- Theravāda Vinaya
- Mahāvibhaṅga
- Pāṭidesanīyakaṇḍa
Bản dịch
Bu Vb Pd 4 — Ba-la-đề-đề-xá-ni 4
4. Catutthapāṭidesanīyasikkhāpada
Inda-bh 1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự giữa dân chúng dòng Sakya, trong thành Kapilavatthu, tu viện Nigrodha. Vào lúc bấy giờ, các nô lệ của dòng Sakya nổi loạn. Các người nữ dòng Sakya muốn làm bữa trai phạn ở những chỗ trú ngụ trong rừng. Các nô lệ của dòng Sakya đã nghe được rằng: “Nghe nói các người nữ dòng Sakya có ý định làm bữa trai phạn ở những chỗ trú ngụ trong rừng.” Chúng đã canh giữ các con đường. Các người nữ dòng Sakya đã mang thực phẩm thượng hạng loại cứng loại mềm đi đến chỗ trú ngụ ở trong rừng. Các nô lệ của dòng Sakya đã xuất hiện, cướp bóc, và làm nhục các người nữ dòng Sakya. Những người dòng Sakya đã xuất hiện bắt giữ bọn cướp cùng với các đồ đạc rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các ngài đại đức không thông báo về bọn cướp đang ẩn náu trong tu viện?” Các tỳ khưu đã nghe được những người dòng Sakya phàn nàn, phê phán, chê bai. … (như trên) … Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, như thế thì ta sẽ quy định điều học cho các tỳ khưu vì mười điều lợi ích: Nhằm đem lại sự tốt đẹp cho hội chúng, nhằm đem lại sự an lạc cho hội chúng, … (như trên) … nhằm sự tồn tại của Chánh Pháp, và nhằm sự hỗ trợ Luật. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Trường hợp những chỗ trú ngụ ở trong rừng được xác định là có sự nguy hiểm, có sự kinh hoàng, vị tỳ khưu nào trong khi đang sống ở những chỗ trú ngụ có hình thức như thế, sau khi tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm chưa được báo tin trước ở trong khuôn viên tu viện, rồi nhai hoặc ăn, thì vị tỳ khưu ấy nên thú nhận rằng: ‘Bạch chư đại đức, tôi đã vi phạm tội đáng chê trách, không có lợi ích, cần phải thú nhận; tôi xin thú nhận tội ấy.’”
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
Inda-bh 3Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ ở những chỗ trú ngụ trong rừng bị bệnh. Dân chúng mang vật thực cứng vật thực mềm đi đến chỗ trú ngụ trong rừng. Khi ấy, những người ấy đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:—“Thưa ngài, xin hãy thọ thực.” Khi ấy, vị tỳ khưu ấy (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đoán sau khi tự tay thọ lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm ở những chỗ trú ngụ trong rừng rồi nhai hoặc ăn,” trong lúc ngần ngại đã không nhận lãnh, và đã không thể đi khất thực nên bữa ăn đã bị lỡ. Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 4Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, với vị tỳ khưu bị bệnh ta cho phép sau khi tự tay thọ lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm ở những chỗ trú ngụ trong rừng rồi nhai hoặc ăn. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Trường hợp những chỗ trú ngụ ở trong rừng được xác định là có sự nguy hiểm, có sự kinh hoàng, vị tỳ khưu nào trong khi đang sống ở những chỗ trú ngụ có hình thức như thế, sau khi tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm chưa được báo tin trước ở trong khuôn viên tu viện, không bị bệnh rồi nhai hoặc ăn thì vị tỳ khưu ấy nên thú nhận rằng: ‘Bạch chư đại đức, tôi đã vi phạm tội đáng chê trách, không có lợi ích, cần phải thú nhận; tôi xin thú nhận tội ấy.’”
Inda-bh 5Trường hợp những chỗ trú ngụ ở trong rừng: Ở trong rừng nghĩa là chỗ trú ngụ cách (căn nhà) cuối cùng khoảng cách 500 cây cung.
Có sự nguy hiểm nghĩa là trong tu viện hoặc trong vùng phụ cận tu viện, chỗ cắm trại của bọn cướp được thấy, chỗ ăn được thấy, chỗ đứng được thấy, chỗ ngồi được thấy, chỗ nằm được thấy.
