích, sau khi đã che giấu ý muốn.
Tīhākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ sacchikataṁ mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti.
If he lies in full awareness, saying, “I’ve realized the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied.
205. Vị tỳ khưu cố ý nói dối rằng: ‘Thiền thứ nhất đã được tôi chứng ngộ’ với ba cách thức thì phạm tội pārājika. (Đó là) trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói dối;’ trong khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói dối;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói dối đã được tôi nói ra.’
Catūhākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ sacchikataṁ mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I’ve realized the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when four conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true.
Vị tỳ khưu cố ý nói dối rằng: ‘Thiền thứ nhất đã được tôi chứng ngộ’ với bốn cách thức thì phạm tội pārājika. (Đó là) trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói dối;’ trong khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói dối;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói dối đã được tôi nói ra;’ sau khi đã che giấu quan điểm.
Pañcahākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ sacchikataṁ mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I’ve realized the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when five conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true.
Vị tỳ khưu cố ý nói dối rằng: ‘Thiền thứ nhất đã được tôi chứng ngộ’ với năm cách thức thì phạm tội pārājika. (Đó là) trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói dối;’ trong khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói dối;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói dối đã được tôi nói ra;’ sau khi đã che giấu quan điểm, sau khi đã che giấu sự chấp nhận.
Chahākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ sacchikataṁ mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I’ve realized the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when six conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true.
Vị tỳ khưu cố ý nói dối rằng: ‘Thiền thứ nhất đã được tôi chứng ngộ’ với sáu cách thức thì phạm tội pārājika. (Đó là) trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói dối;’ trong khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói dối;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói dối đã được tôi nói ra;’ sau khi đã che giấu quan điểm, sau khi đã che giấu sự chấp nhận, sau khi đã che giấu sự ưa thích.
Sattahākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ sacchikataṁ mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I’ve realized the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when seven conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true; he misrepresents his sentiment of what is true.
Other individual attainments
Vị tỳ khưu cố ý nói dối rằng: ‘Thiền thứ nhất đã được tôi chứng ngộ’ với bảy cách thức thì phạm tội pārājika. (Đó là) trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói dối;’ trong khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói dối;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói dối đã được tôi nói ra;’ sau khi đã che giấu quan điểm, sau khi đã che giấu sự chấp nhận, sau khi đã che giấu sự ưa thích, sau khi đã che giấu ý muốn.
Yathā idaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ vitthāritaṁ evaṁ sabbampi vitthāretabbaṁ.
As the first absorption has been expanded in detail, so should all be expanded:
Giống như thiền thứ nhất này đã được trình bày chi tiết, tất cả các trường hợp cũng nên được trình bày chi tiết như vậy.
Tīhākārehi …pe… sattahākārehi dutiyaṁ jhānaṁ …pe… tatiyaṁ jhānaṁ …pe… catutthaṁ jhānaṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … catutthassa jhānassa lābhimhi … vasimhi … catutthaṁ jhānaṁ sacchikataṁ mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the second absorption,” … “I attained the third absorption,” … “I attained the fourth absorption,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the fourth absorption,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled … when seven conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true; he misrepresents his sentiment of what is true.
206. Với ba cách thức ... cho đến ... với bảy cách thức, (nói dối về) thiền thứ hai ... cho đến ... thiền thứ ba ... cho đến ... thiền thứ tư rằng: ‘Tôi đã nhập ... tôi đang nhập ... đã nhập ... tôi là người đắc thiền thứ tư ... tôi là người thuần thục ... thiền thứ tư đã được tôi chứng ngộ,’ vị tỳ khưu cố ý nói dối như vậy thì phạm tội pārājika. (Đó là) trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói dối;’ trong khi nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói dối;’ sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Lời nói dối đã được tôi nói ra;’ sau khi đã che giấu quan điểm, sau khi đã che giấu sự chấp nhận, sau khi đã che giấu sự ưa thích, sau khi đã che giấu ý muốn.
Tīhākārehi suññataṁ vimokkhaṁ … animittaṁ vimokkhaṁ … appaṇihitaṁ vimokkhaṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … appaṇihitassa vimokkhassa lābhimhi … vasimhi … appaṇihito vimokkho sacchikato mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa …pe….
If he lies in full awareness, saying, “I attained the emptiness release,” … “I attained the signless release,” … “I attained the desireless release,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the desireless release,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled: …
207. Với ba cách thức, (nói dối về) không giải thoát ... vô tướng giải thoát ... vô nguyện giải thoát rằng: ‘Tôi đã nhập ... tôi đang nhập ... đã nhập ... tôi là người đắc vô nguyện giải thoát ... tôi là người thuần thục ... vô nguyện giải thoát đã được tôi chứng ngộ,’ vị tỳ khưu cố ý nói dối như vậy thì phạm tội pārājika ... cho đến ...
Tīhākārehi suññataṁ samādhiṁ … animittaṁ samādhiṁ … appaṇihitaṁ samādhiṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … appaṇihitassa samādhissa lābhimhi … vasimhi … appaṇihito samādhi sacchikato mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the emptiness stillness,” … “I attained the signless stillness,” … “I attained the desireless stillness,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the desireless stillness,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói lời sai quấy rằng: ‘Do ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã ở trong không định ... vô tướng định ... vô nguyện định; tôi là người thường đắc, là người thuần thục về vô nguyện định; vô nguyện định đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi suññataṁ samāpattiṁ … animittaṁ samāpattiṁ … appaṇihitaṁ samāpattiṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … appaṇihitāya samāpattiyā lābhimhi … vasimhi … appaṇihitā samāpatti sacchikatā mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the emptiness attainment,” … “I attained the signless attainment,” … “I attained the desireless attainment,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the desireless attainment,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói lời sai quấy rằng: ‘Do ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã ở trong không chứng ... vô tướng chứng ... vô nguyện chứng; tôi là người thường đắc, là người thuần thục về vô nguyện chứng; vô nguyện chứng đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi tisso vijjā samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … tissannaṁ vijjānaṁ lābhimhi … vasimhi … tisso vijjā sacchikatā mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the three true insights,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the three true insights,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói lời sai quấy rằng: ‘Do ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã ở trong ba minh; tôi là người thường đắc, là người thuần thục về ba minh; ba minh đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi cattāro satipaṭṭhāne … cattāro sammappadhāne … cattāro iddhipāde samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … catunnaṁ iddhipādānaṁ lābhimhi … vasimhi … cattāro iddhipādā sacchikatā mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the four applications of mindfulness,” … “I attained the four right efforts,” … “I attained the four foundations for supernormal power,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the four foundations for supernormal power,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói lời sai quấy rằng: ‘Do ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã ở trong bốn niệm xứ ... bốn chánh cần ... bốn như ý túc; tôi là người thường đắc, là người thuần thục về bốn như ý túc; bốn như ý túc đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi pañcindriyāni … pañca balāni samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … pañcannaṁ balānaṁ lābhimhi … vasimhi … pañcabalāni sacchikatāni mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the five spiritual faculties,” … “I attained the five spiritual powers,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the five spiritual powers,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói lời sai quấy rằng: ‘Do ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã ở trong năm quyền ... năm lực; tôi là người thường đắc, là người thuần thục về năm lực; năm lực đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi satta bojjhaṅge samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … sattannaṁ bojjhaṅgānaṁ lābhimhi … vasimhi … satta bojjhaṅgā sacchikatā mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the seven factors of awakening,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the seven factors of awakening,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói lời sai quấy rằng: ‘Do ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã ở trong bảy giác chi; tôi là người thường đắc, là người thuần thục về bảy giác chi; bảy giác chi đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa lābhimhi … vasimhi … ariyo aṭṭhaṅgiko maggo sacchikato mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the noble eightfold path,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the noble eightfold path,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói lời sai quấy rằng: ‘Do ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã ở trong Thánh đạo Tám ngành; tôi là người thường đắc, là người thuần thục về Thánh đạo Tám ngành; Thánh đạo Tám ngành đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi sotāpattiphalaṁ … sakadāgāmiphalaṁ … anāgāmiphalaṁ … arahattaṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … arahattassa lābhimhi vasimhi arahattaṁ sacchikataṁ mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the fruit of streamentry,” … “I attained the fruit of once-returning,” … “I attained the fruit of non-returning,” … “I attained perfection,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized perfection,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói lời sai quấy rằng: ‘Do ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã ở trong quả Dự lưu ... quả Nhất lai ... quả Bất lai ... quả A-la-hán; tôi là người thường đắc, là người thuần thục về quả A-la-hán; quả A-la-hán đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi rāgo me catto vanto mutto pahīno paṭinissaṭṭho ukkheṭito samukkheṭitoti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I’ve given up sensual desire, renounced it, let it go, abandoned it, relinquished it, forsaken it, thrown it aside,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói lời sai quấy rằng: ‘Do ba cách thức, tham ái của tôi đã được từ bỏ, đã được mửa ra, đã được giải thoát, đã được đoạn trừ, đã được xả ly, đã được nhổ lên, đã được nhổ lên hoàn toàn’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi doso me catto vanto mutto pahīno paṭinissaṭṭho ukkheṭito samukkheṭitoti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I’ve given up ill will, renounced it, let it go, abandoned it, relinquished it, forsaken it, thrown it aside,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói lời sai quấy rằng: ‘Do ba cách thức, sân hận của tôi đã được từ bỏ, đã được mửa ra, đã được giải thoát, đã được đoạn trừ, đã được xả ly, đã được nhổ lên, đã được nhổ lên hoàn toàn’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi moho me catto vanto mutto pahīno paṭinissaṭṭho ukkheṭito samukkheṭitoti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I’ve given up confusion, renounced it, let it go, abandoned it, relinquished it, forsaken it, thrown it aside,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói lời sai quấy rằng: ‘Do ba cách thức, si mê của tôi đã được từ bỏ, đã được mửa ra, đã được giải thoát, đã được đoạn trừ, đã được xả ly, đã được nhổ lên, đã được nhổ lên hoàn toàn’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi rāgā me cittaṁ vinīvaraṇanti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “My mind is free from the hindrance of sensual desire,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói lời sai quấy rằng: ‘Do ba cách thức, tâm của tôi đã thoát khỏi triền cái tham ái’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi dosā me cittaṁ vinīvaraṇanti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “My mind is free from the hindrance of ill will,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói lời sai quấy rằng: ‘Do ba cách thức, tâm của tôi đã thoát khỏi triền cái sân hận’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi …pe… sattahākārehi mohā me cittaṁ vinīvaraṇanti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ.
If he lies in full awareness, saying, “My mind is free from the hindrance of confusion,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled … when seven conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true; he misrepresents his sentiment of what is true.
Vị tỳ khưu cố ý nói lời sai quấy rằng: ‘Do ba cách thức ... cho đến ... do bảy cách thức, tâm của tôi đã thoát khỏi triền cái si mê’ thì phạm tội pārājika. – Vị ấy có ý nghĩ trước khi nói rằng: ‘Ta sẽ nói dối,’ có ý nghĩ trong khi nói rằng: ‘Ta đang nói dối,’ có ý nghĩ sau khi đã nói rằng: ‘Lời dối đã được ta nói,’ do che giấu quan điểm, do che giấu sự chấp thuận, do che giấu sở thích, do che giấu ý định.
Suddhikaṁ niṭṭhitaṁ.
The basic series is finished.
Combinations of two attainments
Dứt phần thuần túy.
Tīhākārehi paṭhamañca jhānaṁ dutiyañca jhānaṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … paṭhamassa ca jhānassa dutiyassa ca jhānassa lābhimhi … vasimhi … paṭhamañca jhānaṁ dutiyañca jhānaṁ sacchikataṁ mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa …pe….
If he lies in full awareness, saying, “I attained the first absorption and the second absorption,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the first absorption and the second absorption,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied.
208. Vị tỳ khưu cố ý nói lời sai quấy rằng: ‘Do ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã ở trong thiền thứ nhất và thiền thứ hai; tôi là người thường đắc, là người thuần thục về thiền thứ nhất và thiền thứ hai; thiền thứ nhất và thiền thứ hai đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika ... cho đến ...
Tīhākārehi paṭhamañca jhānaṁ tatiyañca jhānaṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … paṭhamassa ca jhānassa tatiyassa ca jhānassa lābhimhi … vasimhi … paṭhamañca jhānaṁ tatiyañca jhānaṁ sacchikataṁ mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the first absorption and the third absorption,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the first absorption and the third absorption,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói lời sai quấy rằng: ‘Do ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã ở trong thiền thứ nhất và thiền thứ ba; tôi là người thường đắc, là người thuần thục về thiền thứ nhất và thiền thứ ba; thiền thứ nhất và thiền thứ ba đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi paṭhamañca jhānaṁ catutthañca jhānaṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … paṭhamassa ca jhānassa catutthassa ca jhānassa lābhimhi … vasimhi … paṭhamañca jhānaṁ catutthañca jhānaṁ sacchikataṁ mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the first absorption and the fourth absorption,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the first absorption and the fourth absorption,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói lời sai quấy rằng: ‘Do ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã ở trong thiền thứ nhất và thiền thứ tư; tôi là người thường đắc, là người thuần thục về thiền thứ nhất và thiền thứ tư; thiền thứ nhất và thiền thứ tư đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi paṭhamañca jhānaṁ suññatañca vimokkhaṁ … paṭhamañca jhānaṁ animittañca vimokkhaṁ … paṭhamañca jhānaṁ appaṇihitañca vimokkhaṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … paṭhamassa ca jhānassa appaṇihitassa ca vimokkhassa lābhimhi … vasimhi … paṭhamañca jhānaṁ appaṇihito ca vimokkho sacchikato mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the first absorption and the emptiness release,” … “I attained the first absorption and the signless release,” … “I attained the first absorption and the desireless release,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the first absorption and the desireless release,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói lời sai quấy rằng: ‘Do ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã ở trong thiền thứ nhất và không giải thoát ... thiền thứ nhất và vô tướng giải thoát ... thiền thứ nhất và vô nguyện giải thoát; tôi là người thường đắc, là người thuần thục về thiền thứ nhất và vô nguyện giải thoát; thiền thứ nhất và vô nguyện giải thoát đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi paṭhamañca jhānaṁ suññatañca samādhiṁ … paṭhamañca jhānaṁ animittañca samādhiṁ … paṭhamañca jhānaṁ appaṇihitañca samādhiṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno paṭhamassa ca jhānassa appaṇihitassa ca samādhissa lābhimhi … vasimhi … paṭhamañca jhānaṁ appaṇihito ca samādhi sacchikato mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the first absorption and the emptiness stillness,” … “I attained the first absorption and the signless stillness,” … “I attained the first absorption and the desireless stillness,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the first absorption and the desireless stillness,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói lời sai quấy rằng: ‘Do ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã ở trong thiền thứ nhất và không định ... thiền thứ nhất và vô tướng định ... thiền thứ nhất và vô nguyện định; tôi là người thường đắc, là người thuần thục về thiền thứ nhất và vô nguyện định; thiền thứ nhất và vô nguyện định đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi paṭhamañca jhānaṁ suññatañca samāpattiṁ … paṭhamañca jhānaṁ animittañca samāpattiṁ … paṭhamañca jhānaṁ appaṇihitañca samāpattiṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno paṭhamassa ca jhānassa appaṇihitāya ca samāpattiyā lābhimhi … vasimhi … paṭhamañca jhānaṁ appaṇihitā ca samāpatti sacchikatā mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the first absorption and the emptiness attainment,” … “I attained the first absorption and the signless attainment,” … “I attained the first absorption and the desireless attainment,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the first absorption and the desireless attainment,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Bằng ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã nhập vào thiền thứ nhất và không định, ... thiền thứ nhất và vô tướng định, ... thiền thứ nhất và vô nguyện định; tôi là người đắc được, là người thuần thục về thiền thứ nhất và vô nguyện định; thiền thứ nhất và vô nguyện định đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi paṭhamañca jhānaṁ tisso ca vijjā samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … paṭhamassa ca jhānassa tissannañca vijjānaṁ lābhimhi … vasimhi … paṭhamañca jhānaṁ tisso ca vijjā sacchikatā mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the first absorption and the three true insights,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the first absorption and the three true insights,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Bằng ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã nhập vào thiền thứ nhất và ba minh; tôi là người đắc được, là người thuần thục về thiền thứ nhất và ba minh; thiền thứ nhất và ba minh đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi paṭhamañca jhānaṁ cattāro ca satipaṭṭhāne … paṭhamañca jhānaṁ cattāro ca sammappadhāne … paṭhamañca jhānaṁ cattāro ca iddhipāde samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … paṭhamassa ca jhānassa catunnañca iddhipādānaṁ lābhimhi … vasimhi … paṭhamañca jhānaṁ cattāro ca iddhipādā sacchikatā mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the first absorption and the four applications of mindfulness,” … “I attained the first absorption and the four right efforts,” … “I attained the first absorption and the four foundations for supernormal power,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the first absorption and the four foundations for supernormal power,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Bằng ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã nhập vào thiền thứ nhất và bốn niệm xứ, ... thiền thứ nhất và bốn chánh cần, ... thiền thứ nhất và bốn như ý túc; tôi là người đắc được, là người thuần thục về thiền thứ nhất và bốn như ý túc; thiền thứ nhất và bốn như ý túc đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi paṭhamañca jhānaṁ pañca ca indriyāni … paṭhamañca jhānaṁ pañca ca balāni samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … paṭhamassa ca jhānassa pañcannañca balānaṁ lābhimhi … vasimhi … paṭhamañca jhānaṁ pañca ca balāni sacchikatāni mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the first absorption and the five spiritual faculties,” … “I attained the first absorption and the five spiritual powers,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the first absorption and the five spiritual powers,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Bằng ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã nhập vào thiền thứ nhất và năm quyền, ... thiền thứ nhất và năm lực; tôi là người đắc được, là người thuần thục về thiền thứ nhất và năm lực; thiền thứ nhất và năm lực đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi paṭhamañca jhānaṁ satta ca bojjhaṅge samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … paṭhamassa ca jhānassa sattannañca bojjhaṅgānaṁ lābhimhi … vasimhi … paṭhamañca jhānaṁ satta ca bojjhaṅgā sacchikatā mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the first absorption and the seven factors of awakening,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the first absorption and the seven factors of awakening,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
209. Vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Bằng ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã nhập vào thiền thứ nhất và bảy giác chi; tôi là người đắc được, là người thuần thục về thiền thứ nhất và bảy giác chi; thiền thứ nhất và bảy giác chi đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi paṭhamañca jhānaṁ ariyañca aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … paṭhamassa ca jhānassa ariyassa ca aṭṭhaṅgikassa maggassa lābhimhi … vasimhi … paṭhamañca jhānaṁ ariyo ca aṭṭhaṅgiko maggo sacchikato mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the first absorption and the noble eightfold path,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the first absorption and the noble eightfold path,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Bằng ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã nhập vào thiền thứ nhất và thánh đạo tám ngành; tôi là người đắc được, là người thuần thục về thiền thứ nhất và thánh đạo tám ngành; thiền thứ nhất và thánh đạo tám ngành đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi paṭhamañca jhānaṁ sotāpattiphalañca … paṭhamañca jhānaṁ sakadāgāmiphalañca … paṭhamañca jhānaṁ anāgāmiphalañca … paṭhamañca jhānaṁ arahattañca samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … paṭhamassa ca jhānassa arahattassa ca lābhimhi … vasimhi … paṭhamañca jhānaṁ arahattañca sacchikataṁ mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the first absorption and the fruit of streamentry,” … “I attained the first absorption and the fruit of once-returning,” … “I attained the first absorption and the fruit of non-returning,” … “I attained the first absorption and perfection,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the first absorption and perfection,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Bằng ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã nhập vào thiền thứ nhất và quả Dự Lưu, ... thiền thứ nhất và quả Nhất Lai, ... thiền thứ nhất và quả Bất Lai, ... thiền thứ nhất và quả A-la-hán; tôi là người đắc được, là người thuần thục về thiền thứ nhất và quả A-la-hán; thiền thứ nhất và quả A-la-hán đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi paṭhamañca jhānaṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … paṭhamassa ca jhānassa lābhimhi … vasimhi … paṭhamañca jhānaṁ sacchikataṁ mayā, rāgo ca me catto … doso ca me catto … moho ca me catto vanto mutto pahīno paṭinissaṭṭho ukkheṭito samukkheṭitoti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the first absorption and I’ve given up sensual desire,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the first absorption and I’ve given up sensual desire … and I’ve given up ill will … and I’ve given up confusion, renounced it, let it go, abandoned it, relinquished it, forsaken it, thrown it aside,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Bằng ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã nhập vào thiền thứ nhất; tôi là người đắc được, là người thuần thục về thiền thứ nhất; thiền thứ nhất đã được tôi chứng ngộ; và tham ái đã được tôi từ bỏ, ... sân hận đã được tôi từ bỏ, ... si mê đã được tôi từ bỏ, đã được nôn ra, đã được giải thoát, đã được đoạn trừ, đã được xả ly, đã được nhổ lên, đã được nhổ lên tận gốc’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi …pe… sattahākārehi paṭhamañca jhānaṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … paṭhamassa ca jhānassa lābhimhi … vasimhi … paṭhamañca jhānaṁ sacchikataṁ mayā, rāgā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ … dosā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇanti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the first absorption and my mind is free from the hindrance of sensual desire,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the first absorption and my mind is free from the hindrance of sensual desire,” … and my mind is free from the hindrance of ill will,” … and my mind is free from the hindrance of confusion,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled … when seven conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true; he misrepresents his sentiment of what is true.
