- Theravāda Vinaya
- Mahāvibhaṅga
- Pāṭidesanīyakaṇḍa
Bản dịch
Bu Vb Pd 1 — Ba-la-đề-đề-xá-ni 1
1. Paṭhamapāṭidesanīyasikkhāpada
Bạch chư đại đức, bốn điều pāṭidesanīya này được đưa ra đọc tụng.
Inda-bh 1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ sau khi đi khất thực ở trong thành Sāvatthī đến lúc đi trở về đã nhìn thấy vị tỳ khưu nọ và đã nói điều này:—“Này ngài đại đức, hãy nhận lãnh vật thực.”—“Này sư tỷ, tốt lắm!” Rồi đã nhận lãnh hết tất cả. Khi thời giờ đã kề cận, vị ni ấy đã không thể đi khất thực nên bữa ăn đã bị lỡ. Sau đó, vào ngày thứ nhì … (như trên) … vào ngày thứ ba, vị tỳ khưu ni ấy sau khi đi khất thực ở trong thành Sāvatthī đến lúc đi trở về đã nhìn thấy vị tỳ khưu ấy và đã nói điều này:—“Này ngài đại đức, hãy nhận lãnh vật thực.”—“Này sư tỷ, tốt lắm!” Rồi đã nhận lãnh hết tất cả. Khi thời giờ đã kề cận, vị ni ấy đã không thể đi khất thực nên bữa ăn đã bị lỡ.
Inda-bh 2Sau đó vào ngày thứ tư, vị tỳ khưu ni ấy run lập cập đi trên đường. Người gia chủ đại phú đang đi xe ngược chiều đã nói với vị tỳ khưu ni ấy điều này:—“Này ni sư, hãy tránh ra.” Vị ni ấy trong lúc bước xuống đã bị té ngã ngay tại chỗ ấy. Người gia chủ đại phú đã xin lỗi vị tỳ khưu ni ấy:—“Thưa ni sư, xin hãy thứ lỗi. Ni sư đã bị tôi làm té ngã.”—“Này gia chủ, không phải ta đã bị ngươi làm té ngã mà chính vì ta đây đuối sức.”—“Thưa ni sư, vì sao ni sư đuối sức?” Khi ấy, vị tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho người gia chủ đại phú. Người gia chủ đại phú ấy đã đưa vị tỳ khưu ni ấy về nhà, dâng thức ăn, rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các ngài đại đức lại nhận lãnh vật thực từ tay của tỳ khưu ni? Là người nữ có lợi lộc khó khăn!”
Inda-bh 3Các tỳ khưu đã nghe được người gia chủ đại phú phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao tỳ khưu lại nhận lãnh vật thực từ tay của tỳ khưu ni?” … (như trên) … “Này tỳ khưu, nghe nói ngươi nhận lãnh vật thực từ tay của tỳ khưu ni, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”—“Này tỳ khưu, là nữ thân quyến của ngươi hay không phải là nữ thân quyến?”—“Bạch Thế Tôn, không phải là nữ thân quyến.”—“Này kẻ rồ dại, người nam không phải là thân quyến không biết điều gì thích hợp hay không thích hợp, điều gì đúng hay không đúng đối với người nữ không phải là thân quyến. Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại nhận lãnh vật thực từ tay tỳ khưu ni không phải là thân quyến vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu nào tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm từ tay tỳ khưu ni không phải là thân quyến đã đi vào xóm nhà, rồi nhai hoặc ăn thì vị tỳ khưu ấy nên thú nhận rằng: ‘Bạch chư đại đức, tôi đã vi phạm tội đáng chê trách, không có lợi ích, cần phải thú nhận; tôi xin thú nhận tội ấy.’”
Inda-bh 4Vị nào: là bất cứ vị nào … (như trên) …
Tỳ khưu: … nt … Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.
(Người nữ) không phải là thân quyến nghĩa là người nữ không có liên hệ họ hàng cho đến bảy thế hệ tổ tiên từ dòng bên mẹ hoặc từ dòng bên cha.
Tỳ khưu ni nghĩa là người nữ đã được tu lên bậc trên ở cả hai hội chúng.