Có sự kinh hoàng nghĩa là trong tu viện hoặc trong vùng phụ cận tu viện, dân chúng bị giết bởi bọn cướp được thấy, bị cướp giật được thấy, bị đánh đập được thấy.
Vị nào: là bất cứ vị nào … (như trên) …
Tỳ khưu: … nt … Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.
Ở những chỗ trú ngụ có hình thức như thế: ở các chỗ trú ngụ có hình thức như vậy.
Chưa được báo tin nghĩa là đã được báo tin đến năm hạng (người đồng đạo); điều này gọi là chưa được báo tin. Đã được báo tin (ở các nơi khác) ngoại trừ tu viện hoặc vùng phụ cận tu viện; điều này gọi là chưa được báo tin.
Inda-bh 6Đã được báo tin nghĩa là bất cứ người nữ nào hoặc người nam nào đi đến tu viện và vùng phụ cận tu viện rồi thông báo rằng: “Thưa ngài, sẽ mang lại vật thực cứng hoặc vật thực mềm của người tên (như vầy).” Nếu có sự nguy hiểm, nên nói rằng: “Có sự nguy hiểm.” Nếu có sự kinh hoàng, nên nói rằng: “Có sự kinh hoàng.” Nếu (người ấy) nói lại rằng: “Thưa ngài, hãy vậy đi. Sẽ được mang lại” thì nên nói với bọn trộm cướp rằng: “Dân chúng đi đến nơi đây, hãy lui ra.” Khi đã được báo tin liên quan đến cháo, vật phụ thuộc của cháo được mang lại; điều này nghĩa là đã được báo tin. Khi đã được báo tin liên quan đến bữa ăn, vật phụ thuộc của bữa ăn được mang lại; điều này nghĩa là đã được báo tin. Khi đã được báo tin liên quan đến vật thực cứng, vật phụ thuộc của vật thực cứng được mang lại; điều này nghĩa là đã được báo tin. Khi đã được báo tin liên quan đến gia đình, người nào trong gia đình ấy mang lại vật thực cứng hoặc vật thực mềm; điều này nghĩa là đã được báo tin. Khi đã được báo tin liên quan đến ngôi làng, người nào trong ngôi làng ấy mang lại vật thực cứng hoặc vật thực mềm; điều này nghĩa là đã được báo tin. Khi đã được báo tin liên quan đến phường hội, người nào trong phường hội ấy mang lại vật thực cứng hoặc vật thực mềm; điều này nghĩa là đã được báo tin.
Inda-bh 7Vật thực cứng nghĩa là trừ ra năm loại vật thực, vật dùng đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày, và vật dùng suốt đời; phần còn lại gọi là vật thực cứng.
Vật thực mềm nghĩa là năm loại vật thực (gồm có) cơm, súp, bánh, cá, thịt.
Khuôn viên tu viện nghĩa là bên trong tu viện đối với tu viện đã được rào lại, là vùng phụ cận đối với tu viện không được rào lại.
Không bị bệnh nghĩa là có thể đi khất thực.
Bị bệnh nghĩa là không thể đi khất thực.
(Vật thực) chưa được báo tin, vị không bị bệnh (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn’ rồi thọ nhận thì phạm tội dukkaṭa. Mỗi một lần nuốt xuống thì phạm tội pāṭidesanīya.
Khi chưa được báo tin, nhận biết là chưa được báo tin, sau khi tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm ở trong khuôn viên tu viện, vị không bị bệnh nhai hoặc ăn thì phạm tội pāṭidesanīya. Khi chưa được báo tin, có sự hoài nghi, sau khi tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm ở trong khuôn viên tu viện, vị không bị bệnh nhai hoặc ăn thì phạm tội pāṭidesanīya. Khi chưa được báo tin, (lầm) tưởng là đã được báo tin, sau khi tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm ở trong khuôn viên tu viện, vị không bị bệnh nhai hoặc ăn thì phạm tội pāṭidesanīya.
Vị nhận lãnh vật dùng đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày, vật dùng suốt đời vì mục đích vật thực thì phạm tội dukkaṭa. Mỗi một lần nuốt xuống thì phạm tội dukkaṭa.