Vị tỳ khưu, trước khi nói đã có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói láo,’ trong khi nói có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói láo,’ sau khi đã nói có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đã nói láo,’ và che giấu kiến giải, che giấu sự chấp nhận, che giấu sở thích, che giấu ý muốn; (vị ấy) cố ý nói láo bằng ba cách thức ... cho đến ... bằng bảy cách thức rằng: ‘Tôi đã nhập, đang nhập, đã nhập vào thiền thứ nhất; tôi là người đắc được, là người thuần thục về thiền thứ nhất; thiền thứ nhất đã được tôi chứng ngộ; và tâm của tôi không có triền cái tham ái, ... tâm của tôi không có triền cái sân hận, ... tâm của tôi không có triền cái si mê’ thì phạm tội pārājika.
Khaṇḍacakkaṁ niṭṭhitaṁ.
The unconnected permutation series is finished.
Phần Khaṇḍacakka (vòng tròn đứt đoạn) đã chấm dứt.
Tīhākārehi dutiyañca jhānaṁ tatiyañca jhānaṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … dutiyassa ca jhānassa tatiyassa ca jhānassa lābhimhi … vasimhi … dutiyañca jhānaṁ tatiyañca jhānaṁ sacchikataṁ mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the second absorption and the third absorption,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the second absorption and the third absorption,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
210. Vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Bằng ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã nhập vào thiền thứ hai và thiền thứ ba; tôi là người đắc được, là người thuần thục về thiền thứ hai và thiền thứ ba; thiền thứ hai và thiền thứ ba đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi dutiyañca jhānaṁ catutthañca jhānaṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … dutiyassa ca jhānassa catutthassa ca jhānassa lābhimhi … vasimhi … dutiyañca jhānaṁ catutthañca jhānaṁ sacchikataṁ mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the second absorption and the fourth absorption,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the second absorption and the fourth absorption,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Bằng ba cách thức, tôi đã nhập, đang nhập, đã nhập vào thiền thứ hai và thiền thứ tư; tôi là người đắc được, là người thuần thục về thiền thứ hai và thiền thứ tư; thiền thứ hai và thiền thứ tư đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi dutiyañca jhānaṁ suññatañca vimokkhaṁ … animittañca vimokkhaṁ … appaṇihitañca vimokkhaṁ … suññatañca samādhiṁ … animittañca samādhiṁ … appaṇihitañca samādhiṁ … suññatañca samāpattiṁ … animittañca samāpattiṁ … appaṇihitañca samāpattiṁ … tisso ca vijjā … cattāro ca satipaṭṭhāne … cattāro ca sammappadhāne … cattāro ca iddhipāde … pañca ca indriyāni … pañca ca balāni … satta ca bojjhaṅge … ariyañca aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ … sotāpattiphalañca … sakadāgāmiphalañca … anāgāmiphalañca … arahattañca samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … dutiyassa ca jhānassa arahattassa ca lābhimhi … vasimhi … dutiyañca jhānaṁ arahattañca sacchikataṁ mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the second absorption and the emptiness release,” … and the signless release,” … and the desireless release,” … and the emptiness stillness,” … and the signless stillness,” … and the desireless stillness,” … and the emptiness attainment,” … and the signless attainment,” … and the desireless attainment,” … and the three true insights,” … and the four applications of mindfulness,” … and the four right efforts,” … and the four foundations for supernormal power,” … and the five spiritual faculties,” … and the five spiritual powers,” … and the seven factors of awakening,” … and the noble eightfold path,” … and the fruit of streamentry,” … and the fruit of once-returning,” … and the fruit of non-returning,” … and perfection,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the second absorption and perfection,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói dối rằng: ‘Bằng ba cách, tôi đã nhập, đang nhập, đã ở trong thiền thứ hai, không giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát, không định, vô tướng định, vô nguyện định, không chứng, vô tướng chứng, vô nguyện chứng, ba minh, bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm quyền, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo Tám ngành, quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, và quả A-la-hán; tôi là người đã đắc, là người đã thuần thục về thiền thứ hai và quả A-la-hán; thiền thứ hai và quả A-la-hán đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi dutiyañca jhānaṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … dutiyassa ca jhānassa lābhimhi … vasimhi … dutiyañca jhānaṁ sacchikataṁ mayā, rāgo ca me catto … doso ca me catto … moho ca me catto vanto mutto pahīno paṭinissaṭṭho ukkheṭito samukkheṭito. Rāgā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ … dosā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇanti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the second absorption and I’ve given up sensual desire … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the second absorption and I’ve given up sensual desire … and I’ve given up ill will … and I’ve given up confusion, renounced it, let it go, abandoned it, relinquished it, forsaken it, thrown it aside,” … and my mind is free from the hindrance of sensual desire,” … and my mind is free from the hindrance of ill will,” … and my mind is free from the hindrance of confusion,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói dối rằng: ‘Bằng ba cách, tôi đã nhập, đang nhập, đã ở trong thiền thứ hai; tôi là người đã đắc, là người đã thuần thục về thiền thứ hai; thiền thứ hai đã được tôi chứng ngộ; tham ái đã được tôi từ bỏ, sân hận đã được tôi từ bỏ, si mê đã được tôi từ bỏ, đã nôn ra, đã giải thoát, đã đoạn trừ, đã xả ly, đã nhổ lên, đã nhổ lên hoàn toàn; tâm của tôi không còn triền cái do tham ái, tâm của tôi không còn triền cái do sân hận, tâm của tôi không còn triền cái do si mê’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi …pe… sattahākārehi dutiyañca jhānaṁ paṭhamañca jhānaṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … dutiyassa ca jhānassa paṭhamassa ca jhānassa lābhimhi … vasimhi … dutiyañca jhānaṁ paṭhamañca jhānaṁ sacchikataṁ mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa …pe… vinidhāya bhāvaṁ.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the second absorption and the first absorption,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the second absorption and the first absorption,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled … when seven conditions are fulfilled … he misrepresents his sentiment of what is true.
Vị tỳ khưu cố ý nói dối rằng: ‘Bằng ba cách ... đến ... bằng bảy cách, tôi đã nhập, đang nhập, đã ở trong thiền thứ hai và thiền thứ nhất; tôi là người đã đắc, là người đã thuần thục về thiền thứ hai và thiền thứ nhất; thiền thứ hai và thiền thứ nhất đã được tôi chứng ngộ’ ... đến ... trong khi che giấu ý muốn, thì phạm tội pārājika.
Baddhacakkaṁ.
The linked permutation series is finished.
Phần bánh xe trói buộc.
Evaṁ ekekaṁ mūlaṁ kātuna baddhacakkaṁ parivattakaṁ kattabbaṁ.
In this way each section is to be dealt with as in the linked permutation series.
Tương tự như thế, nên lấy mỗi một pháp làm gốc rồi thực hiện việc xoay vòng bánh xe trói buộc.
Idaṁ saṅkhittaṁ.
Here it is in brief:
Đây là phần tóm tắt.
Tīhākārehi tatiyañca jhānaṁ catutthañca jhānaṁ …pe… tatiyañca jhānaṁ arahattañca samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … tatiyassa ca jhānassa arahattassa ca lābhimhi … vasimhi … tatiyañca jhānaṁ arahattañca sacchikataṁ mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the third absorption and the fourth absorption,” … the third absorption and perfection,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the third absorption and perfection,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
211. Vị tỳ khưu cố ý nói dối rằng: ‘Bằng ba cách, tôi đã nhập, đang nhập, đã ở trong thiền thứ ba và thiền thứ tư ... đến ... thiền thứ ba và quả A-la-hán; tôi là người đã đắc, là người đã thuần thục về thiền thứ ba và quả A-la-hán; thiền thứ ba và quả A-la-hán đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi tatiyañca jhānaṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … tatiyassa ca jhānassa lābhimhi … vasimhi … tatiyañca jhānaṁ sacchikataṁ mayā, rāgo ca me catto … doso ca me catto … moho ca me catto vanto mutto pahīno paṭinissaṭṭho ukkheṭito samukkheṭito. Rāgā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ … dosā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇanti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the third absorption and I’ve given up sensual desire … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the third absorption and I’ve given up sensual desire … and I’ve given up ill will … and I’ve given up confusion, renounced it, let it go, abandoned it, relinquished it, forsaken it, thrown it aside,” … and my mind is free from the hindrance of sensual desire,” … and my mind is free from the hindrance of ill will,” … and my mind is free from the hindrance of confusion,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
Vị tỳ khưu cố ý nói dối rằng: ‘Bằng ba cách, tôi đã nhập, đang nhập, đã ở trong thiền thứ ba; tôi là người đã đắc, là người đã thuần thục về thiền thứ ba; thiền thứ ba đã được tôi chứng ngộ; tham ái đã được tôi từ bỏ, sân hận đã được tôi từ bỏ, si mê đã được tôi từ bỏ, đã nôn ra, đã giải thoát, đã đoạn trừ, đã xả ly, đã nhổ lên, đã nhổ lên hoàn toàn; tâm của tôi không còn triền cái do tham ái, tâm của tôi không còn triền cái do sân hận, tâm của tôi không còn triền cái do si mê’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi tatiyañca jhānaṁ paṭhamañca jhānaṁ … tatiyañca jhānaṁ dutiyañca jhānaṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … tatiyassa ca jhānassa dutiyassa ca jhānassa lābhimhi … vasimhi … tatiyañca jhānaṁ dutiyañca jhānaṁ sacchikataṁ mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
If he lies in full awareness, saying, “I attained the third absorption and the first absorption,” … “I attained the third absorption and the second absorption,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “I’ve realized the third absorption and the second absorption,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled. …
Vị tỳ khưu cố ý nói dối rằng: ‘Bằng ba cách, tôi đã nhập, đang nhập, đã ở trong thiền thứ ba và thiền thứ nhất ... thiền thứ ba và thiền thứ hai; tôi là người đã đắc, là người đã thuần thục về thiền thứ ba và thiền thứ hai; thiền thứ ba và thiền thứ hai đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ paṭhamañca jhānaṁ …pe…
If he lies in full awareness, saying, “My mind is free from the hindrance of confusion and I attained the first absorption,” …
212. Vị tỳ khưu cố ý nói dối rằng: ‘Bằng ba cách, tâm của tôi không còn triền cái do si mê và tôi đã nhập, đang nhập, đã ở trong không giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát; tâm của tôi không còn triền cái do si mê và tôi là người đã đắc, là người đã thuần thục về vô nguyện giải thoát; tâm của tôi không còn triền cái do si mê và vô nguyện giải thoát đã được tôi chứng ngộ’ thì phạm tội pārājika.
Tīhākārehi mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ suññatañca vimokkhaṁ … animittañca vimokkhaṁ … appaṇihitañca vimokkhaṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ appaṇihitassa ca vimokkhassa lābhimhi … vasimhi … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ appaṇihito ca vimokkho sacchikato mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
Tīhākārehi mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ suññatañca samādhiṁ … animittañca samādhiṁ … appaṇihitañca samādhiṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ appaṇihitassa ca samādhissa lābhimhi … vasimhi … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ appaṇihito ca samādhi sacchikato mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
Tīhākārehi mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ suññatañca samāpattiṁ … animittañca samāpattiṁ … appaṇihitañca samāpattiṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ appaṇihitāya ca samāpattiyā lābhimhi … vasimhi … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ appaṇihitā ca samāpatti sacchikatā mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
Tīhākārehi mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ tisso ca vijjā samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ tissannañca vijjānaṁ lābhimhi … vasimhi … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ tisso ca vijjā sacchikatā mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
Tīhākārehi mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ cattāro ca satipaṭṭhāne … cattāro ca sammappadhāne … cattāro ca iddhipāde samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ catunnañca iddhipādānaṁ lābhimhi … vasimhi … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ cattāro ca iddhipādā sacchikatā mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
Tīhākārehi mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ pañca ca indriyāni … pañca ca balāni samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ pañcannañca balānaṁ lābhimhi … vasimhi … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ pañca ca balāni sacchikatāni mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
Tīhākārehi mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ satta ca bojjhaṅge samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ sattannañca bojjhaṅgānaṁ lābhimhi … vasimhi … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ satta ca bojjhaṅgā sacchikatā mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
Tīhākārehi mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ ariyañca aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ ariyassa ca aṭṭhaṅgikassa maggassa lābhimhi … vasimhi … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ ariyo ca aṭṭhaṅgiko maggo sacchikato mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
Tīhākārehi mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ sotāpattiphalañca … sakadāgāmiphalañca … anāgāmiphalañca … arahattañca samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ arahattassa ca lābhimhi … vasimhi … mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ arahattañca sacchikataṁ mayāti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
Tīhākārehi mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ, rāgo ca me catto … doso ca me catto … moho ca me catto vanto mutto pahīno paṭinissaṭṭho ukkheṭito samukkheṭitoti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa.
Tīhākārehi …pe… sattahākārehi mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ rāgā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ … dosā ca me cittaṁ vinīvaraṇanti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ.
If he lies in full awareness, saying, “My mind is free from the hindrance of confusion and I attained the emptiness release,” … and I attained the signless release,” … and I attained the desireless release,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “My mind is free from the hindrance of confusion and I’ve realized the desireless release,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
If he lies in full awareness, saying, “My mind is free from the hindrance of confusion and I attained the emptiness stillness,” … and I attained the signless stillness,” … and I attained the desireless stillness,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “My mind is free from the hindrance of confusion and I’ve realized the desireless stillness,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
If he lies in full awareness, saying, “My mind is free from the hindrance of confusion and I attained the emptiness attainment,” … and I attained the signless attainment,” … and I attained the desireless attainment,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “My mind is free from the hindrance of confusion and I’ve realized the desireless attainment,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
If he lies in full awareness, saying, “My mind is free from the hindrance of confusion and I attained the three true insights,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “My mind is free from the hindrance of confusion and I’ve realized the three true insights,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
If he lies in full awareness, saying, “My mind is free from the hindrance of confusion and I attained the four applications of mindfulness,” … and I attained the four right efforts,” … and I attained the four foundations for supernormal power,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “My mind is free from the hindrance of confusion and I’ve realized the four foundations for supernormal power,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
If he lies in full awareness, saying, “My mind is free from the hindrance of confusion and I attained the five spiritual faculties,” … and I attained the five spiritual powers,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “My mind is free from the hindrance of confusion and I’ve realized the five spiritual powers,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
If he lies in full awareness, saying, “My mind is free from the hindrance of confusion and I attained the seven factors of awakening,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “My mind is free from the hindrance of confusion and I’ve realized the seven factors of awakening,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
If he lies in full awareness, saying, “My mind is free from the hindrance of confusion and I attained the noble eightfold path,” … “I’m attaining … “I’ve attained … “I obtain … “I master … “My mind is free from the hindrance of confusion and I’ve realized the noble eightfold path,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
If he lies in full awareness, saying, “My mind is free from the hindrance of confusion and I attained the fruit of streamentry,” … and I attained the fruit of once-returning,” … and I attained the fruit of non-returning,” … and I attained perfection,” … and I’m attaining … and I’ve attained … and I obtain … and I master … “My mind is free from the hindrance of confusion and I’ve realized perfection,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
If he lies in full awareness, saying, “My mind is free from the hindrance of confusion and I’ve given up sensual desire … and I’ve given up ill will … and I’ve given up confusion, renounced it, let it go, abandoned it, relinquished it, forsaken it, thrown it aside,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled.
If he lies in full awareness, saying, “My mind is free from the hindrance of confusion and my mind is free from the hindrance of sensual desire,” … and my mind is free from the hindrance of ill will,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled … when seven conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true; he misrepresents his sentiment of what is true.