Xóm nhà nghĩa là con đường có xe cộ, ngõ cụt, giao lộ, căn nhà.
Vật thực cứng nghĩa là trừ ra năm loại vật thực, vật dùng đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày, và vật dùng suốt đời; phần còn lại gọi là vật thực cứng.
Vật thực mềm nghĩa là năm loại vật thực (gồm có) cơm, súp, bánh, cá, thịt. Vị (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn’ rồi thọ nhận thì phạm tội dukkaṭa. Mỗi một lần nuốt xuống thì phạm tội pāṭidesanīya.
Không phải là nữ thân quyến, nhận biết không phải là nữ thân quyến, vị tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm từ tay của vị ni đã đi vào xóm nhà rồi nhai hoặc ăn thì phạm tội pāṭidesanīya. Không phải là nữ thân quyến, có sự hoài nghi, vị tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm từ tay của vị ni đã đi vào xóm nhà rồi nhai hoặc ăn thì phạm tội pāṭidesanīya. Không phải là nữ thân quyến, (lầm) tưởng là nữ thân quyến, vị tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm từ tay của vị ni đã đi vào xóm nhà rồi nhai hoặc ăn thì phạm tội pāṭidesanīya.
Vị nhận lãnh vật dùng đến hết đêm, vật dùng trong bảy ngày, vật dùng suốt đời vì mục đích vật thực thì phạm tội dukkaṭa. Mỗi một lần nuốt xuống thì phạm tội dukkaṭa. Vị (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn’ rồi nhận lãnh từ tay của vị ni tu lên bậc trên từ một hội chúng thì phạm tội dukkaṭa. Mỗi một lần nuốt xuống thì phạm tội dukkaṭa.
Nữ thân quyến, (lầm) tưởng không phải là nữ thân quyến, phạm tội dukkaṭa. Nữ thân quyến, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Nữ thân quyến, nhận biết là nữ thân quyến thì vô tội.
Từ vị (tỳ khưu ni) là nữ thân quyến, (vị ni) bảo (người khác) trao cho chứ không tự trao cho, (vị ni) sau khi để xuống rồi cho, ở trong tu viện, ở chỗ trú ngụ của các tỳ khưu ni, ở chỗ ngủ của các tu sĩ ngoại đạo, khi đi trở về, (vị ni) mang từ làng về rồi cho, (vị ni) cho vật dùng đến hết đêm vật dùng trong bảy ngày vật dùng suốt đời (nói rằng): ‘Hãy thọ dụng khi có duyên cớ,’ từ cô ni tu tập sự, từ sa di ni, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Điều học pāṭidesanīya thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Great Analysis
- The chapter on offenses entailing acknowledgment
6. Chương Pāṭidesanīya
1. Paṭhamapāṭidesanīyasikkhāpada
1. The training rule on receiving a nun’s food
1. Học giới Pāṭidesanīya thứ nhất
Ime kho panāyasmanto cattāro pāṭidesanīyā dhammā uddesaṁ āgacchanti.
Venerables, these four rules on acknowledgment come up for recitation.
Origin story
Thưa chư hiền, lại nữa, bốn pháp pāṭidesanīya này
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena aññatarā bhikkhunī sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā paṭikkamanakāle aññataraṁ bhikkhuṁ passitvā etadavoca—“handāyya, bhikkhaṁ paṭiggaṇhā”ti.
“Suṭṭhu, bhaginī”ti sabbeva aggahesi. Sā upakaṭṭhe kāle nāsakkhi piṇḍāya carituṁ, chinnabhattā ahosi.
Atha kho sā bhikkhunī dutiyampi divasaṁ …pe… tatiyampi divasaṁ sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā paṭikkamanakāle taṁ bhikkhuṁ passitvā etadavoca—“handāyya, bhikkhaṁ paṭiggaṇhā”ti. “Suṭṭhu, bhaginī”ti sabbeva aggahesi. Sā upakaṭṭhe kāle nāsakkhi piṇḍāya carituṁ, chinnabhattā ahosi. Atha kho sā bhikkhunī catutthe divase rathikāya pavedhentī gacchati. Seṭṭhi gahapati rathena paṭipathaṁ āgacchanto taṁ bhikkhuniṁ etadavoca—“apehāyye”ti. Sā vokkamantī tattheva paripati.