Khi đã được báo tin, (lầm) tưởng là chưa được báo tin, phạm tội dukkaṭa. Khi đã được báo tin, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Khi đã được báo tin, nhận biết là đã được báo tin thì vô tội.
Khi đã được báo tin, vị bị bệnh, vị thọ thực phần còn lại trong trường hợp đã được báo tin hoặc của vị bị bệnh, vị thọ lãnh ở bên ngoài tu viện rồi thọ thực ở bên trong tu viện, vị thọ thực rễ cây hoặc vỏ cây hoặc lá cây hoặc bông hoa hoặc trái cây sanh trưởng tại nơi ấy, vị thọ dụng vật dùng đến hết đêm vật dùng trong bảy ngày vật dùng suốt đời khi có duyên cớ, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Điều học pāṭidesanīya thứ tư.
TÓM LƯỢC PHẨM NÀY:
Với vị ni không phải là thân quyến, hướng dẫn sự phục vụ, (gia đình) bậc hữu học, và với vị ở trong rừng, là bốn điều pāṭidesanīya đã được giảng rõ bởi đấng Toàn Giác.
Bạch chư đại đức, bốn điều pāṭidesanīya đã được đọc tụng xong. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Các đại đức được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
Dứt các điều Pāṭidesanīya.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Great Analysis
- The chapter on offenses entailing acknowledgment
Phẩm Ưng Đối Thú đã kết thúc.
4. Catutthapāṭidesanīyasikkhāpada
Tena samayena buddho bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme. Tena kho pana samayena sākiyadāsakā avaruddhā honti. Sākiyāniyo icchanti āraññakesu senāsanesu bhattaṁ kātuṁ.
4. Receiving food in a dangerous place
Origin story
First sub-story
At one time when the Buddha was staying in the Sakyan country in the Banyan Tree Monastery at Kapilavatthu, the slaves of the Sakyans were rebelling. The Sakyan women wished to prepare a meal at the wilderness dwellings,
Điều học Ưng Đối Thú thứ tư đã kết thúc.
Assosuṁ kho bhikkhū sākiyānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—“tena hi, bhikkhave, bhikkhūnaṁ sikkhāpadaṁ paññapessāmi dasa atthavase paṭicca saṅghasuṭṭhutāya …pe… evañca pana, bhikkhave, imaṁ sikkhāpadaṁ uddiseyyātha—
The monks heard the complaints of the Sakyans and they told the Buddha. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks: “Well then, monks, I will lay down a training rule for the following ten reasons: for the well-being of the Sangha, for the comfort of the Sangha, for the restraint of bad people, for the ease of good monks, for the restraint of the corruptions relating to the present life, for the restraint of the corruptions relating to future lives, to give rise to confidence in those without it, to increase the confidence of those who have it, for the longevity of the true Teaching, and for supporting the training. And, monks, this training rule should be recited like this:
Preliminary ruling
570. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn trú ở tu viện Nigrodha tại Kapilavatthu trong xứ của dòng họ Sakya. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, các người hầu của dòng họ Sakya đã trở nên nổi loạn. Các phu nhân của dòng họ Sakya muốn làm phước cúng dường vật thực tại các trú xứ trong rừng. Các người hầu của dòng họ Sakya đã nghe được rằng: ‘Nghe nói các phu nhân của dòng họ Sakya muốn làm phước cúng dường vật thực tại các trú xứ trong rừng.’ Họ đã phục kích trên đường. Các phu nhân của dòng họ Sakya, sau khi mang theo vật thực để ăn và vật thực để dùng loại hảo hạng, đã đi đến trú xứ trong rừng. Các người hầu của dòng họ Sakya đi ra, đã cướp đoạt và hãm hiếp các phu nhân của dòng họ Sakya. Dòng họ Sakya đi ra, sau khi bắt giữ những tên cướp ấy cùng với tang vật, đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: ‘Tại sao các ngài đại đức lại không thông báo về việc có những tên cướp đang sống trong tu viện chứ?’ Các vị tỳ khưu đã nghe được việc dòng họ Sakya phàn nàn, chê bai, và chỉ trích. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân sự việc này, nhân duyên cớ này, sau khi thuyết một bài pháp, đã ngỏ lời với các vị tỳ khưu rằng: ‘Này các tỳ khưu, vì lẽ ấy, Ta sẽ chế định điều học cho các vị tỳ khưu dựa vào mười ý nghĩa ... vì sự tốt đẹp của Tăng chúng ... Này các tỳ khưu, các thầy nên tuyên đọc điều học này như sau: –’
“Yāni kho pana tāni āraññakāni senāsanāni sāsaṅkasammatāni sappaṭibhayāni, yo pana bhikkhu tathārūpesu senāsanesu pubbe appaṭisaṁviditaṁ khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā ajjhārāme sahatthā paṭiggahetvā khādeyya vā bhuñjeyya vā, paṭidesetabbaṁ tena bhikkhunā—‘gārayhaṁ, āvuso, dhammaṁ āpajjiṁ asappāyaṁ pāṭidesanīyaṁ taṁ paṭidesemī’”ti.