214. Vị tỳ khưu cố ý nói láo rằng: ‘Do ba phương cách, ... cho đến ... do bảy phương cách, tôi đã chứng nhập, đang chứng nhập, đã chứng nhập xong thiền thứ nhất, thiền thứ nhì, thiền thứ ba, thiền thứ tư, không giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát, không định, vô tướng định, vô nguyện định, không nhập, vô tướng nhập, vô nguyện nhập, ba minh, bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm quyền, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo Tám ngành, quả Dự Lưu, quả Nhất Lai, quả Bất Lai, và quả A-la-hán. ... cho đến ... Tham ái đã được tôi từ bỏ, sân hận đã được tôi từ bỏ, si mê đã được tôi từ bỏ, đã được mửa ra, đã được giải thoát, đã được đoạn trừ, đã được xả ly, đã được nhổ lên, đã được nhổ lên tận gốc rễ. Và tâm của tôi đã không còn bị tham ái che lấp, tâm của tôi đã không còn bị sân hận che lấp, tâm của tôi đã không còn bị si mê che lấp’ thì phạm tội pārājika. Trước khi nói, vị ấy đã có ý định rằng: ‘Ta sẽ nói láo.’ Trong khi đang nói, vị ấy có ý định rằng: ‘Ta đang nói láo.’ Sau khi đã nói, vị ấy có ý định rằng: ‘Ta đã nói láo.’ (Vị ấy nói láo) sau khi đã che giấu tà kiến, sau khi đã che giấu sự kham nhẫn, sau khi đã che giấu sở thích, sau khi đã che giấu chủ trương.
Ekamūlakaṁ niṭṭhitaṁ.
Yathā ekamūlakaṁ vitthāritaṁ evameva dumūlakādipi vitthāretabbaṁ.
Idaṁ sabbamūlakaṁ
Tīhākārehi …pe… sattahākārehi paṭhamañca jhānaṁ dutiyañca jhānaṁ tatiyañca jhānaṁ catutthañca jhānaṁ suññatañca vimokkhaṁ animittañca vimokkhaṁ appaṇihitañca vimokkhaṁ suññatañca samādhiṁ animittañca samādhiṁ appaṇihitañca samādhiṁ suññatañca samāpattiṁ animittañca samāpattiṁ appaṇihitañca samāpattiṁ tisso ca vijjā cattāro ca satipaṭṭhāne cattāro ca sammappadhāne cattāro ca iddhipāde pañca ca indriyāni pañca ca balāni satta ca bojjhaṅge ariyañca aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ sotāpattiphalañca sakadāgāmiphalañca anāgāmiphalañca arahattañca samāpajjiṁ … samāpajjāmi … samāpanno …pe… rāgo ca me catto, doso ca me catto, moho ca me catto vanto mutto pahīno paṭinissaṭṭho ukkheṭito samukkheṭito. Rāgā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ, dosā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ, mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇanti sampajānamusā bhaṇantassa āpatti pārājikassa—
The section based on one item is finished.
Combinations of more than two attainments
The sections based on two items, etc., are to be given in detail in the same way as the section based on one item.
Combination of all attainments
This is the section based on all items:
If he lies in full awareness, saying, “I attained the first absorption and the second absorption and the third absorption and the fourth absorption and the emptiness release and the signless release and the desireless release and the emptiness stillness and the signless stillness and the desireless stillness and the emptiness attainment and the signless attainment and the desireless attainment and the three true insights and the four applications of mindfulness and the four right efforts and the four foundations for supernormal power and the five spiritual faculties and the five spiritual powers and the seven factors of awakening and the noble eightfold path and the fruit of streamentry and the fruit of once-returning and the fruit of non-returning and perfection … and I’m attaining … and I’ve attained … etc. … and I’ve given up sensual desire, renounced it, let it go, abandoned it, relinquished it, forsaken it, thrown it aside; and I’ve given up ill will, renounced it, let it go, abandoned it, relinquished it, forsaken it, thrown it aside; and I’ve given up confusion, renounced it, let it go, abandoned it, relinquished it, forsaken it, thrown it aside; and my mind is free from the hindrance of sensual desire and my mind is free from the hindrance of ill will and my mind is free from the hindrance of confusion,” he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled … when seven conditions are fulfilled:
Phần sabbamūlaka (tất cả các gốc rễ) về người có lời nói sai lệch đã chấm dứt.
Sabbamūlakaṁ niṭṭhitaṁ.
Suddhikavārakathā niṭṭhitā.
Tīhākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjinti vattukāmo dutiyaṁ jhānaṁ samāpajjinti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti pārājikassa; na paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa.
Tīhākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjinti vattukāmo tatiyaṁ jhānaṁ samāpajjinti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti pārājikassa; na paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa.
Tīhākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjinti vattukāmo catutthaṁ jhānaṁ samāpajjinti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti pārājikassa; na paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa.
Tīhākārehi …pe… sattahākārehi paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjinti vattukāmo suññataṁ vimokkhaṁ … animittaṁ vimokkhaṁ … appaṇihitaṁ vimokkhaṁ … suññataṁ samādhiṁ … animittaṁ samādhiṁ … appaṇihitaṁ samādhiṁ … suññataṁ samāpattiṁ … animittaṁ samāpattiṁ … appaṇihitaṁ samāpattiṁ … tisso vijjā … cattāro satipaṭṭhāne … cattāro sammappadhāne … cattāro iddhipāde … pañcindriyāni … pañca balāni … satta bojjhaṅge … ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ … sotāpattiphalaṁ … sakadāgāmiphalaṁ … anāgāmiphalaṁ … arahattaṁ samāpajjiṁ …pe… rāgo me catto … doso me catto … moho me catto vanto mutto pahīno paṭinissaṭṭho ukkheṭito samukkheṭito. Rāgā me cittaṁ vinīvaraṇaṁ … dosā me cittaṁ vinīvaraṇaṁ … mohā me cittaṁ vinīvaraṇanti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti pārājikassa; na paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ.
Vatthuvisārakassa ekamūlakassa khaṇḍacakkaṁ niṭṭhitaṁ.
Tīhākārehi dutiyaṁ jhānaṁ samāpajjinti vattukāmo tatiyaṁ jhānaṁ samāpajjinti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti pārājikassa; na paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa.
Tīhākārehi dutiyaṁ jhānaṁ samāpajjinti vattukāmo catutthaṁ jhānaṁ samāpajjinti …pe… mohā me cittaṁ vinīvaraṇanti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti pārājikassa; na paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa.
Tīhākārehi …pe… sattahākārehi dutiyaṁ jhānaṁ samāpajjinti vattukāmo paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjinti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti pārājikassa; na paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa …pe… vinidhāya bhāvaṁ.
Vatthuvisārakassa ekamūlakassa baddhacakkaṁ.
Mūlaṁ saṅkhittaṁ.
Tīhākārehi mohā me cittaṁ vinīvaraṇanti vattukāmo paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjinti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti pārājikassa; na paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa.
Tīhākārehi …pe… sattahākārehi mohā me cittaṁ vinīvaraṇanti vattukāmo dosā me cittaṁ vinīvaraṇanti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti pārājikassa; na paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa …pe… vinidhāya bhāvaṁ.
Vatthuvisārakassa ekamūlakaṁ niṭṭhitaṁ.
Yathā ekamūlakaṁ vitthāritaṁ evameva dumūlakādipi vitthāretabbaṁ.
Idaṁ sabbamūlakaṁ
Tīhākārehi …pe… sattahākārehi paṭhamañca jhānaṁ dutiyañca jhānaṁ tatiyañca jhānaṁ catutthañca jhānaṁ suññatañca vimokkhaṁ animittañca vimokkhaṁ appaṇihitañca vimokkhaṁ suññatañca samādhiṁ animittañca samādhiṁ appaṇihitañca samādhiṁ suññatañca samāpattiṁ animittañca samāpattiṁ appaṇihitañca samāpattiṁ tisso ca vijjā cattāro ca satipaṭṭhāne cattāro ca sammappadhāne cattāro ca iddhipāde pañca ca indriyāni pañca ca balāni satta ca bojjhaṅge ariyañca aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ sotāpattiphalañca sakadāgāmiphalañca anāgāmiphalañca arahattañca samāpajjiṁ …pe… rāgo ca me catto … doso ca me catto … moho ca me catto vanto mutto pahīno paṭinissaṭṭho ukkheṭito samukkheṭito, rāgā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ dosā ca me cittaṁ vinīvaraṇanti vattukāmo mohā me cittaṁ vinīvaraṇanti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti pārājikassa;
The section based on all items is finished.
The exposition of the section on the basic series is finished.
Meaning to say first absorption, but saying something else
If he lies in full awareness, meaning to say, “I attained the first absorption,” while actually saying, “I attained the second absorption,” then, if the listener understands, he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits a serious offense when three conditions are fulfilled.
If he lies in full awareness, meaning to say, “I attained the first absorption,” while actually saying, “I attained the third absorption,” then, if the listener understands, he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits a serious offense when three conditions are fulfilled.
If he lies in full awareness, meaning to say, “I attained the first absorption,” while actually saying, “I attained the fourth absorption,” then, if the listener understands, he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits a serious offense when three conditions are fulfilled.
If he lies in full awareness, meaning to say, “I attained the first absorption,” while actually saying, “I attained the emptiness release,” … the signless release,” … the desireless release,” … the emptiness stillness,” … the signless stillness,” … the desireless stillness,” … the emptiness attainment,” … the signless attainment,” … the desireless attainment,” … the three true insights,” … the four applications of mindfulness,” … the four right efforts,” … the four foundations for supernormal power,” … the five spiritual faculties,” … the five spiritual powers,” … the seven factors of awakening,” … the noble eightfold path,” … the fruit of streamentry,” … the fruit of once-returning,” … the fruit of non-returning,” … perfection,” … “I’ve given up sensual desire … “I’ve given up ill will … “I’ve given up confusion, renounced it, let it go, abandoned it, relinquished it, forsaken it, thrown it aside,” … “My mind is free from the hindrance of sensual desire,” … “My mind is free from the hindrance of ill will,” … “My mind is free from the hindrance of confusion,” then, if the listener understands, he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits a serious offense when three conditions are fulfilled … when seven conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true; he misrepresents his sentiment of what is true.
The unconnected permutation series based on one item with a speech extension is finished.
Meaning to say second absorption, but saying something else
If he lies in full awareness, meaning to say, “I attained the second absorption,” while actually saying, “I attained the third absorption,” then, if the listener understands, he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits a serious offense when three conditions are fulfilled.
If he lies in full awareness, meaning to say, “I attained the second absorption,” while actually saying, “I attained the fourth absorption,” … “My mind is free from the hindrance of confusion,” then, if the listener understands, he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits a serious offense when three conditions are fulfilled.
If he lies in full awareness, meaning to say, “I attained the second absorption,” while actually saying, “I attained the first absorption,” then, if the listener understands, he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits a serious offense when three conditions are fulfilled … when seven conditions are fulfilled … he misrepresents his sentiment of what is true.
The linked permutation series based on one item with a speech extension is finished.
The basis in brief is finished.
Meaning to say he is free from confusion, but saying something else
If he lies in full awareness, meaning to say, “My mind is free from the hindrance of confusion,” while actually saying, “I attained the first absorption,” then, if the listener understands, he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits a serious offense when three conditions are fulfilled.
If he lies in full awareness, meaning to say, “My mind is free from the hindrance of confusion,” while actually saying, “My mind is free from the hindrance of ill will,” then, if the listener understands, he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits a serious offense when three conditions are fulfilled … when seven conditions are fulfilled … he misrepresents his sentiment of what is true.
The section based on one item with a speech extension is finished.
Meaning to say any particular combination of individual attainments, but saying something else
The sections based on two items, etc., are to be given in detail in the same way as the section based on one item.
Meaning to say all the attainments but one, and instead saying the remaining one
This is the section based on all items:
If he lies in full awareness, meaning to say, “I attained the first absorption and the second absorption and the third absorption and the fourth absorption and the emptiness release and the signless release and the desireless release and the emptiness stillness and the signless stillness and the desireless stillness and the emptiness attainment and the signless attainment and the desireless attainment and the three true insights and the four applications of mindfulness and the four right efforts and the four foundations for supernormal power and the five spiritual faculties and the five spiritual powers and the seven factors of awakening and the noble eightfold path and the fruit of streamentry and the fruit of once-returning and the fruit of non-returning and perfection … and I’ve given up sensual desire … and I’ve given up ill will … and I’ve given up confusion, renounced it, let it go, abandoned it, relinquished it, forsaken it, thrown it aside; and my mind is free from the hindrance of sensual desire and my mind is free from the hindrance of ill will,” while actually saying, “My mind is free from the hindrance of confusion,” then, if the listener understands, he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled;
219. Với ba phương diện, vị ấy có ý muốn nói rằng: ‘Tôi đã chứng nhập thiền thứ hai, và thiền thứ ba, và thiền thứ tư, và không giải thoát, và vô tướng giải thoát, và vô nguyện giải thoát, và không định, và vô tướng định, và vô nguyện định, và không đẳng chí, và vô tướng đẳng chí, và vô nguyện đẳng chí, và ba minh, và bốn niệm xứ, và bốn chánh cần, và bốn như ý túc, và năm quyền, và năm lực, và bảy giác chi, và Thánh đạo Tám ngành, và quả Tu-đà-hoàn, và quả Tư-đà-hàm, và quả A-na-hàm, và đã chứng đắc quả A-la-hán ... cho đến ... và tham đã được tôi từ bỏ ... và sân đã được tôi từ bỏ ... và si đã được tôi từ bỏ, đã được nôn ra, đã được giải thoát, đã được đoạn trừ, đã được xả ly, đã được nhổ lên, đã được nhổ lên tận gốc. Và tâm của tôi không còn bị chướng ngại khỏi tham ... và tâm của tôi không còn bị chướng ngại khỏi sân ... và tâm của tôi không còn bị chướng ngại khỏi si,’ rồi nói rằng: ‘Tôi đã chứng nhập thiền thứ nhất,’ trong khi đang nói lời cố ý nói dối, nếu người nghe hiểu biết thì phạm tội pārājika; nếu người nghe không hiểu biết thì phạm tội thullaccaya.
Tīhākārehi dutiyañca jhānaṁ tatiyañca jhānaṁ catutthañca jhānaṁ suññatañca vimokkhaṁ animittañca vimokkhaṁ appaṇihitañca vimokkhaṁ suññatañca samādhiṁ animittañca samādhiṁ appaṇihitañca samādhiṁ suññatañca samāpattiṁ animittañca samāpattiṁ appaṇihitañca samāpattiṁ tisso ca vijjā cattāro ca satipaṭṭhāne cattāro ca sammappadhāne cattāro ca iddhipāde pañca ca indriyāni pañca ca balāni satta ca bojjhaṅge ariyañca aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ sotāpattiphalañca sakadāgāmiphalañca anāgāmiphalañca arahattañca samāpajjiṁ …pe… rāgo ca me catto … doso ca me catto … moho ca me catto vanto mutto pahīno paṭinissaṭṭho ukkheṭito samukkheṭito, rāgā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ dosā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇanti vattukāmo paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjinti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti pārājikassa; na paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa.
If he lies in full awareness, meaning to say, “I attained the second absorption and the third absorption and the fourth absorption and the emptiness release and the signless release and the desireless release and the emptiness stillness and the signless stillness and the desireless stillness and the emptiness attainment and the signless attainment and the desireless attainment and the three true insights and the four applications of mindfulness and the four right efforts and the four foundations for supernormal power and the five spiritual faculties and the five spiritual powers and the seven factors of awakening and the noble eightfold path and the fruit of streamentry and the fruit of once-returning and the fruit of non-returning and perfection … and I’ve given up sensual desire … and I’ve given up ill will … and I’ve given up confusion, renounced it, let it go, abandoned it, relinquished it, forsaken it, thrown it aside; and my mind is free from the hindrance of sensual desire and my mind is free from the hindrance of ill will and my mind is free from the hindrance of confusion,” while actually saying, “I attained the first absorption,” then, if the listener understands, he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits a serious offense when three conditions are fulfilled.
215. Vị tỳ khưu có ý muốn nói: ‘Do ba phương cách, tôi đã chứng nhập thiền thứ nhất’ nhưng lại cố ý nói láo rằng: ‘Tôi đã chứng nhập thiền thứ nhì,’ nếu người nghe hiểu được thì vị ấy phạm tội pārājika; nếu người nghe không hiểu được thì phạm tội thullaccaya.
Tīhākārehi tatiyañca jhānaṁ catutthañca jhānaṁ …pe… mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ paṭhamañca jhānaṁ samāpajjinti vattukāmo dutiyaṁ jhānaṁ samāpajjinti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti pārājikassa; na paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa.
If he lies in full awareness, meaning to say, “I attained the third absorption and the fourth absorption … and my mind is free from the hindrance of confusion and I attained the first absorption,” while actually saying, “I attained the second absorption,” then, if the listener understands, he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits a serious offense when three conditions are fulfilled.
Với ba trường hợp, ... tầng thiền thứ ba và tầng thiền thứ tư ... (v.v.) ... vị ấy có ý muốn nói rằng: ‘Tâm của tôi đã không còn bị chướng ngại bởi si mê và tôi đã nhập vào tầng thiền thứ nhất,’ nhưng lại nói rằng: ‘Tôi đã nhập vào tầng thiền thứ hai.’ Trong khi cố ý nói dối như thế, nếu người nghe hiểu được thì phạm tội pārājika; nếu người nghe không hiểu được thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).
Tīhākārehi …pe… sattahākārehi mohā ca me cittaṁ vinīvaraṇaṁ paṭhamañca jhānaṁ dutiyañca jhānaṁ tatiyañca jhānaṁ catutthañca jhānaṁ …pe… rāgā ca me cittaṁ vinīvaraṇanti vattukāmo dosā me cittaṁ vinīvaraṇanti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti pārājikassa; na paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ.
Vatthuvisārakassa sabbamūlakaṁ niṭṭhitaṁ.
If he lies in full awareness, meaning to say, “My mind is free from the hindrance of confusion and I attained the first absorption and the second absorption and the third absorption and the fourth absorption … and my mind is free from the hindrance of sensual desire,” while actually saying, “My mind is free from the hindrance of ill will,” then, if the listener understands, he commits an offense entailing expulsion when three conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits a serious offense when three conditions are fulfilled … when seven conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true; he misrepresents his sentiment of what is true.
The section based on all items with a speech extension is finished.
Với ba trường hợp ... (v.v.) ... với bảy trường hợp, vị ấy có ý muốn nói rằng: ‘Tâm của tôi đã không còn bị chướng ngại bởi si mê, và (tôi đã chứng) tầng thiền thứ nhất, tầng thiền thứ hai, tầng thiền thứ ba, tầng thiền thứ tư ... (v.v.) ... tâm của tôi đã không còn bị chướng ngại bởi tham ái,’ nhưng lại nói rằng: ‘Tâm của tôi đã không còn bị chướng ngại bởi sân hận.’ Trong khi cố ý nói dối như thế, nếu người nghe hiểu được thì phạm tội pārājika; nếu người nghe không hiểu được thì phạm tội thullaccaya. Trước khi nói, vị ấy đã có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói dối.’ Trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói dối.’ Sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đã nói dối.’ (Và đã nói) trong khi che giấu tri kiến, trong khi che giấu sự kham nhẫn, trong khi che giấu sự ưa thích, trong khi che giấu ý định.
Vatthuvisārakassa cakkapeyyālaṁ niṭṭhitaṁ.
The successive permutation series with a speech extension is finished.