Seṭṭhi gahapati taṁ bhikkhuniṁ khamāpesi—“khamāhāyye, mayāsi pātitā”ti.
“Nāhaṁ, gahapati, tayā pātitā. Api ca ahameva dubbalā”ti.
“Kissa pana tvaṁ, ayye, dubbalā”ti?
Atha kho sā bhikkhunī seṭṭhissa gahapatissa etamatthaṁ ārocesi. Seṭṭhi gahapati taṁ bhikkhuniṁ gharaṁ netvā bhojetvā ujjhāyati khiyyati vipāceti—“kathañhi nāma bhadantā bhikkhuniyā hatthato āmisaṁ paṭiggahessanti. Kicchalābho mātugāmo”ti.
At one time when the Buddha was staying at Sāvatthī in Anāthapiṇḍika’s Monastery, a certain nun was returning from almsround in Sāvatthī. She saw a monk and said to him, “Here, venerable, please take some almsfood.”
Saying, “Alright, sister,” he took everything. But because the time for eating was coming to an end, she was not able to go for alms, and she missed her meal.
The next day and the following day the same thing happened again. On the fourth day that nun was walking along a street, trembling. A wealthy merchant coming by carriage in the opposite direction saw her and shouted out, “Watch out, venerable!” As she stepped aside, she collapsed right there.
The merchant asked her for forgiveness: “Forgive me, venerable, since you fell because of me.”
“I didn’t fall because of you, but because I’m weak.”
“But why are you so weak?”
The nun told him what had happened. He then brought her to his house and gave her a meal. Afterwards he complained and criticized the monks, “How can the venerables receive food directly from a nun? It’s difficult for women to get material support.”
552. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika ở Jetavana. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ-khưu-ni nọ sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, trong lúc quay về đã trông thấy một vị tỳ-khưu nọ rồi nói điều này: ‘Thưa ngài, xin hãy nhận vật thực.’ ‘Tốt lắm, thưa hiền muội,’ (vị ấy) đã nhận lấy tất cả. Vị ni ấy, khi thời gian đã gần hết, đã không thể đi khất thực được, đã bị thiếu bữa ăn. Rồi vị tỳ-khưu-ni ấy vào ngày thứ hai... cho đến... vào ngày thứ ba, sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, trong lúc quay về đã trông thấy vị tỳ-khưu ấy rồi nói điều này: ‘Thưa ngài, xin hãy nhận vật thực.’ ‘Tốt lắm, thưa hiền muội,’ (vị ấy) đã nhận lấy tất cả. Vị ni ấy, khi thời gian đã gần hết, đã không thể đi khất thực được, đã bị thiếu bữa ăn. Rồi vào ngày thứ tư, vị tỳ-khưu-ni ấy đi trên đường phố trong tình trạng run rẩy. Vị trưởng giả gia chủ đang đi xe ngựa ngược chiều đã nói với vị tỳ-khưu-ni ấy điều này: ‘Xin hãy tránh đường, thưa sư cô.’ Trong lúc tránh đường, vị ni ấy đã ngã xuống ngay tại đó. Vị trưởng giả gia chủ đã xin lỗi vị tỳ-khưu-ni ấy: ‘Xin sư cô hãy tha lỗi, chính tôi đã làm sư cô ngã.’ ‘Thưa gia chủ, không phải ông làm tôi ngã. Mà chính tôi bị yếu sức.’ ‘Nhưng tại sao sư cô lại bị yếu sức?’ Bấy giờ, vị tỳ-khưu-ni ấy đã trình bày sự việc ấy cho vị trưởng giả gia chủ. Vị trưởng giả gia chủ sau khi đưa vị tỳ-khưu-ni ấy về nhà, dâng vật thực, đã phàn nàn, chê bai, khiển trách rằng: ‘Tại sao các bậc đáng kính lại có thể nhận vật thực từ tay của một tỳ-khưu-ni chứ! Người phụ nữ vốn khó khăn trong việc nhận được của cúng dường!’