‘There are wilderness dwellings that are considered risky and dangerous. If a monk, without first making an announcement about those dwellings, eats fresh or cooked food after personally receiving it inside that monastery, he must acknowledge it: “I have done a blameworthy and unsuitable thing that is to be acknowledged. I acknowledge it.”’”
“Lại nữa, có những trú xứ trong rừng được xem là có sự nguy hiểm, có sự đáng sợ. Vị tỳ khưu nào, trong những trú xứ có tính chất như thế, sau khi tự tay nhận lãnh vật thực để ăn hoặc vật thực để dùng chưa được báo trước ở bên trong tu viện, rồi ăn hoặc dùng, vị tỳ khưu ấy phải sám hối rằng: ‘Thưa các hiền giả, tôi đã phạm phải pháp đáng bị quở trách, không thích hợp, là pháp ưng đối thú. Tôi xin sám hối pháp ấy.’”
Evañcidaṁ bhagavatā bhikkhūnaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ hoti.
In this way the Buddha laid down this training rule for the monks.
Second sub-story
Như vậy, điều học này đã được đức Thế Tôn chế định cho các vị tỳ khưu.
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu āraññakesu senāsanesu gilāno hoti. Manussā khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā ādāya āraññakaṁ senāsanaṁ agamaṁsu. Atha kho te manussā taṁ bhikkhuṁ etadavocuṁ—“bhuñjatha, bhante”ti. Atha kho so bhikkhu—“bhagavatā paṭikkhittaṁ āraññakesu senāsanesu khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā sahatthā paṭiggahetvā khādituṁ bhuñjitun”ti kukkuccāyanto na paṭiggahesi, nāsakkhi piṇḍāya carituṁ, chinnabhatto ahosi.
Atha kho so bhikkhu bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, gilānena bhikkhunā āraññakesu senāsanesu pubbe appaṭisaṁviditaṁ khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā sahatthā paṭiggahetvā khādituṁ bhuñjituṁ.
Evañca pana, bhikkhave, imaṁ sikkhāpadaṁ uddiseyyātha—
Soon afterwards a monk in a wilderness dwelling was sick. People took fresh and cooked food and went to that wilderness dwelling, and they invited that monk to eat. But knowing that the Buddha had prohibited the eating of fresh or cooked food after personally receiving it at a wilderness dwelling, and being afraid of wrongdoing, he did not accept it. And being unable to walk for alms, he missed his meal.
He then told the monks what had happened, and they in turn told the Buddha. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“Monks, I allow a sick monk, without first making an announcement, to eat fresh or cooked food after personally receiving it at a wilderness dwelling.