Phần cakkapeyyāla (lược duyệt theo vòng) về người có lời nói sai lệch đã chấm dứt.
Vatthukāmavārakathā niṭṭhitā.
The exposition of the section on “meaning to say” is finished.
Gross hinting: in regard to dwellings
Phần trình bày về vattukāmavāra (thiên về ý muốn nói) đã chấm dứt.
Tīhākārehi yo te vihāre vasi so bhikkhu paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajji … samāpajjati … samāpanno … so bhikkhu paṭhamassa jhānassa lābhī … vasī … tena bhikkhunā paṭhamaṁ jhānaṁ sacchikatanti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa; na paṭivijānantassa āpatti dukkaṭassa—
If he lies in full awareness, saying, “The monk who stayed in your dwelling attained the first absorption,” … is attaining … has attained … obtains … masters … has realized the first absorption,” then, if the listener understands, he commits a serious offense when three conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits an offense of wrong conduct when three conditions are fulfilled:
220. Với ba trường hợp, (vị tỳ khưu nói rằng): ‘Vị tỳ khưu nào đã ở trong trú xá của thầy, vị tỳ khưu ấy đã nhập ... đang nhập ... đã ở trong tầng thiền thứ nhất ... vị tỳ khưu ấy là người đắc được ... là người thuần thục ... tầng thiền thứ nhất đã được vị tỳ khưu ấy chứng ngộ.’ Trong khi cố ý nói dối như thế, nếu người nghe hiểu được thì phạm tội thullaccaya; nếu người nghe không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Catūhākārehi … pañcahākārehi … chahākārehi … sattahākārehi yo te vihāre vasi so bhikkhu paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajji … samāpajjati … samāpanno … so bhikkhu paṭhamassa jhānassa lābhī … vasī … tena bhikkhunā paṭhamaṁ jhānaṁ sacchikatanti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa; na paṭivijānantassa āpatti dukkaṭassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ.
If he lies in full awareness, saying, “The monk who stayed in your dwelling attained the first absorption,” … is attaining … has attained … obtains … masters … has realized the first absorption,” then, if the listener understands, he commits a serious offense when four … five … six … seven conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits an offense of wrong conduct when seven conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true; he misrepresents his sentiment of what is true.
Với bốn trường hợp ... với năm trường hợp ... với sáu trường hợp ... với bảy trường hợp, (vị tỳ khưu nói rằng): ‘Vị tỳ khưu nào đã ở trong trú xá của thầy, vị tỳ khưu ấy đã nhập ... đang nhập ... đã ở trong tầng thiền thứ nhất ... vị tỳ khưu ấy là người đắc được ... là người thuần thục ... tầng thiền thứ nhất đã được vị tỳ khưu ấy chứng ngộ.’ Trong khi cố ý nói dối như thế, nếu người nghe hiểu được thì phạm tội thullaccaya; nếu người nghe không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa. Trước khi nói, vị ấy đã có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói dối.’ Trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói dối.’ Sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đã nói dối.’ (Và đã nói) trong khi che giấu tri kiến, trong khi che giấu sự kham nhẫn, trong khi che giấu sự ưa thích, trong khi che giấu ý định.
Tīhākārehi yo te vihāre vasi so bhikkhu dutiyaṁ jhānaṁ … tatiyaṁ jhānaṁ … catutthaṁ jhānaṁ … suññataṁ vimokkhaṁ … animittaṁ vimokkhaṁ … appaṇihitaṁ vimokkhaṁ … suññataṁ samādhiṁ … animittaṁ samādhiṁ … appaṇihitaṁ samādhiṁ … suññataṁ samāpattiṁ … animittaṁ samāpattiṁ … appaṇihitaṁ samāpattiṁ … tisso vijjā … cattāro satipaṭṭhāne … cattāro sammappadhāne … cattāro iddhipāde … pañca indriyāni … pañca balāni … satta bojjhaṅge … ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ … sotāpattiphalaṁ … sakadāgāmiphalaṁ … anāgāmiphalaṁ … arahattaṁ samāpajji … samāpajjati … samāpanno … so bhikkhu arahattassa lābhī … vasī … tena bhikkhunā arahattaṁ sacchikatanti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa; na paṭivijānantassa āpatti dukkaṭassa.
If he lies in full awareness, saying, “The monk who stayed in your dwelling attained the second absorption,” … the third absorption,” … the fourth absorption,” … the emptiness release,” … the signless release,” … the desireless release,” … the emptiness stillness,” … the signless stillness,” … the desireless stillness,” … the emptiness attainment,” … the signless attainment,” … the desireless attainment,” … the three true insights,” … the four applications of mindfulness,” … the four right efforts,” … the four foundations for supernormal power,” … the five spiritual faculties,” … the five spiritual powers,” … the seven factors of awakening,” … the noble eightfold path,” … the fruit of streamentry,” … the fruit of once-returning,” … the fruit of non-returning,” … perfection,” … is attaining … has attained … obtains … masters … has realized perfection,” then, if the listener understands, he commits a serious offense when three conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits an offense of wrong conduct when three conditions are fulfilled.
Với ba trường hợp, (vị tỳ khưu nói rằng): ‘Vị tỳ khưu nào đã ở trong trú xá của thầy, vị tỳ khưu ấy đã nhập ... tầng thiền thứ hai ... tầng thiền thứ ba ... tầng thiền thứ tư ... không giải thoát ... vô tướng giải thoát ... vô nguyện giải thoát ... không định ... vô tướng định ... vô nguyện định ... không đẳng nhập ... vô tướng đẳng nhập ... vô nguyện đẳng nhập ... ba minh ... bốn niệm xứ ... bốn chánh cần ... bốn như ý túc ... năm căn ... năm lực ... bảy giác chi ... Thánh đạo Tám ngành ... quả Dự lưu ... quả Nhất lai ... quả Bất lai ... đã nhập A-la-hán quả ... đang nhập ... đã ở trong ... vị tỳ khưu ấy là người đắc được ... là người thuần thục ... A-la-hán quả đã được vị tỳ khưu ấy chứng ngộ.’ Trong khi cố ý nói dối như thế, nếu người nghe hiểu được thì phạm tội thullaccaya; nếu người nghe không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa.
Tīhākārehi yo te vihāre vasi, tassa bhikkhuno rāgo catto … doso catto … moho catto vanto mutto pahīno paṭinissaṭṭho ukkheṭito samukkheṭitoti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa; na paṭivijānantassa āpatti dukkaṭassa.
If he lies in full awareness, saying, “The monk who stayed in your dwelling has given up sensual desire … has given up ill will … has given up confusion, renounced it, let it go, abandoned it, relinquished it, forsaken it, thrown it aside,” then, if the listener understands, he commits a serious offense when three conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits an offense of wrong conduct when three conditions are fulfilled.
Với ba trường hợp, (vị tỳ khưu nói rằng): ‘Đối với vị tỳ khưu đã ở trong trú xá của thầy, tham ái đã được từ bỏ ... sân hận đã được từ bỏ ... si mê đã được từ bỏ, đã được mửa ra, đã được giải thoát, đã được đoạn trừ, đã được xả ly, đã được nhổ lên, đã được nhổ lên tận gốc rễ.’ Trong khi cố ý nói dối như thế, nếu người nghe hiểu được thì phạm tội thullaccaya; nếu người nghe không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa.
Tīhākārehi …pe… sattahākārehi yo te vihāre vasi, tassa bhikkhuno rāgā cittaṁ vinīvaraṇaṁ … dosā cittaṁ vinīvaraṇaṁ … mohā cittaṁ vinīvaraṇanti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa; na paṭivijānantassa āpatti dukkaṭassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ.
If he lies in full awareness, saying, “The monk who stayed in your dwelling has a mind free from the hindrance of sensual desire,” … a mind free from the hindrance of ill will,” … a mind free from the hindrance of confusion,” then, if the listener understands, he commits a serious offense when three conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits an offense of wrong conduct when three conditions are fulfilled … when seven conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true; he misrepresents his sentiment of what is true.
Với ba trường hợp ... (v.v.) ... với bảy trường hợp, (vị tỳ khưu nói rằng): ‘Đối với vị tỳ khưu đã ở trong trú xá của thầy, tâm đã không còn bị chướng ngại bởi tham ái ... tâm đã không còn bị chướng ngại bởi sân hận ... tâm đã không còn bị chướng ngại bởi si mê.’ Trong khi cố ý nói dối như thế, nếu người nghe hiểu được thì phạm tội thullaccaya; nếu người nghe không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa ... (v.v.) ... Trước khi nói, vị ấy đã có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói dối.’ Trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói dối.’ Sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đã nói dối.’ (Và đã nói) trong khi che giấu tri kiến, trong khi che giấu sự kham nhẫn, trong khi che giấu sự ưa thích, trong khi che giấu ý định.
Tīhākārehi …pe… sattahākārehi yo te vihāre vasi so bhikkhu suññāgāre paṭhamaṁ jhānaṁ … dutiyaṁ jhānaṁ … tatiyaṁ jhānaṁ … catutthaṁ jhānaṁ samāpajji … samāpajjati … samāpanno … so bhikkhu suññāgāre catutthassa jhānassa lābhī … vasī … tena bhikkhunā suññāgāre catutthaṁ jhānaṁ sacchikatanti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa; na paṭivijānantassa āpatti dukkaṭassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ.
If he lies in full awareness, saying, “The monk who stayed in your dwelling attained the first absorption in solitude,” … the second absorption … the third absorption … the fourth absorption … is attaining … has attained … obtains … masters … has realized the fourth absorption in solitude,” then, if the listener understands, he commits a serious offense when three conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits an offense of wrong conduct when three conditions are fulfilled … when seven conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true; he misrepresents his sentiment of what is true.
Gross hinting: in regard to any requisite
Với ba trường hợp ... (v.v.) ... với bảy trường hợp, (vị tỳ khưu nói rằng): ‘Vị tỳ khưu nào đã ở trong trú xá của thầy, vị tỳ khưu ấy ở tại nơi vắng vẻ đã nhập tầng thiền thứ nhất ... tầng thiền thứ hai ... tầng thiền thứ ba ... đã nhập tầng thiền thứ tư ... đang nhập ... đã ở trong ... vị tỳ khưu ấy ở tại nơi vắng vẻ là người đắc được ... là người thuần thục ... tầng thiền thứ tư đã được vị tỳ khưu ấy chứng ngộ ở tại nơi vắng vẻ.’ Trong khi cố ý nói dối như thế, nếu người nghe hiểu được thì phạm tội thullaccaya; nếu người nghe không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa. Trước khi nói, vị ấy đã có ý nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ nói dối.’ Trong khi đang nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nói dối.’ Sau khi đã nói, vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Tôi đã nói dối.’ (Và đã nói) trong khi che giấu tri kiến, trong khi che giấu sự kham nhẫn, trong khi che giấu sự ưa thích, trong khi che giấu ý định.
Yathā idaṁ vitthāritaṁ evameva sesānipi vitthāretabbāni.
The remainder should be given in detail in the same way:
Giống như phần này đã được trình bày chi tiết, tương tự y như thế các phần còn lại cũng nên được trình bày chi tiết.
Tīhākārehi …pe… sattahākārehi yo te cīvaraṁ paribhuñji … yo te piṇḍapātaṁ paribhuñji … yo te senāsanaṁ paribhuñji … yo te gilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ paribhuñji so bhikkhu suññāgāre catutthaṁ jhānaṁ samāpajji … samāpajjati … samāpanno … so bhikkhu suññāgāre catutthassa jhānassa lābhī … vasī … tena bhikkhunā suññāgāre catutthaṁ jhānaṁ sacchikatanti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa; na paṭivijānantassa āpatti dukkaṭassa …pe… vinidhāya bhāvaṁ.
If he lies in full awareness, saying, “The monk who made use of your robe-cloth … who made use of your almsfood … who made use of your furniture … who made use of your medicinal supplies attained the fourth absorption in solitude,” … is attaining … has attained … obtains … masters … has realized the fourth absorption in solitude,” then, if the listener understands, he commits a serious offense when three conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits an offense of wrong conduct when three conditions are fulfilled … when seven conditions are fulfilled … he misrepresents his sentiment of what is true.
221. Với ba cách thức... cho đến... với bảy cách thức, (nói rằng:) ‘Vị tỳ khưu nào đã thọ dụng y của ngài... vị nào đã thọ dụng vật thực khất thực của ngài... vị nào đã thọ dụng sàng tọa của ngài... vị nào đã thọ dụng dược phẩm trị bệnh làm vật hỗ trợ cho người bệnh của ngài, vị tỳ khưu ấy đã nhập... đang nhập... đã nhập vào thiền thứ tư ở nơi thanh vắng... vị tỳ khưu ấy là người đắc... là người thuần thục thiền thứ tư ở nơi thanh vắng... thiền thứ tư đã được vị tỳ khưu ấy chứng ngộ ở nơi thanh vắng,’ đối với người cố ý nói láo như vậy, nếu người nghe hiểu biết thì phạm tội thullaccaya; nếu người nghe không hiểu biết thì phạm tội dukkaṭa... che giấu ý muốn.
Tīhākārehi …pe… sattahākārehi yena te vihāro paribhutto … yena te cīvaraṁ paribhuttaṁ … yena te piṇḍapāto paribhutto … yena te senāsanaṁ paribhuttaṁ … yena te gilānappaccayabhesajjaparikkhāro paribhutto … so bhikkhu suññāgāre catutthaṁ jhānaṁ samāpajji … samāpajjati … samāpanno … so bhikkhu suññāgāre catutthassa jhānassa lābhī … vasī … tena bhikkhunā suññāgāre catutthaṁ jhānaṁ sacchikatanti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa; na paṭivijānantassa āpatti dukkaṭassa …pe… vinidhāya bhāvaṁ.
If he lies in full awareness, saying, “The monk who has made use of your dwelling … who has made use of your robe-cloth … who has made use of your almsfood … who has made use of your furniture … who has made use of your medicinal supplies attained the fourth absorption in solitude,” … is attaining … has attained … obtains … masters … has realized the fourth absorption in solitude,” then, if the listener understands, he commits a serious offense when three conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits an offense of wrong conduct when three conditions are fulfilled … when seven conditions are fulfilled … he misrepresents his sentiment of what is true.
Với ba cách thức... cho đến... với bảy cách thức, (nói rằng:) ‘Trú xá của ngài đã được vị tỳ khưu nào thọ dụng... y của ngài đã được vị nào thọ dụng... vật thực khất thực của ngài đã được vị nào thọ dụng... sàng tọa của ngài đã được vị nào thọ dụng... dược phẩm trị bệnh làm vật hỗ trợ cho người bệnh của ngài đã được vị nào thọ dụng... vị tỳ khưu ấy đã nhập... đang nhập... đã nhập vào thiền thứ tư ở nơi thanh vắng... vị tỳ khưu ấy là người đắc... là người thuần thục thiền thứ tư ở nơi thanh vắng... thiền thứ tư đã được vị tỳ khưu ấy chứng ngộ ở nơi thanh vắng,’ đối với người cố ý nói láo như vậy, nếu người nghe hiểu biết thì phạm tội thullaccaya; nếu người nghe không hiểu biết thì phạm tội dukkaṭa... che giấu ý muốn.
Tīhākārehi …pe… sattahākārehi yaṁ tvaṁ āgamma vihāraṁ adāsi … cīvaraṁ adāsi … piṇḍapātaṁ adāsi … senāsanaṁ adāsi … gilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ adāsi so bhikkhu suññāgāre catutthaṁ jhānaṁ samāpajji … samāpajjati … samāpanno … so bhikkhu suññāgāre catutthassa jhānassa lābhī … vasī … tena bhikkhunā suññāgāre catutthaṁ jhānaṁ sacchikatanti sampajānamusā bhaṇantassa paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa; na paṭivijānantassa āpatti dukkaṭassa—pubbevassa hoti musā bhaṇissanti, bhaṇantassa hoti musā bhaṇāmīti, bhaṇitassa hoti musā mayā bhaṇitanti, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ.
If he lies in full awareness, saying, “The monk you gave a dwelling to … you gave robe-cloth to … you gave almsfood to … you gave furniture to … you gave medicinal supplies to, he attained the fourth absorption in solitude,” … is attaining … has attained … obtains … masters … he has realized the fourth absorption in solitude,” then, if the listener understands, he commits a serious offense when three conditions are fulfilled; if the listener does not understand, he commits an offense of wrong conduct when three conditions are fulfilled … when seven conditions are fulfilled: before he has lied, he knows he is going to lie; while lying, he knows he is lying; after he has lied, he knows he has lied; he misrepresents his view of what is true; he misrepresents his belief of what is true; he misrepresents his acceptance of what is true; he misrepresents his sentiment of what is true.
Với ba cách thức... cho đến... với bảy cách thức, (nói rằng:) ‘Do nhân duyên với vị tỳ khưu nào mà ngài đã cúng dường trú xá... đã cúng dường y... đã cúng dường vật thực khất thực... đã cúng dường sàng tọa... đã cúng dường dược phẩm trị bệnh làm vật hỗ trợ cho người bệnh, vị tỳ khưu ấy đã nhập... đang nhập... đã nhập vào thiền thứ tư ở nơi thanh vắng... vị tỳ khưu ấy là người đắc... là người thuần thục thiền thứ tư ở nơi thanh vắng... thiền thứ tư đã được vị tỳ khưu ấy chứng ngộ ở nơi thanh vắng,’ đối với người cố ý nói láo như vậy, nếu người nghe hiểu biết thì phạm tội thullaccaya; nếu người nghe không hiểu biết thì phạm tội dukkaṭa. Trước khi nói, vị ấy có ý nghĩ: ‘Ta sẽ nói láo.’ Đang khi nói, vị ấy có ý nghĩ: ‘Ta đang nói láo.’ Sau khi nói, vị ấy có ý nghĩ: ‘Ta đã nói láo.’ Che giấu tri kiến, che giấu sự kham nhẫn, che giấu sự ưa thích, che giấu ý muốn.
Peyyālapannarasakaṁ niṭṭhitaṁ.
The successive fifteen are finished.
Mười lăm phần lược thuật đã chấm dứt.
Paccayappaṭisaṁyuttavārakathā niṭṭhitā.
The exposition of the section on that connected with requisites is finished.
Phần trình bày liên quan đến các vật dụng đã chấm dứt.
Uttarimanussadhammacakkapeyyālaṁ niṭṭhitaṁ.
Anāpatti—adhimānena,
The successive permutation series on superhuman qualities is finished.
Non-offenses
There is no offense: if he overestimates himself;
Phần lược thuật bánh xe về pháp của bậc thượng nhân đã chấm dứt.
222. Không phạm tội đối với người (nói) do tưởng lầm, người không có ý khoe khoang, người điên, người loạn trí, người bị đau đớn khống chế, người phạm lần đầu.
4.1. Vinītavatthuuddānagāthā
Adhimāne araññamhi,
Summary verses of case studies
“About overestimation, in the wilderness,
Kệ tóm tắt các trường hợp đã được xét xử
Tưởng lầm, ở trong rừng, khất thực, thầy tế độ, oai nghi; các kiết sử, pháp ở nơi vắng vẻ, trú xá, sự phục vụ.