Assosuṁ kho bhikkhū tassa seṭṭhissa gahapatissa ujjhāyantassa khiyyantassa vipācentassa. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhikkhu bhikkhuniyā hatthato āmisaṁ paṭiggahessatī”ti …pe… “saccaṁ kira tvaṁ, bhikkhu, bhikkhuniyā hatthato āmisaṁ paṭiggahesī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
“Ñātikā te, bhikkhu, aññātikā”ti?
“Aññātikā, bhagavā”ti.
“Aññātako, moghapurisa, aññātikāya na jānāti patirūpaṁ vā appatirūpaṁ vā santaṁ vā asantaṁ vā. Kathañhi nāma tvaṁ, moghapurisa, aññātikāya bhikkhuniyā hatthato āmisaṁ paṭiggahessasi. Netaṁ, moghapurisa, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… evañca pana, bhikkhave, imaṁ sikkhāpadaṁ uddiseyyātha—
The monks heard the complaints of that merchant, and the monks of few desires complained and criticized that monk, “How could a monk receive food directly from a nun?” … “Is it true, monk, that you did this?”
“It’s true, sir.”
“Is she a relative of yours?”
“No, sir.”
“Foolish man, a man and a woman who are unrelated don’t know what’s appropriate and inappropriate, what’s good and bad, in dealing with each other. And still you did this. This will affect people’s confidence …” … “And, monks, this training rule should be recited like this:
Final ruling
Các vị tỳ-khưu đã nghe được việc vị trưởng giả gia chủ ấy phàn nàn, chê bai, khiển trách. Những vị tỳ-khưu thiểu dục... cho đến... các vị ấy đã phàn nàn, chê bai, khiển trách rằng: ‘Tại sao một vị tỳ-khưu lại có thể nhận vật thực từ tay của một tỳ-khưu-ni chứ!’ ... cho đến... ‘Này tỳ-khưu, có thật là ngươi đã nhận vật thực từ tay của một tỳ-khưu-ni không?’ ‘Bạch Thế Tôn, là sự thật.’ ‘Này tỳ-khưu, vị ấy có phải là bà con của ngươi hay không phải là bà con?’ ‘Bạch Thế Tôn, không phải là bà con.’ ‘Này kẻ rỗng tuếch, người không phải bà con thì không biết được điều thích hợp hay không thích hợp, điều có hay không có của người không phải bà con. Này kẻ rỗng tuếch, tại sao ngươi lại có thể nhận vật thực từ tay của một tỳ-khưu-ni không phải là bà con chứ! Này kẻ rỗng tuếch, việc này không làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin... cho đến... Này các tỳ-khưu, các ngươi nên tụng đọc học giới này như vầy: –
“Yo pana bhikkhu aññātikāya bhikkhuniyā antaragharaṁ paviṭṭhāya hatthato khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā sahatthā paṭiggahetvā khādeyya vā bhuñjeyya vā, paṭidesetabbaṁ tena bhikkhunā—‘gārayhaṁ, āvuso, dhammaṁ āpajjiṁ asappāyaṁ pāṭidesanīyaṁ, taṁ paṭidesemī’”ti.
- Yo panāti
- yo yādiso …pe…
- bhikkhūti
‘If a monk receives fresh or cooked food directly from an unrelated nun who has entered an inhabited area, and then eats it, he must acknowledge it: “I have done a blameworthy and unsuitable thing that is to be acknowledged. I acknowledge it.”’”
Definitions
- A:
- whoever …
- Monk:
553. ‘Vị tỳ-khưu nào, từ tay của một tỳ-khưu-ni không phải là bà con đã đi vào trong xóm làng, tự tay nhận lấy vật thực cứng hoặc vật thực mềm rồi ăn hoặc dùng, vị tỳ-khưu ấy phải sám hối rằng: “Thưa chư hiền, tôi đã phạm một pháp đáng bị quở trách, không thích hợp, là pháp pāṭidesanīya. Tôi xin sám hối pháp ấy.”’
554. Vị nào: là bất cứ vị nào... cho đến... Tỳ-khưu: ... cho đến... trong trường hợp này, vị tỳ-khưu này được hiểu là tỳ-khưu.
Không phải là bà con có nghĩa là: không có liên hệ bên họ mẹ hoặc bên họ cha cho đến đời ông bà thứ bảy.