And so, monks, this training rule should be recited like this:
Final ruling
571. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh ở tại các trú xứ trong rừng. Các người dân mang vật thực loại cứng hoặc vật thực loại mềm đến trú xứ trong rừng. Khi ấy, những người ấy đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: “Bạch ngài, xin ngài hãy dùng.” Khi ấy, vị tỳ khưu ấy do có sự áy náy rằng: “Việc tự tay nhận lấy vật thực loại cứng hoặc vật thực loại mềm rồi ăn hoặc dùng ở các trú xứ trong rừng đã bị đức Thế Tôn ngăn cấm,” nên đã không nhận. Vị ấy đã không thể đi khất thực, đã bị thiếu bữa ăn. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã trình báo sự việc ấy đến các vị tỳ khưu. Các vị tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, nhân sự việc này, trong trường hợp này, sau khi thuyết một bài pháp thoại, đức Thế Tôn đã cho gọi các vị tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu bị bệnh ở tại các trú xứ trong rừng được tự tay nhận lấy vật thực loại cứng hoặc vật thực loại mềm chưa được cho biết trước để ăn hoặc để dùng. Và này các tỳ khưu, các thầy nên tuyên đọc học giới này như vầy: –
“Yāni kho pana tāni āraññakāni senāsanāni sāsaṅkasammatāni sappaṭibhayāni, yo pana bhikkhu tathārūpesu senāsanesu pubbe appaṭisaṁviditaṁ khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā ajjhārāme sahatthā paṭiggahetvā agilāno khādeyya vā bhuñjeyya vā, paṭidesetabbaṁ tena bhikkhunā—‘gārayhaṁ, āvuso, dhammaṁ āpajjiṁ asappāyaṁ pāṭidesanīyaṁ, taṁ paṭidesemī’”ti.
‘There are wilderness dwellings that are considered risky and dangerous. If a monk who is not sick, without first making an announcement about those dwellings, eats fresh or cooked food after personally receiving it inside that monastery, he must acknowledge it: “I have done a blameworthy and unsuitable thing that is to be acknowledged. I acknowledge it.”’”
Definitions
572. “Lại nữa, những trú xứ trong rừng nào được cho là có điều đáng ngờ, có sự nguy hiểm, vị tỳ khưu nào không bị bệnh, ở tại các trú xứ như vậy, tự tay nhận lấy vật thực loại cứng hoặc vật thực loại mềm chưa được cho biết trước ở bên trong khuôn viên tu viện rồi ăn hoặc dùng, vị tỳ khưu ấy phải trình bày lại rằng: ‘Thưa chư hiền, tôi đã phạm phải một pháp đáng bị quở trách, không thích hợp, là pháp Ưng Đối Thú; tôi xin trình bày lại pháp ấy.’”
- Yāni kho pana tāni āraññakāni senāsanānīti
- āraññakaṁ nāma senāsanaṁ pañcadhanusatikaṁ pacchimaṁ.
- There are wilderness dwellings:
- a wilderness dwelling: if it is at least 800 meters away from any inhabited area.
573. Trong câu: ‘Lại nữa, những trú xứ trong rừng nào,’ trú xứ trong rừng được gọi là (trú xứ có khoảng cách) tối thiểu là năm trăm dhanu.
Có điều đáng ngờ được gọi là: ở trong tu viện hoặc ở khu vực cận tu viện, nơi ra vào của kẻ trộm được thấy, nơi ăn uống được thấy, nơi đứng được thấy, nơi ngồi được thấy, nơi nằm được thấy.
Có sự nguy hiểm được gọi là: ở trong tu viện hoặc ở khu vực cận tu viện, những người bị kẻ trộm giết hại được thấy, bị cướp bóc được thấy, bị đánh đập được thấy.
Vị nào có nghĩa là bất cứ vị nào ...đđ... Tỳ khưu có nghĩa là ...đđ... vị tỳ khưu được đề cập trong trường hợp này.
Ở tại các trú xứ như vậy có nghĩa là ở tại các trú xứ có tính chất như thế này.
Chưa được cho biết trước được gọi là: việc được cho biết đến năm vị, điều này được gọi là chưa được cho biết trước. Việc được cho biết ngoại trừ ở tu viện và khu vực cận tu viện, điều này được gọi là chưa được cho biết trước.