Na dukkaraṁ viriyamathopi maccuno, Bhāyāvuso vippaṭisāri sammā; Viriyena yogena ārādhanāya, Atha vedanāya adhivāsanā duve.
Not difficult, and then energy, fear of death, Remorseful friend, rightly; To be reached by energy, to be reached by exertion, Then two on the enduring of feeling.
Không khó làm, tinh tấn, và cả cái chết; hỡi các hiền giả, hãy sợ hãi, hối hận, chân chánh; bằng tinh tấn, bằng sự nỗ lực, để thành tựu; và hai trường hợp chịu đựng cảm thọ.
Brāhmaṇe pañca vatthūni, aññaṁ byākaraṇā tayo; Agārāvaraṇā kāmā, rati cāpi apakkami.
Five cases of a brahmin, Three on declaring final knowledge; Home, rejected worldly pleasures, And delight, set out.
Năm trường hợp về người Bà-la-môn, ba trường hợp tuyên bố quả vị khác; nhà cửa, các dục là chướng ngại, sự ưa thích, và đã ra đi.
Aṭṭhi pesi ubho gāvaghātakā, Piṇḍo sākuṇiko nicchavi orabbhi; Asi ca sūkariko satti māgavi, Usu ca kāraṇiko sūci sārathi.
Bone, and lump—both are cattle butchers; A morsel is a poultry butcher, a sheep butcher is flayed; And a pig butcher and sword, a deer hunter and knife, And a torturer and arrow, a horse trainer and needle.
Bộ xương, miếng thịt, cả hai là người giết bò; cục thịt, người bắt chim, không da, người giết cừu; kiếm và người giết heo, giáo, người săn thú; tên và người tra tấn, kim, người đánh xe.
Yo ca sibbīyati sūcako hi so, Aṇḍabhāri ahu gāmakūṭako; Kūpe nimuggo hi so pāradāriko, Gūthakhādī ahu duṭṭhabrāhmaṇo.
And a slanderer is sewn, A corrupt magistrate had testicles as burden; An adulterer submerged in a pit, An eater of feces was a wicked brahmin.
Người may vá, người ấy là kẻ mách lẻo; kẻ lừa gạt trong làng đã là người mang gánh nặng tinh hoàn; người ngoại tình đã bị chìm trong hố phân; người Bà-la-môn xấu xa đã là kẻ ăn phân.
Nicchavitthī aticārinī ahu, Maṅgulitthī ahu ikkhaṇitthikā; Okilinī hi sapattaṅgārokiri, Sīsacchinno ahu coraghātako.
A flayed woman was an adulteress, An ugly woman was a fortune-teller; A sweating woman poured coals on a co-wife, A beheaded man was an executioner.
Người phụ nữ không da đã là người ngoại tình; người phụ nữ xấu xí đã là người lên đồng; người bị tro than rắc lên đã rắc than lên người vợ lẽ; người bị chặt đầu đã là kẻ giết trộm.
Bhikkhu bhikkhunī sikkhamānā, Sāmaṇero atha sāmaṇerikā; Kassapassa vinayasmiṁ pabbajaṁ, Pāpakammamakariṁsu tāvade.
A monk, a nun, a trainee nun, A novice monk, then a novice nun—These having gone forth in the training of Kassapa did bad deeds right there.
Tỳ khưu, tỳ khưu ni, học nữ; sa di nam và sa di nữ; đã xuất gia trong giáo pháp của đức Kassapa; họ đã làm ác nghiệp vào lúc ấy.
Tapodā rājagahe yuddhaṁ, nāgānogāhanena ca; Sobhito arahaṁ bhikkhu, pañcakappasataṁ sareti.
The Tapodā, battle in Rājagaha, And with the plunging in of elephants; The perfected monk Sobhita recalled five hundred eons.”
Suối nước nóng Tapodā, trận chiến ở Rājagaha, và việc các con voi xuống tắm; tỳ khưu Sobhita, một vị A-la-hán, nhớ lại năm trăm đại kiếp.
4.2. Vinītavatthu
Case studies, part 1
Các trường hợp đã được xét xử
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu adhimānena aññaṁ byākāsi. Tassa kukkuccaṁ ahosi—“bhagavatā sikkhāpadaṁ paññattaṁ. Kacci nu kho ahaṁ pārājikaṁ āpattiṁ āpanno”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesi. “Anāpatti, bhikkhu, adhimānenā”ti.
At one time a monk declared final knowledge because of overestimation. He became anxious, thinking, “The Buddha has laid down a training rule. Could it be that I’ve committed an offense entailing expulsion?” He told the Buddha. “There’s no offense for overestimates.”
223. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ do tưởng lầm đã tuyên bố quả vị khác (A-la-hán). Vị ấy sanh lòng hối hận: ‘Điều học đã được đức Thế Tôn chế định. Không biết ta có phạm tội pārājika không?’ Vị ấy trình bày sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) ‘Này tỳ khưu, không phạm tội do tưởng lầm.’”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu paṇidhāya araññe viharati—“evaṁ maṁ jano sambhāvessatī”ti. Taṁ jano sambhāvesi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “anāpatti, bhikkhu, pārājikassa.
Na ca, bhikkhave, paṇidhāya araññe vatthabbaṁ. Yo vaseyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time a monk lived in the wilderness because he wanted people to esteem him. People esteemed him. He became anxious … “There’s no offense entailing expulsion.
But, monks, you should not live in the wilderness because of a wish. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ sống trong rừng với ước muốn: ‘Như vầy, mọi người sẽ tôn kính ta.’ Mọi người đã tôn kính vị ấy. Vị ấy sanh lòng hối hận... cho đến... (Đức Phật phán:) ‘Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên sống trong rừng với ước muốn (như vậy). Vị nào sống (như vậy), phạm tội dukkaṭa.’”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu paṇidhāya piṇḍāya carati—“evaṁ maṁ jano sambhāvessatī”ti. Taṁ jano sambhāvesi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “anāpatti, bhikkhu, pārājikassa.
Na ca, bhikkhave, paṇidhāya piṇḍāya caritabbaṁ. Yo careyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time a monk was walking for almsfood because he wanted people to esteem him. People esteemed him. He became anxious … “There’s no offense entailing expulsion.
But, monks, you should not walk for almsfood because of a wish. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ đi khất thực với ước muốn: ‘Như vầy, mọi người sẽ tôn kính ta.’ Mọi người đã tôn kính vị ấy. Vị ấy sanh lòng hối hận... cho đến... (Đức Phật phán:) ‘Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên đi khất thực với ước muốn (như vậy). Vị nào đi (như vậy), phạm tội dukkaṭa.’”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu aññataraṁ bhikkhuṁ etadavoca—“ye, āvuso, amhākaṁ upajjhāyassa saddhivihārikā sabbeva arahanto”ti. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “kiṁcitto tvaṁ, bhikkhū”ti?
“Ullapanādhippāyo ahaṁ, bhagavā”ti.
“Anāpatti, bhikkhu, pārājikassa; āpatti thullaccayassā”ti.
At one time a monk said to another monk, “Those who are pupils of our preceptor are all perfected ones.” He became anxious … “What were you thinking, monk?”
“I wanted to make a claim, sir.”
“There’s no offense entailing expulsion, but there’s a serious offense.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ nói với một vị tỳ khưu khác điều này: ‘Này hiền giả, các vị đồng trú của thầy tế độ chúng ta, tất cả đều là A-la-hán.’ Vị ấy sanh lòng hối hận... cho đến... (Đức Phật hỏi:) ‘Này tỳ khưu, ngươi có tâm gì?’ (Vị ấy thưa:) ‘Bạch đức Thế Tôn, con có ý khoe khoang.’ (Đức Phật phán:) ‘Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika; phạm tội thullaccaya.’”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu aññataraṁ bhikkhuṁ etadavoca—“ye, āvuso, amhākaṁ upajjhāyassa antevāsikā sabbeva mahiddhikā mahānubhāvā”ti. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “kiṁcitto tvaṁ, bhikkhū”ti?
“Ullapanādhippāyo ahaṁ, bhagavā”ti.
“Anāpatti, bhikkhu, pārājikassa; āpatti thullaccayassā”ti.
At one time a monk said to another monk, “Those who are pupils of our preceptor all have great supernormal power.” He became anxious … “What were you thinking, monk?”
“I wanted to make a claim, sir.”
“There’s no offense entailing expulsion, but there’s a serious offense.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu đã nói với một vị tỳ khưu khác điều này: “Này hiền giả, các vị đệ tử sống gần của vị thầy tế độ của chúng ta, tất cả đều có đại thần lực, có đại oai lực.” Vị ấy đã có sự hối hận ... (vân vân) ... (Đức Thế Tôn hỏi:) “Này tỳ khưu, ngươi có tâm gì?” – “Bạch đức Thế Tôn, con có ý muốn khoe khoang.” – “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika; (nhưng) phạm tội thullaccaya.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu paṇidhāya caṅkamati … paṇidhāya tiṭṭhati … paṇidhāya nisīdati … paṇidhāya seyyaṁ kappeti—“evaṁ maṁ jano sambhāvessatī”ti. Taṁ jano sambhāvesi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “anāpatti, bhikkhu, pārājikassa.
Na ca, bhikkhave, paṇidhāya seyyā kappetabbā. Yo kappeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time a monk did walking meditation because he wanted people to esteem him … stood because he wanted people to esteem him … sat because he wanted people to esteem him … lay down because he wanted people to esteem him. People esteemed him. He became anxious … “There’s no offense entailing expulsion.
But, monks, you should not lie down because of a wish. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu đi kinh hành với sự ước mong ... đứng với sự ước mong ... ngồi với sự ước mong ... nằm với sự ước mong (rằng): “Làm như vậy, quần chúng sẽ tôn kính ta.” Quần chúng đã tôn kính vị ấy. Vị ấy đã có sự hối hận ... (vân vân) ... (Đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên nằm với sự ước mong. Vị nào thực hành, phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu aññatarassa bhikkhuno uttarimanussadhammaṁ ullapati. Sopi evamāha—“mayhampi, āvuso, saṁyojanā pahīnā”ti. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a monk claimed a superhuman quality to another monk, saying, “I’ve abandoned the fetters.” He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu khoe khoang pháp thượng nhân với một vị tỳ khưu khác. Vị kia cũng nói như vầy: “Này hiền giả, các kiết sử của tôi cũng đã được đoạn tận.” Vị ấy đã có sự hối hận ... (vân vân) ... (Đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu rahogato uttarimanussadhammaṁ ullapati. Paracittavidū bhikkhu taṁ bhikkhuṁ apasādesi—“mā, āvuso, evarūpaṁ abhaṇi. Nattheso tuyhan”ti. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “anāpatti, bhikkhu, pārājikassa; āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time a monk claimed a superhuman quality while in solitude. A monk who could read minds rebuked him, saying, “No, you haven’t got it.” He became anxious … “There’s no offense entailing expulsion, but there’s an offense of wrong conduct.”
224. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu ở nơi kín đáo khoe khoang pháp thượng nhân. Một vị tỳ khưu có tha tâm thông đã khiển trách vị tỳ khưu ấy: “Này hiền giả, chớ có nói lời như vậy. Điều ấy không có nơi hiền giả.” Vị ấy đã có sự hối hận ... (vân vân) ... (Đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika; (nhưng) phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu rahogato uttarimanussadhammaṁ ullapati. Devatā taṁ bhikkhuṁ apasādesi—“mā, bhante, evarūpaṁ abhaṇi. Nattheso tuyhan”ti. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “anāpatti, bhikkhu, pārājikassa; āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time a monk claimed a superhuman quality while in solitude. A god rebuked him, saying, “No, sir, you haven’t got it.” He became anxious … “There’s no offense entailing expulsion, but there’s an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu ở nơi kín đáo khoe khoang pháp thượng nhân. Một vị chư thiên đã khiển trách vị tỳ khưu ấy: “Bạch ngài, xin ngài chớ có nói lời như vậy. Điều ấy không có nơi ngài.” Vị ấy đã có sự hối hận ... (vân vân) ... (Đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika; (nhưng) phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu aññataraṁ upāsakaṁ etadavoca—“yo, āvuso, tuyhaṁ vihāre vasati so bhikkhu arahā”ti. So ca tassa vihāre vasati. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “kiṁcitto tvaṁ, bhikkhū”ti?
“Ullapanādhippāyo ahaṁ, bhagavā”ti.
“Anāpatti, bhikkhu, pārājikassa; āpatti thullaccayassā”ti.
At one time a monk said to a lay follower, “The monk living in your dwelling is a perfected one.” He was the one who lived in that dwelling. He became anxious … “What were you thinking, monk?”
“I wanted to make a claim, sir.”
“There’s no offense entailing expulsion, but there’s a serious offense.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu đã nói với một nam cư sĩ điều này: “Này hiền giả, vị tỳ khưu nào đang sống trong trú xá của hiền giả, vị tỳ khưu ấy là bậc A-la-hán.” Và chính vị ấy đang sống trong trú xá của người kia. Vị ấy đã có sự hối hận ... (vân vân) ... (Đức Thế Tôn hỏi:) “Này tỳ khưu, ngươi có tâm gì?” – “Bạch đức Thế Tôn, con có ý muốn khoe khoang.” – “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika; (nhưng) phạm tội thullaccaya.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu aññataraṁ upāsakaṁ etadavoca—“yaṁ tvaṁ, āvuso, upaṭṭhesi cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena so bhikkhu arahā”ti. So ca taṁ upaṭṭheti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “kiṁcitto tvaṁ, bhikkhū”ti?
“Ullapanādhippāyo ahaṁ, bhagavā”ti.
“Anāpatti, bhikkhu, pārājikassa; āpatti thullaccayassā”ti.
At one time a monk said to a lay follower, “The one you support with with robe-cloth, almsfood, a dwelling, and medicinal supplies, he’s a perfected one.” He was the one who was supported in that way. He became anxious … “What were you thinking, monk?”
“I wanted to make a claim, sir.”
“There’s no offense entailing expulsion, but there’s a serious offense.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu đã nói với một nam cư sĩ điều này: “Này hiền giả, vị tỳ khưu mà hiền giả hộ độ bằng y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh, vị tỳ khưu ấy là bậc A-la-hán.” Và người kia cũng đang hộ độ vị ấy bằng y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh. Vị ấy đã có sự hối hận ... (vân vân) ... (Đức Thế Tôn hỏi:) “Này tỳ khưu, ngươi có tâm gì?” – “Bạch đức Thế Tôn, con có ý muốn khoe khoang.” – “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika; (nhưng) phạm tội thullaccaya.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu gilāno hoti. Taṁ bhikkhū etadavocuṁ—“atthāyasmato uttarimanussadhammo”ti?
“Nāvuso, dukkaraṁ aññaṁ byākātun”ti.
Tassa kukkuccaṁ ahosi—“ye kho te bhagavato sāvakā te evaṁ vadeyyuṁ. Ahañcamhi na bhagavato sāvako. Kacci nu kho ahaṁ pārājikaṁ āpattiṁ āpanno”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesi. “Kiṁcitto tvaṁ, bhikkhū”ti?
“Anullapanādhippāyo ahaṁ, bhagavā”ti.
“Anāpatti, bhikkhu, anullapanādhippāyassā”ti.
At one time a monk was ill. The monks said to him, “Venerable, do you have any superhuman qualities?”
“It’s not difficult to declare final knowledge.”
He became anxious and thought, “Those who are true disciples of the Buddha may say that, but I’m no such disciple. Could it be that I’ve committed an offense entailing expulsion?” He told the Buddha. “What were you thinking, monk?”
“I didn’t intend to make a claim, sir.”
“There’s no offense for one who doesn’t intend to make a claim.”
225. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh. Các tỳ khưu đã hỏi vị ấy điều này: “Thưa hiền giả, hiền giả có pháp thượng nhân không?” – (Vị ấy đáp:) “Này các hiền giả, không khó để tuyên bố về quả vị khác.” Vị ấy đã có sự hối hận: “Những vị là đệ tử của đức Thế Tôn thì mới nên nói như vậy. Còn ta không phải là đệ tử của đức Thế Tôn. Có phải chăng ta đã phạm tội pārājika?” (Vị ấy) đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn hỏi:) “Này tỳ khưu, ngươi có tâm gì?” – “Bạch đức Thế Tôn, con không có ý muốn khoe khoang.” – “Này tỳ khưu, không phạm tội đối với người không có ý muốn khoe khoang.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu gilāno hoti. Taṁ bhikkhū etadavocuṁ—“atthāyasmato uttarimanussadhammo”ti?
“Ārādhanīyo kho, āvuso, dhammo āraddhavīriyenā”ti. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe…
“anāpatti, bhikkhu, anullapanādhippāyassā”ti.
At one time a monk was ill. The monks said to him, “Venerable, do you have any superhuman qualities?”
“Superhuman qualities are attained by those who are energetic.” He became anxious …
“There’s no offense for one who doesn’t intend to make a claim.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh. Các tỳ khưu đã hỏi vị ấy điều này: “Thưa hiền giả, hiền giả có pháp thượng nhân không?” – (Vị ấy đáp:) “Này các hiền giả, quả vậy, pháp có thể được thành tựu bởi người có tinh tấn đã được khởi xướng.” Vị ấy đã có sự hối hận ... (vân vân) ... (Đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, không phạm tội đối với người không có ý muốn khoe khoang.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu gilāno hoti. Taṁ bhikkhū etadavocuṁ—“mā kho, āvuso, bhāyī”ti.
“Nāhaṁ, āvuso, maccuno bhāyāmī”ti. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe…
“anāpatti, bhikkhu, anullapanādhippāyassā”ti.
At one time a monk was ill. The monks said to him, “Don’t be afraid.”
“I’m not afraid of death.” He became anxious …
“There’s no offense for one who doesn’t intend to make a claim.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này: “Này hiền giả, xin đừng sợ hãi.” – (Vị ấy đáp:) “Này các hiền giả, tôi không sợ hãi cái chết.” Vị ấy đã có sự hối hận ... (vân vân) ... (Đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, không phạm tội đối với người không có ý muốn khoe khoang.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu gilāno hoti. Taṁ bhikkhū etadavocuṁ—“mā kho, āvuso, bhāyī”ti.
“Yo nūnāvuso, vippaṭisārī assa so bhāyeyyā”ti. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe…
“anāpatti, bhikkhu, anullapanādhippāyassā”ti.
At one time a monk was ill. The monks said to him, “Don’t be afraid.”
“One who’s remorseful might be afraid.” He became anxious …
“There’s no offense for one who doesn’t intend to make a claim.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này: “Này hiền giả, xin đừng sợ hãi.” – (Vị ấy đáp:) “Này các hiền giả, chắc chắn người nào có sự hối tiếc thì người ấy mới nên sợ hãi.” Vị ấy đã có sự hối hận ... (vân vân) ... (Đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, không phạm tội đối với người không có ý muốn khoe khoang.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu gilāno hoti. Taṁ bhikkhū etadavocuṁ—“atthāyasmato uttarimanussadhammo”ti?