Được cho biết trước được gọi là: bất cứ người nào, là nữ hay nam, đi đến tu viện hoặc khu vực cận tu viện rồi báo rằng: ‘Bạch ngài, họ sẽ mang vật thực loại cứng hoặc vật thực loại mềm đến cho vị có tên như vầy.’ Nếu có điều đáng ngờ, nên nói rõ là: ‘Có điều đáng ngờ.’ Nếu có sự nguy hiểm, nên nói rõ là: ‘Có sự nguy hiểm.’ Nếu nói rằng: ‘Bạch ngài, cứ để vậy, sẽ được mang đến,’ thì nên nói với kẻ trộm rằng: ‘Có người đi lại ở đây, hãy tránh đi.’ Khi được cho biết về cháo, các món phụ tùng của cháo ấy được mang đến, điều này được gọi là đã được cho biết trước. Khi được cho biết về cơm, các món phụ tùng của cơm ấy được mang đến, điều này được gọi là đã được cho biết trước. Khi được cho biết về vật thực loại cứng, các món phụ tùng của vật thực loại cứng ấy được mang đến, điều này được gọi là đã được cho biết trước. Khi được cho biết bởi gia tộc, người nào trong gia tộc ấy mang vật thực loại cứng hoặc vật thực loại mềm đến, điều này được gọi là đã được cho biết trước. Khi được cho biết bởi ngôi làng, người nào trong ngôi làng ấy mang vật thực loại cứng hoặc vật thực loại mềm đến, điều này được gọi là đã được cho biết trước. Khi được cho biết bởi đoàn thể, người nào trong đoàn thể ấy mang vật thực loại cứng hoặc vật thực loại mềm đến, điều này được gọi là đã được cho biết trước.
Vật thực loại cứng được gọi là: ngoại trừ năm loại vật thực chính, dược phẩm dùng trong giờ quy định, dược phẩm dùng trong bảy ngày, và dược phẩm dùng trọn đời, phần còn lại được gọi là vật thực loại cứng.
Vật thực loại mềm được gọi là năm loại vật thực chính: cơm, cháo khô, bột rang, cá, thịt.
Bên trong khuôn viên tu viện được gọi là: bên trong tu viện đối với tu viện có tường rào; là khu vực cận tu viện đối với (tu viện) không có tường rào.
Không bị bệnh được gọi là người có thể đi khất thực.
Bị bệnh được gọi là người không thể đi khất thực.
Appaṭisaṁviditaṁ agilāno “khādissāmi bhuñjissāmī”ti paṭiggaṇhāti, āpatti dukkaṭassa. Ajjhohāre ajjhohāre āpatti pāṭidesanīyassa.
If, without making an announcement, one who is not sick receives fresh or cooked food with the intention of eating it, he commits an offense of wrong conduct. For every mouthful swallowed, he commits an offense entailing acknowledgment.
Permutations
Vị không bệnh nhận lấy vật thực chưa được cho biết trước với ý nghĩ: ‘Tôi sẽ ăn, tôi sẽ dùng,’ thì phạm tội tác ác. Mỗi khi nuốt vào, phạm tội ưng đối thú.
Appaṭisaṁvidite appaṭisaṁviditasaññī khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā ajjhārāme sahatthā paṭiggahetvā agilāno khādati vā bhuñjati vā, āpatti pāṭidesanīyassa. Appaṭisaṁvidite vematiko khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā ajjhārāme sahatthā paṭiggahetvā agilāno khādati vā bhuñjati vā, āpatti pāṭidesanīyassa. Appaṭisaṁvidite paṭisaṁviditasaññī khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā ajjhārāme sahatthā paṭiggahetvā agilāno khādati vā bhuñjati vā, āpatti pāṭidesanīyassa.
If there has been no announcement, and he does not perceive that there has, and he, not being sick, eats fresh or cooked food after personally receiving it inside that monastery, then he commits an offense entailing acknowledgment. If there has been no announcement, but he is unsure of it, and he, not being sick, eats fresh or cooked food after personally receiving it inside that monastery, then he commits an offense entailing acknowledgment. If there has been no announcement, but he perceives that there has, and he, not being sick, eats fresh or cooked food after personally receiving it inside that monastery, then he commits an offense entailing acknowledgment.