“Ārādhanīyo kho, āvuso, dhammo sammāpayuttenā”ti. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe…
“anāpatti, bhikkhu, anullapanādhippāyassā”ti.
At one time a monk was ill. The monks said to him, “Venerable, do you have any superhuman qualities?”
“Superhuman qualities are attained by those who apply themselves rightly.” He became anxious …
“There’s no offense for one who doesn’t intend to make a claim.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh. Các tỳ khưu đã hỏi vị ấy điều này: “Thưa hiền giả, hiền giả có pháp thượng nhân không?” – (Vị ấy đáp:) “Này các hiền giả, quả vậy, pháp có thể được thành tựu bởi người nỗ lực một cách đúng đắn.” Vị ấy đã có sự hối hận ... (vân vân) ... (Đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, không phạm tội đối với người không có ý muốn khoe khoang.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu gilāno hoti. Taṁ bhikkhū etadavocuṁ—“atthāyasmato uttarimanussadhammo”ti?
“Ārādhanīyo kho, āvuso, dhammo āraddhavīriyenā”ti. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe…
“anāpatti, bhikkhu, anullapanādhippāyassā”ti.
At one time a monk was ill. The monks said to him, “Venerable, do you have any superhuman qualities?”
“Superhuman qualities are attained by those who are energetic.” He became anxious …
“There’s no offense for one who doesn’t intend to make a claim.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh. Các tỳ khưu đã hỏi vị ấy điều này: “Thưa hiền giả, hiền giả có pháp thượng nhân không?” – (Vị ấy đáp:) “Này các hiền giả, quả vậy, pháp có thể được thành tựu bởi người có tinh tấn đã được khởi xướng.” Vị ấy đã có sự hối hận ... (vân vân) ... (Đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, không phạm tội đối với người không có ý muốn khoe khoang.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu gilāno hoti. Taṁ bhikkhū etadavocuṁ—“atthāyasmato uttarimanussadhammo”ti?
“Ārādhanīyo kho, āvuso, dhammo yuttayogenā”ti. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe…
“anāpatti, bhikkhu, anullapanādhippāyassā”ti.
At one time a monk was ill. The monks said to him, “Venerable, do you have any superhuman qualities?”
“Superhuman qualities are attained by those who exert themselves.” He became anxious …
“There’s no offense for one who doesn’t intend to make a claim.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh. Các tỳ khưu đã hỏi vị ấy điều này: “Thưa hiền giả, hiền giả có pháp thượng nhân không?” – (Vị ấy đáp:) “Này các hiền giả, quả vậy, pháp có thể được thành tựu bởi sự chuyên cần thích đáng.” Vị ấy đã có sự hối hận ... (vân vân) ... (Đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, không phạm tội đối với người không có ý muốn khoe khoang.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu gilāno hoti. Taṁ bhikkhū etadavocuṁ—“kaccāvuso, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyan”ti?
“Nāvuso, sakkā yena vā tena vā adhivāsetun”ti. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe…
“anāpatti, bhikkhu, anullapanādhippāyassā”ti.
At one time a monk was ill. The monks said to him, “We hope you’re bearing up? We hope you’re comfortable?”
“It’s not possible for just anyone to endure this.” He became anxious …
“There’s no offense for one who doesn’t intend to make a claim.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh. Các vị tỳ khưu đã hỏi vị ấy rằng: – ‘Này hiền hữu, có kham nhẫn được không, có chịu đựng được không?’ – ‘Này các hiền hữu, không thể chịu đựng được bởi bất cứ ai.’ Vị ấy đã có sự hối tiếc ... (như trên) ... – ‘Này tỳ khưu, không có phạm tội đối với người không có ý định khoe khoang.’
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu gilāno hoti. Taṁ bhikkhū etadavocuṁ—“kaccāvuso, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyan”ti?
“Nāvuso, sakkā puthujjanena adhivāsetun”ti. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe…
“kiṁcitto tvaṁ, bhikkhū”ti?
“Ullapanādhippāyo ahaṁ, bhagavā”ti.
“Anāpatti, bhikkhu, pārājikassa; āpatti thullaccayassā”ti.
At one time a monk was ill. The monks said to him, “We hope you’re bearing up? We hope you’re comfortable?”
“It’s not possible for an ordinary person to endure this.” He became anxious …
“What were you thinking, monk?”
“I intended to make a claim, sir.”
“There’s no offense entailing expulsion, but there’s a serious offense.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh. Các vị tỳ khưu đã hỏi vị ấy rằng: – ‘Này hiền hữu, có kham nhẫn được không, có chịu đựng được không?’ – ‘Này các hiền hữu, kẻ phàm phu không thể chịu đựng được.’ Vị ấy đã có sự hối tiếc ... (như trên) ... – ‘Này tỳ khưu, ngươi có tâm gì?’ – ‘Bạch Thế Tôn, con có ý định khoe khoang.’ – ‘Này tỳ khưu, không phạm tội bất cộng trụ; có phạm tội thâu-lan-giá.’
Tena kho pana samayena aññataro brāhmaṇo bhikkhū nimantetvā etadavoca—“āyantu bhonto arahanto”ti.
Tesaṁ kukkuccaṁ ahosi—“mayañcamha na arahanto. Ayañca brāhmaṇo amhe arahantavādena samudācarati. Kathaṁ nu kho amhehi paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anāpatti, bhikkhave, pasādabhaññe”ti.
At one time a brahmin invited the monks, saying, “Perfected sirs, please come.”
They became anxious and said, “We’re not perfected ones, and yet this brahmin speaks to us as if we are. What should we do?” They told the Buddha.
“There’s no offense when something is spoken in faith.”
226. Vào lúc bấy giờ, có một người Bà-la-môn sau khi thỉnh mời các vị tỳ khưu đã nói điều này: – ‘Xin các ngài là bậc A-la-hán hãy đến.’ Các vị ấy đã có sự hối tiếc: – ‘Chúng ta không phải là bậc A-la-hán, và người Bà-la-môn này lại xưng hô với chúng ta bằng từ ngữ dành cho bậc A-la-hán. Chúng ta nên thực hành thế nào đây?’ Họ đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, không có phạm tội trong trường hợp nói lên do lòng tín thành.’
Tena kho pana samayena aññataro brāhmaṇo bhikkhū nimantetvā etadavoca—“nisīdantu bhonto arahanto”ti … “bhuñjantu bhonto arahanto”ti … “tappentu bhonto arahanto”ti … “gacchantu, bhonto arahanto”ti.
Tesaṁ kukkuccaṁ ahosi—“mayañcamha na arahanto. Ayañca brāhmaṇo amhe arahantavādena samudācarati. Kathaṁ nu kho amhehi paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anāpatti, bhikkhave, pasādabhaññe”ti.
At one time a brahmin invited the monks, saying, “Perfected sirs, please be seated.” … “Perfected sirs, please eat.” … “Perfected sirs, please be satisfied.” … “Perfected sirs, please go.”
They became anxious and said, “We’re not perfected ones, and yet this brahmin speaks to us as if we are. What should we do?” They told the Buddha.
“There’s no offense when something is spoken in faith.”
Vào lúc bấy giờ, có một người Bà-la-môn sau khi thỉnh mời các vị tỳ khưu đã nói điều này: – ‘Xin các ngài là bậc A-la-hán hãy ngồi xuống.’ ... ‘Xin các ngài là bậc A-la-hán hãy dùng bữa.’ ... ‘Xin các ngài là bậc A-la-hán hãy được mãn nguyện.’ ... ‘Xin các ngài là bậc A-la-hán hãy ra về.’ Các vị ấy đã có sự hối tiếc: – ‘Chúng ta không phải là bậc A-la-hán, và người Bà-la-môn này lại xưng hô với chúng ta bằng từ ngữ dành cho bậc A-la-hán. Chúng ta nên thực hành thế nào đây?’ Họ đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, không có phạm tội trong trường hợp nói lên do lòng tín thành.’
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu aññatarassa bhikkhuno uttarimanussadhammaṁ ullapati. Sopi evamāha—“mayhampi, āvuso, āsavā pahīnā”ti. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a monk claimed a superhuman quality to another monk, saying, “I’ve abandoned the corruptions.” He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu khoe khoang pháp thượng nhân với một vị tỳ khưu khác. Vị kia cũng nói như vầy: – ‘Này hiền hữu, các lậu hoặc của tôi cũng đã được đoạn tận.’ Vị ấy đã có sự hối tiếc ... (như trên) ... – ‘Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội bất cộng trụ.’
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu aññatarassa bhikkhuno uttarimanussadhammaṁ ullapati. Sopi evamāha—“mayhampi, āvuso, ete dhammā saṁvijjantī”ti. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a monk claimed a superhuman quality to another monk, saying, “I have these qualities.” He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu khoe khoang pháp thượng nhân với một vị tỳ khưu khác. Vị kia cũng nói như vầy: – ‘Này hiền hữu, các pháp ấy cũng hiện hữu nơi tôi.’ Vị ấy đã có sự hối tiếc ... (như trên) ... – ‘Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội bất cộng trụ.’
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu aññatarassa bhikkhuno uttarimanussadhammaṁ ullapati. Sopi evamāha—“ahampāvuso, tesu dhammesu sandissāmī”ti. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a monk claimed a superhuman quality to another monk, saying, “I conform to these qualities.” He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu khoe khoang pháp thượng nhân với một vị tỳ khưu khác. Vị kia cũng nói như vầy: – ‘Này hiền hữu, tôi cũng được thấy ở trong các pháp ấy.’ Vị ấy đã có sự hối tiếc ... (như trên) ... – ‘Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội bất cộng trụ.’
Tena kho pana samayena aññataraṁ bhikkhuṁ ñātakā etadavocuṁ—“ehi, bhante, agāraṁ ajjhāvasā”ti.
“Abhabbo kho, āvuso, mādiso agāraṁ ajjhāvasitun”ti. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe…
“anāpatti, bhikkhu, anullapanādhippāyassā”ti.
At one time the relatives of a certain monk said to him, “Come, sir, live at home.”
“One like me is incapable of living at home.” He became anxious …
“There’s no offense for one who doesn’t intend to make a claim.”
Vào lúc bấy giờ, các người thân quyến đã nói với một vị tỳ khưu điều này: – ‘Bạch ngài, xin hãy đến, hãy sống tại gia.’ – ‘Này các hiền hữu, người như tôi quả thật không thích hợp để sống tại gia.’ Vị ấy đã có sự hối tiếc ... (như trên) ... – ‘Này tỳ khưu, không có phạm tội đối với người không có ý định khoe khoang.’
Tena kho pana samayena aññataraṁ bhikkhuṁ ñātakā etadavocuṁ—“ehi, bhante, kāme paribhuñjā”ti.
“Āvaṭā me, āvuso, kāmā”ti. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe…
“anāpatti, bhikkhu, anullapanādhippāyassā”ti.
At one time the relatives of a certain monk said to him, “Come, sir, enjoy worldly pleasures.”
“The pleasures of the world have been rejected by me.” He became anxious …
“There’s no offense for one who doesn’t intend to make a claim.”
227. Vào lúc bấy giờ, các người thân quyến đã nói với một vị tỳ khưu điều này: – ‘Bạch ngài, xin hãy đến, hãy hưởng thụ các dục.’ – ‘Này các hiền hữu, các dục đã được tôi che ngăn.’ Vị ấy đã có sự hối tiếc ... (như trên) ... – ‘Này tỳ khưu, không có phạm tội đối với người không có ý định khoe khoang.’
Tena kho pana samayena aññataraṁ bhikkhuṁ ñātakā etadavocuṁ—“abhiramasi, bhante”ti?
“Abhirato ahaṁ, āvuso, paramāya abhiratiyā”ti.
Tassa kukkuccaṁ ahosi. “Ye kho te bhagavato sāvakā te evaṁ vadeyyuṁ. Ahañcamhi na bhagavato sāvako. Kacci nu kho ahaṁ pārājikaṁ āpattiṁ āpanno”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesi.
“Kiṁcitto tvaṁ, bhikkhū”ti?
“Anullapanādhippāyo ahaṁ, bhagavā”ti.
“Anāpatti, bhikkhu, anullapanādhippāyassā”ti.
At one time the relatives of a certain monk said to him, “Come, sir, enjoy yourself.”
“I’m enjoying myself with the highest enjoyment.”
He became anxious, thinking, “Those who are true disciples of the Buddha may say that, but I’m no such disciple. Could it be that I’ve committed an offense entailing expulsion?” He told the Buddha.
“What were you thinking, monk?”
“I didn’t intend to make a claim, sir.”
“There’s no offense for one who doesn’t intend to make a claim.”
Vào lúc bấy giờ, các người thân quyến đã nói với một vị tỳ khưu điều này: – ‘Bạch ngài, ngài có hoan hỷ không?’ – ‘Này các hiền hữu, tôi hoan hỷ với sự hoan hỷ tột bậc.’ Vị ấy đã có sự hối tiếc: ‘Quả thật, những vị nào là đệ tử của đức Thế Tôn thì các vị ấy mới nên nói như vậy! Còn ta không phải là đệ tử của đức Thế Tôn. Phải chăng ta đã phạm tội bất cộng trụ?’ Vị ấy đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này tỳ khưu, ngươi có tâm gì?’ – ‘Bạch Thế Tôn, con không có ý định khoe khoang.’ – ‘Này tỳ khưu, không có phạm tội đối với người không có ý định khoe khoang.’
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū katikaṁ katvā aññatarasmiṁ āvāse vassaṁ upagacchiṁsu—“yo imamhā āvāsā paṭhamaṁ pakkamissati taṁ mayaṁ arahāti jānissāmā”ti.
Aññataro bhikkhu—“maṁ arahāti jānantū”ti, tamhā āvāsā paṭhamaṁ pakkāmi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe…
“āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a number of monks entered the rainy-season residence in a certain monastery, making this agreement: “Whoever sets out from this monastery first, we’ll know him as a perfected one.”
One of them thought, “Let them think I’m a perfected one,” and he set out first from that monastery. He became anxious …
“You’ve committed an offense entailing expulsion.”
Case studies, part 2
Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu sau khi lập giao ước đã nhập hạ ở một trú xứ nọ: – ‘Vị nào rời khỏi trú xứ này đầu tiên, chúng ta sẽ biết vị ấy là bậc A-la-hán.’ Một vị tỳ khưu nọ, với ý nghĩ: ‘Mong rằng họ biết ta là bậc A-la-hán,’ đã rời khỏi trú xứ ấy đầu tiên. Vị ấy đã có sự hối tiếc ... (như trên) ... – ‘Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội bất cộng trụ.’
Tena samayena buddho bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena āyasmā ca lakkhaṇo āyasmā ca mahāmoggallāno gijjhakūṭe pabbate viharanti. Atha kho āyasmā mahāmoggallāno pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaraṁ ādāya yenāyasmā lakkhaṇo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ lakkhaṇaṁ etadavoca—“āyāmāvuso lakkhaṇa, rājagahaṁ piṇḍāya pavisissāmā”ti.
“Evamāvuso”ti kho āyasmā lakkhaṇo āyasmato mahāmoggallānassa paccassosi.
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno gijjhakūṭā pabbatā orohanto aññatarasmiṁ padese sitaṁ pātvākāsi. Atha kho āyasmā lakkhaṇo āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca—“ko nu kho, āvuso moggallāna, hetu ko paccayo sitassa pātukammāyā”ti?
“Akālo kho, āvuso lakkhaṇa, etassa pañhassa. Bhagavato maṁ santike etaṁ pañhaṁ pucchā”ti.
Atha kho āyasmā ca lakkhaṇo āyasmā ca mahāmoggallāno rājagahe piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā lakkhaṇo āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca—
“idhāyasmā mahāmoggallāno gijjhakūṭā pabbatā orohanto aññatarasmiṁ padese sitaṁ pātvākāsi. Ko nu kho, āvuso moggallāna, hetu ko paccayo sitassa pātukammāyā”ti?
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ aṭṭhikasaṅkhalikaṁ vehāsaṁ gacchantiṁ. Tamenaṁ gijjhāpi kākāpi kulalāpi anupatitvā anupatitvā phāsuḷantarikāhi vituḍenti. Sā sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti. Tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi—‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, evarūpopi nāma satto bhavissati. Evarūpopi nāma yakkho bhavissati. Evarūpopi nāma attabhāvappaṭilābho bhavissatī’”ti.
Bhikkhū ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“uttarimanussadhammaṁ āyasmā mahāmoggallāno ullapatī”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—
“cakkhubhūtā vata, bhikkhave, sāvakā viharanti. Ñāṇabhūtā vata, bhikkhave, sāvakā viharanti. Yatra hi nāma sāvako evarūpaṁ ñassati vā dakkhati vā sakkhiṁ vā karissati. Pubbeva me so, bhikkhave, satto diṭṭho ahosi. Api cāhaṁ na byākāsiṁ. Ahañcetaṁ byākareyyaṁ pare ca me na saddaheyyuṁ. Ye me na saddaheyyuṁ tesaṁ taṁ assa dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya. Eso, bhikkhave, satto imasmiṁyeva rājagahe goghātako ahosi. So tassa kammassa vipākena bahūni vassāni bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni bahūni vassasatasahassāni niraye paccitvā tasseva kammassa vipākāvasesena evarūpaṁ attabhāvappaṭilābhaṁ paṭisaṁvedeti. Saccaṁ, bhikkhave, moggallāno āha. Anāpatti, bhikkhave, moggallānassā”ti.
At one time when the Buddha was staying at Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrel sanctuary, Venerable Lakkhaṇa and Venerable Mahāmoggallāna were staying on the Vulture Peak. One morning Mahāmoggallāna robed up, took his bowl and robe, went to Lakkhaṇa, and said, “Lakkhaṇa, let’s enter Rājagaha for almsfood.”
“Yes.”
As they descended from the Vulture Peak, Mahāmoggallāna smiled at a certain place. Lakkhaṇa asked him why, and Māhamoggallāna replied,
“This isn’t the right time to ask. Please ask me in the presence of the Buddha.”
Then, when they had eaten their meal and returned from almsround, Lakkhaṇa and Mahāmoggallāna went to the Buddha, bowed, and sat down. And Lakkhaṇa said to Mahāmoggallāna,
“Earlier on, as we were descending from the Vulture Peak, you smiled at a certain place. Why was that?”
“As I was coming down from the Vulture Peak, I saw a skeleton flying through the air. Vultures, crows, and hawks were pursuing it, striking it between the ribs, while it uttered cries of distress. And I thought how amazing and astonishing it is that such a being should exist, such a spirit, such a state of existence.”
But the monks complained and criticized him, “He’s claiming a superhuman ability!”