574. Trong trường hợp chưa được cho biết trước, có nhận thức là chưa được cho biết trước, tự tay nhận lấy vật thực loại cứng hoặc vật thực loại mềm ở bên trong khuôn viên tu viện rồi ăn hoặc dùng trong khi không bị bệnh thì phạm tội ưng đối thú. Trong trường hợp chưa được cho biết trước, có sự nghi ngờ, tự tay nhận lấy vật thực loại cứng hoặc vật thực loại mềm ở bên trong khuôn viên tu viện rồi ăn hoặc dùng trong khi không bị bệnh thì phạm tội ưng đối thú. Trong trường hợp chưa được cho biết trước, có nhận thức là đã được cho biết trước, tự tay nhận lấy vật thực loại cứng hoặc vật thực loại mềm ở bên trong khuôn viên tu viện rồi ăn hoặc dùng trong khi không bị bệnh thì phạm tội ưng đối thú.
Yāmakālikaṁ sattāhakālikaṁ yāvajīvikaṁ āhāratthāya paṭiggaṇhāti, āpatti dukkaṭassa. Ajjhohāre ajjhohāre āpatti dukkaṭassa. Paṭisaṁvidite appaṭisaṁviditasaññī, āpatti dukkaṭassa. Paṭisaṁvidite vematiko, āpatti dukkaṭassa. Paṭisaṁvidite paṭisaṁviditasaññī, anāpatti.
Anāpatti—paṭisaṁvidite, gilānassa,
If he receives post-midday tonics, seven-day tonics, or lifetime tonics for the purpose of food, he commits an offense of wrong conduct. For every mouthful swallowed, he commits an offense of wrong conduct. If there has been an announcement, but he does not perceive that there has, he commits an offense of wrong conduct. If there has been an announcement, but he is unsure of it, he commits an offense of wrong conduct. If there has been an announcement, and he perceives that there has, there is no offense.
Non-offenses
There is no offense: if there has been an announcement; if he is sick;
Nhận lấy dược phẩm dùng trong giờ quy định, dược phẩm dùng trong bảy ngày, dược phẩm dùng trọn đời với mục đích làm vật thực thì phạm tội tác ác. Mỗi khi nuốt vào, phạm tội tác ác. Trong trường hợp đã được cho biết trước, có nhận thức là chưa được cho biết trước, phạm tội tác ác. Trong trường hợp đã được cho biết trước, có sự nghi ngờ, phạm tội tác ác. Trong trường hợp đã được cho biết trước, có nhận thức là đã được cho biết trước, không phạm tội.
Catutthapāṭidesanīyasikkhāpadaṁ niṭṭhitaṁ.
The fourth training rule on receiving food in a dangerous place is finished.
575. Không phạm tội trong trường hợp đã cho biết, trường hợp vị tỳ khưu bị bệnh; hoặc vị đã cho biết hoặc vị bị bệnh dùng phần còn lại; nhận ở ngoài khuôn viên tu viện rồi dùng ở trong khuôn viên tu viện; dùng rễ, hoặc vỏ cây, hoặc lá, hoặc hoa, hoặc trái cây mọc ở nơi ấy; khi có duyên sự, dùng các món yāmakālika, sattāhakālika, yāvajīvika; trường hợp vị tỳ khưu bị loạn trí, vị vi phạm đầu tiên.
Uddiṭṭhā kho, āyasmanto, cattāro pāṭidesanīyā dhammā. Tatthāyasmante pucchāmi—“kaccittha parisuddhā”? Dutiyampi pucchāmi—“kaccittha parisuddhā”? Tatiyampi pucchāmi—“kaccittha parisuddhā”? Parisuddhetthāyasmanto, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmīti.
Pāṭidesanīyakaṇḍaṁ niṭṭhitaṁ.
“Venerables, the four rules on acknowledgment have been recited. In regard to this I ask you, ‘Are you pure in this?’ A second time I ask, ‘Are you pure in this?’ A third time I ask, ‘Are you pure in this?’ You are pure in this and therefore silent. I will remember it thus.”
The chapter on offenses entailing acknowledgment is finished.
Thưa chư Đại đức, bốn pháp Ưng Đối Thú đã được tụng đọc. Trong các pháp ấy, tôi xin hỏi chư Đại đức: ‘Có phải các ngài trong sạch trong các pháp ấy không?’ Lần thứ nhì, tôi xin hỏi: ‘Có phải các ngài trong sạch trong các pháp ấy không?’ Lần thứ ba, tôi xin hỏi: ‘Có phải các ngài trong sạch trong các pháp ấy không?’ Chư Đại đức trong sạch trong các pháp ấy, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.