The Buddha then said to them:
“There are disciples who have vision and knowledge, who can know, see, and witness such things. I too, monks, have seen that being, but I didn’t speak about it. If I had, others wouldn’t have believed me, which would have led to their harm and suffering for a long time. That being was a cattle butcher right here in Rājagaha. As a result of his deeds, he was tormented in hell for many hundreds of thousands of years. And now, because of the remaining result of his actions, he’s experiencing such an existence. Moggallāna spoke truthfully. There’s no offense for Moggallāna.”
228. Vào lúc bấy giờ, Đức Phật Thế Tôn trú tại Rājagaha, trong tu viện Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Và vào lúc bấy giờ, Tôn giả Lakkhaṇa và Tôn giả Mahāmoggallāna trú ở núi Gijjhakūṭa. Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna, vào buổi sáng, sau khi đắp y, cầm y bát, đã đi đến chỗ Tôn giả Lakkhaṇa; sau khi đến, ngài nói với Tôn giả Lakkhaṇa điều này: 'Này hiền giả Lakkhaṇa, chúng ta hãy đi, chúng ta sẽ vào thành Rājagaha để khất thực.' 'Vâng, thưa hiền giả,' Tôn giả Lakkhaṇa đã đáp lại Tôn giả Mahāmoggallāna. Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna, trong khi đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, đã mỉm cười ở một nơi nọ. Bấy giờ, Tôn giả Lakkhaṇa nói với Tôn giả Mahāmoggallāna điều này: 'Này hiền giả Moggallāna, do nhân gì, do duyên gì mà ngài mỉm cười?' 'Này hiền giả Lakkhaṇa, đây không phải là lúc để trả lời câu hỏi này. Hãy hỏi ta câu hỏi này trước sự hiện diện của Đức Thế Tôn.' Rồi Tôn giả Lakkhaṇa và Tôn giả Mahāmoggallāna, sau khi đi khất thực ở Rājagaha, sau bữa ăn, trên đường từ nơi khất thực trở về, đã đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Lakkhaṇa nói với Tôn giả Mahāmoggallāna điều này: 'Ở đây, Tôn giả Mahāmoggallāna, trong khi đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, đã mỉm cười ở một nơi nọ. Này hiền giả Moggallāna, do nhân gì, do duyên gì mà ngài mỉm cười?' 'Này hiền giả, ở đây, trong khi đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tôi đã thấy một bộ xương ngạ quỷ đang đi trên hư không. Các con diều hâu, quạ, và ó đã bay theo sau, mổ xẻ nó giữa các xương sườn. Nó đã kêu lên một tiếng thống khổ. Này hiền giả, tôi đã suy nghĩ thế này: 'Ôi, thật kỳ diệu thay! Ôi, thật hy hữu thay! Lại có thể có một chúng sanh như thế này! Lại có thể có một dạ xoa như thế này! Lại có thể có một sự thành tựu thân mạng như thế này!'' Các tỳ khưu phàn nàn, chê bai, chỉ trích: 'Tôn giả Mahāmoggallāna đã khoe khoang về pháp thượng nhân.' Bấy giờ, Đức Thế Tôn gọi các tỳ khưu: 'Này các tỳ khưu, các vị thinh văn sống có mắt thấy! Này các tỳ khưu, các vị thinh văn sống có trí tuệ! Quả thật, một vị thinh văn có thể biết, có thể thấy, có thể làm chứng cho một cảnh tượng như vậy. Này các tỳ khưu, trước đây ta cũng đã thấy chúng sanh ấy. Nhưng ta đã không nói ra. Nếu ta nói ra, những người khác có thể không tin ta. Đối với những ai không tin ta, điều đó sẽ dẫn đến sự bất hạnh và đau khổ cho họ trong một thời gian dài. Này các tỳ khưu, chúng sanh này đã từng là một người đồ tể giết bò ngay tại thành Rājagaha này. Do kết quả của nghiệp đó, nó đã bị nấu trong địa ngục trong nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm. Do nghiệp quả còn sót lại của chính nghiệp đó, nó đang phải chịu đựng sự thành tựu thân mạng như thế này. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna không có phạm tội.'
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ maṁsapesiṁ vehāsaṁ gacchantiṁ. Tamenaṁ gijjhāpi kākāpi kulalāpi anupatitvā anupatitvā vitacchenti vibhajjenti. Sā sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti …pe…
eso, bhikkhave, satto imasmiṁyeva rājagahe goghātako ahosi …pe….
“As I was coming down from the Vulture Peak, I saw a lump of flesh flying through the air. Vultures, crows, and hawks were pursuing it, tearing at it and pulling it to pieces, while it uttered cries of distress. …” …
“… That being, monks, was a cattle butcher right here in Rājagaha. …”
229. Này hiền giả, ở đây, trong khi đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tôi đã thấy một ngạ quỷ hình miếng thịt đang đi trên hư không. Các con diều hâu, quạ, và ó đã bay theo sau, róc thịt, xẻ thịt nó. Nó đã kêu lên một tiếng thống khổ... Này các tỳ khưu, chúng sanh này đã từng là một người đồ tể giết bò ngay tại thành Rājagaha này...
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ maṁsapiṇḍaṁ vehāsaṁ gacchantaṁ. Tamenaṁ gijjhāpi kākāpi kulalāpi anupatitvā anupatitvā vitacchenti vibhajjenti. So sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti …pe…
eso, bhikkhave, satto imasmiṁyeva rājagahe sākuṇiko ahosi …pe….
“As I was coming down from the Vulture Peak, I saw a morsel of flesh flying through the air. Vultures, crows, and hawks were pursuing it, tearing at it and pulling it to pieces, while it uttered cries of distress. …” …
“… That being, monks, was a poultry butcher right here in Rājagaha. …”
Này hiền giả, ở đây, trong khi đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tôi đã thấy một ngạ quỷ hình tảng thịt đang đi trên hư không. Các con diều hâu, quạ, và ó đã bay theo sau, róc thịt, xẻ thịt nó. Nó đã kêu lên một tiếng thống khổ... Này các tỳ khưu, chúng sanh này đã từng là một người săn chim ngay tại thành Rājagaha này...
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ nicchaviṁ purisaṁ vehāsaṁ gacchantaṁ. Tamenaṁ gijjhāpi kākāpi kulalāpi anupatitvā anupatitvā vitacchenti vibhajjenti. So sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti …pe…
eso, bhikkhave, satto imasmiṁyeva rājagahe orabbhiko ahosi …pe….
“As I was coming down from the Vulture Peak, I saw a flayed man flying through the air. Vultures, crows, and hawks were pursuing him, tearing at him and pulling him to pieces, while he uttered cries of distress. …” …
“… That being, monks, was a sheep butcher right here in Rājagaha. …”
Này hiền giả, ở đây, trong khi đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tôi đã thấy một người đàn ông không da đang đi trên hư không. Các con diều hâu, quạ, và ó đã bay theo sau, róc thịt, xẻ thịt nó. Nó đã kêu lên một tiếng thống khổ... Này các tỳ khưu, chúng sanh này đã từng là một người đồ tể giết cừu ngay tại thành Rājagaha này...
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ asilomaṁ purisaṁ vehāsaṁ gacchantaṁ. Tassa te asī uppatitvā uppatitvā tasseva kāye nipatanti. So sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti …pe…
eso, bhikkhave, satto imasmiṁyeva rājagahe sūkariko ahosi …pe….
“As I was coming down from the Vulture Peak, I saw a man with swords for body hairs flying through the air. Again and again he was stabbed by those swords, while uttering cries of distress. …” …
“… That being, monks, was a pig butcher right here in Rājagaha. …”
Này hiền giả, ở đây, trong khi đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tôi đã thấy một người đàn ông có lông là gươm đang đi trên hư không. Những thanh gươm của người ấy bay lên rồi lại rơi xuống chính thân thể của người ấy. Nó đã kêu lên một tiếng thống khổ... Này các tỳ khưu, chúng sanh này đã từng là một người đồ tể giết heo ngay tại thành Rājagaha này...
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ sattilomaṁ purisaṁ vehāsaṁ gacchantaṁ. Tassa tā sattiyo uppatitvā uppatitvā tasseva kāye nipatanti. So sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti …pe…
eso, bhikkhave, satto imasmiṁyeva rājagahe māgaviko ahosi …pe….
“As I was coming down from the Vulture Peak, I saw a man with knives for body hairs flying through the air. Again and again he was stabbed by those knives, while uttering cries of distress. …” …
“… That being, monks, was a deer hunter right here in Rājagaha. …”
Này hiền giả, ở đây, trong khi đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tôi đã thấy một người đàn ông có lông là giáo đang đi trên hư không. Những cây giáo của người ấy bay lên rồi lại rơi xuống chính thân thể của người ấy. Nó đã kêu lên một tiếng thống khổ... Này các tỳ khưu, chúng sanh này đã từng là một người thợ săn ngay tại thành Rājagaha này...
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ usulomaṁ purisaṁ vehāsaṁ gacchantaṁ. Tassa te usū uppatitvā uppatitvā tasseva kāye nipatanti. So sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti …pe…
eso, bhikkhave, satto imasmiṁyeva rājagahe kāraṇiko ahosi …pe….
“As I was coming down from the Vulture Peak, I saw a man with arrows for body hairs flying through the air. Again and again he was pierced by those arrows, while uttering cries of distress. …” …
“… That being, monks, was a torturer right here in Rājagaha. …”
Này hiền giả, ở đây, trong khi đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tôi đã thấy một người đàn ông có lông là mũi tên đang đi trên hư không. Những mũi tên của người ấy bay lên rồi lại rơi xuống chính thân thể của người ấy. Nó đã kêu lên một tiếng thống khổ... Này các tỳ khưu, chúng sanh này đã từng là một đao phủ ngay tại thành Rājagaha này...
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ sūcilomaṁ purisaṁ vehāsaṁ gacchantaṁ. Tassa tā sūciyo uppatitvā uppatitvā tasseva kāye nipatanti. So sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti …pe…
eso, bhikkhave, satto imasmiṁyeva rājagahe sārathiko ahosi …pe….
“As I was coming down from the Vulture Peak, I saw a man with needles for body hairs flying through the air. Again and again he was pierced by those needles, while uttering cries of distress. …” …
“… That being, monks, was a horse trainer right here in Rājagaha. …”
“Này chư hiền, ở đây, khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tôi đã thấy một người đàn ông có lông bằng kim đang bay trên hư không. Những cây kim ấy bay lên rồi lại rơi xuống chính thân thể của người ấy. Người ấy la hét đau đớn... Này các tỳ khưu, chúng sanh này đã từng là người đánh xe ở tại thành Rājagaha này...”
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ sūcilomaṁ purisaṁ vehāsaṁ gacchantaṁ. Tassa tā sūciyo sīse pavisitvā mukhato nikkhamanti; mukhe pavisitvā urato nikkhamanti; ure pavisitvā udarato nikkhamanti; udare pavisitvā ūrūhi nikkhamanti; ūrūsu pavisitvā jaṅghāhi nikkhamanti; jaṅghāsu pavisitvā pādehi nikkhamanti. So sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti …pe…
eso, bhikkhave, satto imasmiṁyeva rājagahe sūcako ahosi …pe….
“As I was coming down from the Vulture Peak, I saw a man with needles for body hairs flying through the air. Those needles entered his head and came out through his mouth, entered his mouth and came out through his breast, entered his breast and came out through his stomach, entered his stomach and came out through his thighs, entered his thighs and came out through his calves, entered his calves and came out through his feet, as he uttered cries of distress. …” …
“… That being, monks, was a slanderer right here in Rājagaha. …”
“Này chư hiền, ở đây, khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tôi đã thấy một người đàn ông có lông bằng kim đang bay trên hư không. Những cây kim ấy đi vào đầu rồi đi ra miệng; đi vào miệng rồi đi ra ngực; đi vào ngực rồi đi ra bụng; đi vào bụng rồi đi ra đùi; đi vào đùi rồi đi ra cẳng chân; đi vào cẳng chân rồi đi ra bàn chân. Người ấy la hét đau đớn... Này các tỳ khưu, chúng sanh này đã từng là người nói đâm thọc ở tại thành Rājagaha này...”
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ kumbhaṇḍaṁ purisaṁ vehāsaṁ gacchantaṁ. So gacchantopi teva aṇḍe khandhe āropetvā gacchati, nisīdantopi tesveva aṇḍesu nisīdati. Tamenaṁ gijjhāpi kākāpi kulalāpi anupatitvā anupatitvā vitacchenti vibhajjenti. So sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti …pe…
eso, bhikkhave, satto imasmiṁyeva rājagahe gāmakūṭo ahosi …pe….
“As I was coming down from the Vulture Peak, I saw a man flying through the air with testicles like pots. When he moved, he lifted his testicles onto his shoulders; when he sat down, he sat on top of his testicles. Vultures, crows, and hawks were pursuing him, tearing at him and pulling him to pieces, while he uttered cries of distress. …” …
“… That being, monks, was a corrupt magistrate right here in Rājagaha. …”
“Này chư hiền, ở đây, khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tôi đã thấy một người đàn ông có tinh hoàn to như cái nồi đang bay trên hư không. Khi đi, người ấy vác chính tinh hoàn của mình trên vai mà đi; khi ngồi, người ấy cũng ngồi trên chính tinh hoàn của mình. Các con diều hâu, quạ, và ó theo sau, mổ xẻ và rỉa rói người ấy. Người ấy la hét đau đớn... Này các tỳ khưu, chúng sanh này đã từng là một vị quan làng bất lương ở tại thành Rājagaha này...”
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ purisaṁ gūthakūpe sasīsakaṁ nimuggaṁ …pe…
eso, bhikkhave, satto imasmiṁyeva rājagahe pāradāriko ahosi …pe….
“As I was coming down from the Vulture Peak, I saw a man submerged in a cesspit …” …
“… That being, monks, was an adulterer right here in Rājagaha. …”
“Này chư hiền, ở đây, khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tôi đã thấy một người đàn ông bị nhận chìm cả đầu vào trong hố phân... Này các tỳ khưu, chúng sanh này đã từng là người ngoại tình ở tại thành Rājagaha này...”
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ purisaṁ gūthakūpe sasīsakaṁ nimuggaṁ ubhohi hatthehi gūthaṁ khādantaṁ …pe…
eso, bhikkhave, satto imasmiṁyeva rājagahe duṭṭhabrāhmaṇo ahosi. So kassapassa sammāsambuddhassa pāvacane bhikkhusaṅghaṁ bhattena nimantetvā doṇiyo gūthassa pūrāpetvā kālaṁ ārocāpetvā etadavoca—‘ato, bhonto, yāvadatthaṁ bhuñjantu ceva harantu cā’”ti …pe….
“As I was coming down from the Vulture Peak, I saw a man submerged in a cesspit, eating feces with both hands …” …
“… That being, monks, was a wicked brahmin right here in Rājagaha. At the time of Kassapa, the fully Awakened One, he had invited the Sangha of monks to a meal. He filled a trough with feces, had them informed that the meal was ready, and said, ‘Sirs, eat as much as you like and take the leftovers with you.’ …”
“Này chư hiền, ở đây, khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tôi đã thấy một người đàn ông bị nhận chìm cả đầu vào trong hố phân, đang dùng cả hai tay bốc phân ăn... Này các tỳ khưu, chúng sanh này đã từng là một bà-la-môn xấu xa ở tại thành Rājagaha này. Người ấy, trong giáo pháp của đức Chánh Đẳng Giác Kassapa, đã mời chúng Tỳ khưu đến dùng bữa, rồi cho đổ đầy phân vào các máng, và sau khi cho báo giờ, đã nói rằng: ‘Thưa các ngài, từ đây, xin hãy ăn và mang đi tùy thích.’”
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ nicchaviṁ itthiṁ vehāsaṁ gacchantiṁ. Tamenaṁ gijjhāpi kākāpi kulalāpi anupatitvā anupatitvā vitacchenti vibhajjenti. Sā sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti …pe…
esā, bhikkhave, itthī imasmiṁyeva rājagahe aticārinī ahosi …pe….
“As I was coming down from the Vulture Peak, I saw a flayed woman flying through the air. Vultures, crows, and hawks were pursuing her, tearing at her and pulling her to pieces, while she uttered cries of distress. …” …
“… That woman, monks, was an adulteress right here in Rājagaha. …”
230. “Này chư hiền, ở đây, khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tôi đã thấy một người nữ không có da đang bay trên hư không. Các con diều hâu, quạ, và ó theo sau, mổ xẻ và rỉa rói người nữ ấy. Người nữ ấy la hét đau đớn... Này các tỳ khưu, người nữ này đã từng là một người vợ ngoại tình ở tại thành Rājagaha này...”
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ itthiṁ duggandhaṁ maṅguliṁ vehāsaṁ gacchantiṁ. Tamenaṁ gijjhāpi kākāpi kulalāpi anupatitvā anupatitvā vitacchenti vibhajjenti. Sā sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti …pe…
esā, bhikkhave, itthī imasmiṁyeva rājagahe ikkhaṇikā ahosi …pe….
“As I was coming down from the Vulture Peak, I saw a foul-smelling and ugly woman flying through the air. Vultures, crows, and hawks were pursuing her, tearing at her and pulling her to pieces, while she uttered cries of distress. …” …
“… That woman, monks, was a fortune-teller right here in Rājagaha. …”
“Này chư hiền, ở đây, khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tôi đã thấy một người nữ hôi thối, xấu xí đang bay trên hư không. Các con diều hâu, quạ, và ó theo sau, mổ xẻ và rỉa rói người nữ ấy. Người nữ ấy la hét đau đớn... Này các tỳ khưu, người nữ này đã từng là một bà đồng cốt ở tại thành Rājagaha này...”
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ itthiṁ uppakkaṁ okiliniṁ okiriniṁ vehāsaṁ gacchantiṁ. Sā sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti …pe…
esā, bhikkhave, itthī kāliṅgassa rañño aggamahesī ahosi. Sā issāpakatā sapattiṁ aṅgārakaṭāhena okiri …pe….
“As I was coming down from the Vulture Peak, I saw a woman flying through the air, roasting, sweltering, and sooty. Vultures, crows, and hawks were pursuing her, tearing at her and pulling her to pieces, while she uttered cries of distress. …” …
“… That woman, monks, was the chief queen of the king of Kāliṅga. Overcome by jealousy, she poured a pan of burning coals over a rival. …”
“Này chư hiền, ở đây, khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tôi đã thấy một người nữ bị cháy nám, thân thể rỉ mủ và bị than hồng bao phủ, đang bay trên hư không. Người nữ ấy la hét đau đớn... Này các tỳ khưu, người nữ này đã từng là hoàng hậu của vua xứ Kāliṅga. Do lòng ganh tỵ, bà ta đã đổ chảo than hồng lên người vợ bé...”
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ asīsakaṁ kabandhaṁ vehāsaṁ gacchantaṁ. Tassa ure akkhīni ceva honti mukhañca. Tamenaṁ gijjhāpi kākāpi kulalāpi anupatitvā anupatitvā vitacchenti vibhajjenti. So sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti …pe…
eso, bhikkhave, satto imasmiṁyeva rājagahe hāriko nāma coraghātako ahosi …pe….
“As I was coming down from the Vulture Peak, I saw the headless trunk of a body flying through the air, with eyes and mouth on its chest. Vultures, crows, and hawks were pursuing it, tearing at it and pulling it to pieces, while it uttered cries of distress. …” …
“… That being, monks, was an executioner called Hārika right here in Rājagaha. …”
“Này chư hiền, ở đây, khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tôi đã thấy một thân người không đầu đang bay trên hư không. Mắt và miệng của nó nằm ở trên ngực. Các con diều hâu, quạ, và ó theo sau, mổ xẻ và rỉa rói nó. Nó la hét đau đớn... Này các tỳ khưu, chúng sanh này đã từng là một đao phủ tên là Hārika ở tại thành Rājagaha này...”
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ bhikkhuṁ vehāsaṁ gacchantaṁ. Tassa saṅghāṭipi ādittā sampajjalitā sajotibhūtā, pattopi āditto sampajjalito sajotibhūto, kāyabandhanampi ādittaṁ sampajjalitaṁ sajotibhūtaṁ, kāyopi āditto sampajjalito sajotibhūto. So sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti …pe…
eso, bhikkhave, bhikkhu kassapassa sammāsambuddhassa pāvacane pāpabhikkhu ahosi …pe….
“As I was coming down from the Vulture Peak, I saw a monk flying through the air. His outer robe was ablaze and burning, as were his bowl, belt, and body. He uttered cries of distress. …” …
“… During the time of the Buddha Kassapa’s dispensation, he was a bad monk.” …
“Này chư hiền, ở đây, khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tôi đã thấy một vị tỳ khưu đang bay trên hư không. Tăng-già-lê, bát, dây lưng, và thân thể của vị ấy đều bốc cháy, rực lửa, và sáng chói. Vị ấy la hét đau đớn... Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này đã từng là một tỳ khưu xấu ác trong giáo pháp của đức Chánh Đẳng Giác Kassapa...”
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ bhikkhuniṁ … addasaṁ sikkhamānaṁ … addasaṁ sāmaṇeraṁ … addasaṁ sāmaṇeriṁ vehāsaṁ gacchantiṁ. Tassā saṅghāṭipi ādittā sampajjalitā sajotibhūtā, pattopi āditto sampajjalito sajotibhūto, kāyabandhanampi ādittaṁ sampajjalitaṁ sajotibhūtaṁ, kāyopi āditto sampajjalito sajotibhūto. Sā sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti. Tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi—‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, evarūpopi nāma satto bhavissati. Evarūpopi nāma yakkho bhavissati. Evarūpopi nāma attabhāvappaṭilābho bhavissatī’”ti.
Bhikkhū ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“uttarimanussadhammaṁ āyasmā mahāmoggallāno ullapatī”ti.
“As I was coming down from the Vulture Peak, I saw a nun … I saw a trainee nun … I saw a novice monk … I saw a novice nun flying through the air. Her outer robe was ablaze and burning, as were her bowl, belt, and body. She uttered cries of distress. And I thought how amazing and astonishing it is that such a being should exist, such a spirit, such a state of existence.”
But the monks complained and criticized him, “He’s claiming a superhuman ability!”
“Này chư hiền, ở đây, khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tôi đã thấy một vị tỳ khưu ni... tôi đã thấy một vị thức-xoa-ma-na... tôi đã thấy một vị sa-di... tôi đã thấy một vị sa-di-ni đang bay trên hư không. Tăng-già-lê, bát, dây lưng, và thân thể của vị ấy đều bốc cháy, rực lửa, và sáng chói. Vị ấy la hét đau đớn. Này chư hiền, khi ấy tôi đã suy nghĩ rằng: ‘Thật kỳ diệu thay, chư hiền! Thật hy hữu thay, chư hiền! Lại có thể có một chúng sanh như thế này! Lại có thể có một dạ-xoa như thế này! Lại có thể có một sự hiện hữu cá thể như thế này!’ Các tỳ khưu đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: ‘Tôn giả Mahāmoggallāna đang khoe khoang về pháp thượng nhân.’”
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—
“cakkhubhūtā vata, bhikkhave, sāvakā viharanti. Ñāṇabhūtā vata, bhikkhave, sāvakā viharanti. Yatra hi nāma sāvako evarūpaṁ ñassati vā dakkhati vā sakkhiṁ vā karissati. Pubbeva me sā, bhikkhave, sāmaṇerī diṭṭhā ahosi. Api cāhaṁ na byākāsiṁ. Ahañcetaṁ byākareyyaṁ pare ca me na saddaheyyuṁ. Ye me na saddaheyyuṁ tesaṁ taṁ assa dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya. Esā, bhikkhave, sāmaṇerī kassapassa sammāsambuddhassa pāvacane pāpasāmaṇerī ahosi. Sā tassa kammassa vipākena bahūni vassāni bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni bahūni vassasatasahassāni niraye paccitvā tasseva kammassa vipākāvasesena evarūpaṁ attabhāvappaṭilābhaṁ paṭisaṁvedeti. Saccaṁ, bhikkhave, moggallāno āha. Anāpatti, bhikkhave, moggallānassā”ti.
The Buddha then said to them:
“There are disciples who have vision and knowledge, who can know, see, and witness such things. I too, monks, have seen that novice nun, but I didn’t speak about it. If I had, others wouldn’t have believed me, which would have led to their harm and suffering for a long time. During the time of Buddha Kassapa’s dispensation, she was a bad novice nun. As a result of her deeds, she was tormented in hell for many hundreds of thousands of years. And now, because of the remaining result of her actions, she’s experiencing such an existence. Moggallāna spoke truthfully. There’s no offense for Moggallāna.”
Khi ấy, đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu và dạy rằng: – Này các tỳ khưu, thật vậy, các vị đệ tử đang sống như là có mắt. Này các tỳ khưu, thật vậy, các vị đệ tử đang sống như là có trí tuệ. Bởi vì sao? Vị đệ tử có thể biết được, có thể thấy được, hoặc có thể làm chứng cho sự việc như thế này! Này các tỳ khưu, trước đây Như Lai đã từng thấy nữ sa-di ni ấy. Tuy nhiên, Như Lai đã không nói ra. Nếu Như Lai nói ra điều ấy thì những người khác đã không tin lời của Như Lai. Việc không tin lời của Như Lai ấy sẽ là sự bất hạnh, sự đau khổ lâu dài cho những người ấy. Này các tỳ khưu, nữ sa-di ni này đã là một nữ sa-di ni xấu ác trong giáo pháp của đức Chánh Đẳng Giác Kassapa. Do kết quả của nghiệp ấy, vị ấy đã bị nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm. Do quả báo còn sót lại của chính nghiệp ấy, vị ấy đang phải gánh chịu sự thành tựu thân thể như thế này. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna không có tội.
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno bhikkhū āmantesi—“yatāyaṁ, āvuso, tapodā sandati so daho acchodako sītodako sātodako setako suppatittho ramaṇīyo pahūtamacchakacchapo cakkamattāni ca padumāni pupphantī”ti.
Bhikkhū ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma āyasmā mahāmoggallāno evaṁ vakkhati—‘yatāyaṁ, āvuso, tapodā sandati so daho acchodako sītodako sātodako setako suppatittho ramaṇīyo pahūtamacchakacchapo cakkamattāni ca padumāni pupphantī’ti. Atha ca panāyaṁ tapodā kuthitā sandati. Uttarimanussadhammaṁ āyasmā mahāmoggallāno ullapatī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Yatāyaṁ, bhikkhave, tapodā sandati so daho acchodako sītodako sātodako setako suppatittho ramaṇīyo pahūtamacchakacchapo cakkamattāni ca padumāni pupphanti. Api cāyaṁ, bhikkhave, tapodā dvinnaṁ mahānirayānaṁ antarikāya āgacchati. Tenāyaṁ tapodā kuthitā sandati. Saccaṁ, bhikkhave, moggallāno āha. Anāpatti, bhikkhave, moggallānassā”ti.
Venerable Mahāmoggallāna said to the monks, “This stream, the Tapodā, flows from a lake with clear water—cool, sweet, and pure—with smooth and pleasant banks, with an abundance of fish and turtles, and with blooming lotuses the size of wheels.”
The monks complained and criticized him, “How can Venerable Mahāmoggallāna talk like this when the Tapodā is actually hot? He’s claiming a superhuman ability!” And they told the Buddha.
“Monks, the Tapodā does flow from a lake with clear water—cool, sweet, and pure—with smooth and pleasant banks, with an abundance of fish and turtles, and with blooming lotuses the size of wheels. But the Tapodā runs between two great hells. That’s why it’s hot. Moggallāna spoke truthfully. There’s no offense for Moggallāna.”
231. Khi ấy, đại đức Mahāmoggallāna gọi các vị tỳ khưu và nói rằng: – Này chư hiền, hồ nước là nơi mà dòng sông Tapodā này chảy ra có nước trong, nước mát, nước ngọt, nước tinh khiết, có bến tốt, khả ái, có nhiều cá và rùa, và có các hoa sen nở lớn bằng bánh xe. Các vị tỳ khưu đã chỉ trích, phàn nàn, và chê bai rằng: – Tại sao đại đức Mahāmoggallāna lại nói như vầy: ‘Này chư hiền, hồ nước là nơi mà dòng sông Tapodā này chảy ra có nước trong, nước mát, nước ngọt, nước tinh khiết, có bến tốt, khả ái, có nhiều cá và rùa, và có các hoa sen nở lớn bằng bánh xe.’ Trong khi đó, dòng sông Tapodā này chảy ra lại đang sôi sục. Đại đức Mahāmoggallāna đã khoe khoang về pháp thượng nhân. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, hồ nước là nơi mà dòng sông Tapodā này chảy ra có nước trong, nước mát, nước ngọt, nước tinh khiết, có bến tốt, khả ái, có nhiều cá và rùa, và có các hoa sen nở lớn bằng bánh xe. Tuy nhiên, này các tỳ khưu, dòng sông Tapodā này chảy đến từ khoảng giữa của hai đại địa ngục. Do đó, dòng sông Tapodā này chảy ra và đang sôi sục. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna không có tội.
Tena kho pana samayena rājā māgadho seniyo bimbisāro licchavīhi saddhiṁ saṅgāmento pabhaggo ahosi. Atha rājā pacchā senaṁ saṅkaḍḍhitvā licchavayo parājesi. Saṅgāme ca nandī carati—“raññā licchavī pabhaggā”ti.
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno bhikkhū āmantesi—“rājā, āvuso, licchavīhi pabhaggo”ti.
Bhikkhū ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma āyasmā mahāmoggallāno evaṁ vakkhati—‘rājā, āvuso, licchavīhi pabhaggo’ti. Saṅgāme ca nandī carati—‘raññā licchavī pabhaggā’ti. Uttarimanussadhammaṁ āyasmā mahāmoggallāno ullapatī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Paṭhamaṁ, bhikkhave, rājā licchavīhi pabhaggo. Atha rājā pacchā senaṁ saṅkaḍḍhitvā licchavayo parājesi. Saccaṁ, bhikkhave, moggallāno āha. Anāpatti, bhikkhave, moggallānassā”ti.
At one time King Seniya Bimbisāra of Magadha was defeated in battle by the Licchavīs. The king then rallied his army and beat the Licchavīs. People were delighted and the word spread that the Licchavīs had been defeated by the king.
But Venerable Mahāmoggallāna said to the monks, “The king was defeated by the Licchavīs.”
The monks complained and criticized him, “How can Venerable Moggallāna talk like this when people are delighted and the word is spreading that the Licchavīs have been defeated by the king? He’s claiming a superhuman ability!” They told the Buddha.
“Monks, first the king was defeated by the Licchavīs, but then he rallied his army and beat them. Moggallāna spoke truthfully. There’s no offense for Moggallāna.”
Vào lúc bấy giờ, vua Bimbisāra Seniya xứ Māgadha đã bị thất trận trong khi giao chiến với dòng họ Licchavi. Sau đó, nhà vua đã tập hợp lại quân đội và đã đánh bại dòng họ Licchavi. Và ở chiến trường, tiếng reo hò chiến thắng được vang lên rằng: ‘Dòng họ Licchavi đã bị nhà vua đánh bại.’ Khi ấy, đại đức Mahāmoggallāna gọi các vị tỳ khưu và nói rằng: – Này chư hiền, nhà vua đã bị dòng họ Licchavi đánh bại. Các vị tỳ khưu đã chỉ trích, phàn nàn, và chê bai rằng: – Tại sao đại đức Mahāmoggallāna lại nói như vầy: ‘Này chư hiền, nhà vua đã bị dòng họ Licchavi đánh bại!’ Trong khi ở chiến trường, tiếng reo hò chiến thắng được vang lên rằng: ‘Dòng họ Licchavi đã bị nhà vua đánh bại!’ Đại đức Mahāmoggallāna đã khoe khoang về pháp thượng nhân. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, ban đầu nhà vua đã bị dòng họ Licchavi đánh bại. Sau đó, nhà vua đã tập hợp lại quân đội và đã đánh bại dòng họ Licchavi. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna không có tội.
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno bhikkhū āmantesi—“idhāhaṁ, āvuso, sappinikāya nadiyā tīre āneñjaṁ samādhiṁ samāpanno nāgānaṁ ogayha uttarantānaṁ koñcaṁ karontānaṁ saddaṁ assosin”ti.
Bhikkhū ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma āyasmā mahāmoggallāno āneñjaṁ samādhiṁ samāpanno saddaṁ sossati. Uttarimanussadhammaṁ āyasmā mahāmoggallāno ullapatī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Attheso, bhikkhave, samādhi so ca kho aparisuddho. Saccaṁ, bhikkhave, moggallāno āha. Anāpatti, bhikkhave, moggallānassā”ti.
Venerable Mahāmoggallāna said to the monks, “After attaining an unshakable stillness on the banks of the river Sappinikā, I heard the sound of elephants plunging in and emerging from the water, and trumpeting too.”
The monks complained and criticized him, “How can Venerable Mahāmoggallāna talk like this? He’s claiming a superhuman ability!” They told the Buddha.
“Monks, there is such a stillness, but it’s not wholly purified. Moggallāna spoke truthfully. There’s no offense for Moggallāna.”
232. Khi ấy, đại đức Mahāmoggallāna gọi các vị tỳ khưu và nói rằng: – Này chư hiền, ở tại đây, trong khi đang nhập định bất động ở bờ sông Sappinikā, tôi đã nghe được tiếng của các con voi đang rống lên như tiếng chim hạc trong khi chúng đi xuống và đi lên khỏi mặt nước. Các vị tỳ khưu đã chỉ trích, phàn nàn, và chê bai rằng: – Tại sao đại đức Mahāmoggallāna lại có thể nghe được âm thanh trong khi đang nhập định bất động! Đại đức Mahāmoggallāna đã khoe khoang về pháp thượng nhân. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, có loại định ấy, nhưng nó không được trong sạch. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna không có tội.
Atha kho āyasmā sobhito bhikkhū āmantesi—“ahaṁ, āvuso, pañca kappasatāni anussarāmī”ti.
Bhikkhū ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma āyasmā sobhito evaṁ vakkhati—‘ahaṁ, āvuso, pañca kappasatāni anussarāmī’ti. Uttarimanussadhammaṁ āyasmā sobhito ullapatī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Atthesā, bhikkhave, sobhitassa. Sā ca kho ekāyeva jāti. Saccaṁ, bhikkhave, sobhito āha. Anāpatti, bhikkhave, sobhitassā”ti.
Venerable Sobhita said to the monks, “I can recall five hundred eons.”
The monks complained and criticized him, “How can Venerable Sobhita talk like this? He’s claiming a superhuman ability!” They told the Buddha.
“Monks, Sobhita has this ability, and that was just one birth. Sobhita spoke truthfully. There’s no offense for Sobhita.”
Khi ấy, đại đức Sobhita gọi các vị tỳ khưu và nói rằng: – Này chư hiền, tôi nhớ lại được năm trăm kiếp. Các vị tỳ khưu đã chỉ trích, phàn nàn, và chê bai rằng: – Tại sao đại đức Sobhita lại nói như vầy: ‘Này chư hiền, tôi nhớ lại được năm trăm kiếp!’ Đại đức Sobhita đã khoe khoang về pháp thượng nhân. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Sobhita có khả năng ấy. Và đó chỉ là một kiếp sống duy nhất. Này các tỳ khưu, Sobhita đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Sobhita không có tội.
Catutthapārājikaṁ samattaṁ.
The fourth offense entailing expulsion is finished.
Điều Pārājika thứ tư đã hoàn tất.
Uddiṭṭhā kho āyasmanto cattāro pārājikā dhammā, yesaṁ bhikkhu aññataraṁ vā aññataraṁ vā āpajjitvā na labhati bhikkhūhi saddhiṁ saṁvāsaṁ, yathā pure tathā pacchā, pārājiko hoti asaṁvāso. Tatthāyasmante pucchāmi—“kaccittha parisuddhā”? Dutiyampi pucchāmi—“kaccittha parisuddhā”? Tatiyampi pucchāmi—“kaccittha parisuddhā”? Parisuddhetthāyasmanto, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmīti.
“Venerables, the four rules on expulsion have been recited. If a monk commits any one of them, he is no longer part of the community of monks. As before, so after: he’s expelled and excluded from the community. In regard to this I ask you, ‘Are you pure in this?’ A second time I ask, ‘Are you pure in this?’ A third time I ask, ‘Are you pure in this?’ You are pure in this and therefore silent. I will remember it thus.”
233. Thưa chư đại đức, bốn pháp pārājika đã được tụng đọc. Vị tỳ khưu nào phạm vào một trong những pháp ấy thì không được sống chung với các vị tỳ khưu, trước kia thế nào thì sau này cũng vậy, vị ấy là người phạm pārājika, không được sống chung. Về vấn đề ấy, tôi xin hỏi chư đại đức: ‘Có phải quý vị trong sạch không?’ Lần thứ hai, tôi cũng hỏi: ‘Có phải quý vị trong sạch không?’ Lần thứ ba, tôi cũng hỏi: ‘Có phải quý vị trong sạch không?’ Chư đại đức trong sạch trong vấn đề này, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận điều này là như vậy.
Pārājikaṁ niṭṭhitaṁ.
Tassuddānaṁ
The offenses entailing expulsion are finished.
This is the summary:
Phần Pārājika đã chấm dứt.
Methunādinnādānañca, manussaviggahuttari; Pārājikāni cattāri, chejjavatthū asaṁsayāti.
Pārājikakaṇḍaṁ niṭṭhitaṁ.
“Sexual intercourse, and stealing, Person, super—The four offenses entailing expulsion, Definitive grounds for cutting off.”
The chapter on offenses entailing expulsion is finished.
Hành dâm, trộm cắp, giết người, và pháp thượng nhân; Bốn pháp pārājika này là những trường hợp bị cắt lìa, không còn nghi ngờ.