Tỳ-khưu-ni có nghĩa là: người nữ đã thọ cụ túc giới trong hai Tăng chúng.
Trong xóm làng có nghĩa là: đường phố, đường hẻm, ngã tư, nhà cửa.
Vật thực cứng có nghĩa là: ngoại trừ năm loại vật thực chính, các loại dược phẩm dùng trong canh, dùng trong bảy ngày, dùng trọn đời, phần còn lại được gọi là vật thực cứng.
“Khādissāmi bhuñjissāmī”ti paṭiggaṇhāti, āpatti dukkaṭassa. Ajjhohāre ajjhohāre āpatti pāṭidesanīyassa.
If he receives the food with the intention of eating it, he commits an offense of wrong conduct. For every mouthful swallowed, he commits an offense entailing acknowledgment.
Permutations
Vật thực mềm có nghĩa là: năm loại vật thực chính – cơm, cháo khô, bột rang, cá, thịt. Khi nhận với ý nghĩ: ‘Tôi sẽ ăn, tôi sẽ dùng,’ phạm tội dukkaṭa. Mỗi khi nuốt vào, phạm tội pāṭidesanīya.
Aññātikāya aññātikasaññī antaragharaṁ paviṭṭhāya hatthato khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā sahatthā paṭiggahetvā khādati vā bhuñjati vā, āpatti pāṭidesanīyassa. Aññātikāya vematiko antaragharaṁ paviṭṭhāya hatthato khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā sahatthā paṭiggahetvā khādati vā bhuñjati vā, āpatti pāṭidesanīyassa. Aññātikāya ñātikasaññī antaragharaṁ paviṭṭhāya hatthato khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā sahatthā paṭiggahetvā khādati vā bhuñjati vā, āpatti pāṭidesanīyassa.
If she is unrelated and he perceives her as such, and he receives fresh or cooked food directly from her when she has entered an inhabited area, and then eats it, he commits an offense entailing acknowledgment. If she is unrelated, but he is unsure of it, and he receives fresh or cooked food directly from her when she has entered an inhabited area, and then eats it, he commits an offense entailing acknowledgment. If she is unrelated, but he perceives her as related, and he receives fresh or cooked food directly from her when she has entered an inhabited area, and then eats it, he commits an offense entailing acknowledgment.
555. Vị tỳ khưu có nhận thức về vị tỳ khưu ni không phải là thân quyến rằng không phải là thân quyến, sau khi vị ấy đã đi vào trong xóm làng, đã tự tay nhận lấy vật thực cứng hay vật thực mềm từ tay của vị ấy rồi ăn hay dùng, phạm tội pāṭidesanīya. Vị tỳ khưu có sự nghi ngờ về vị tỳ khưu ni không phải là thân quyến, sau khi vị ấy đã đi vào trong xóm làng, đã tự tay nhận lấy vật thực cứng hay vật thực mềm từ tay của vị ấy rồi ăn hay dùng, phạm tội pāṭidesanīya. Vị tỳ khưu có nhận thức về vị tỳ khưu ni không phải là thân quyến rằng là thân quyến, sau khi vị ấy đã đi vào trong xóm làng, đã tự tay nhận lấy vật thực cứng hay vật thực mềm từ tay của vị ấy rồi ăn hay dùng, phạm tội pāṭidesanīya.
Yāmakālikaṁ sattāhakālikaṁ yāvajīvikaṁ āhāratthāya paṭiggaṇhāti, āpatti dukkaṭassa. Ajjhohāre ajjhohāre āpatti dukkaṭassa. Ekatoupasampannāya hatthato khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā—“khādissāmi bhuñjissāmī”ti paṭiggaṇhāti, āpatti dukkaṭassa. Ajjhohāre ajjhohāre āpatti dukkaṭassa.
Ñātikāya aññātikasaññī, āpatti dukkaṭassa. Ñātikāya vematiko, āpatti dukkaṭassa. Ñātikāya ñātikasaññī, anāpatti.
Anāpatti—ñātikāya,
If he receives post-midday tonics, seven-day tonics, or lifetime tonics for the purpose of food, he commits an offense of wrong conduct. For every mouthful swallowed, he commits an offense of wrong conduct. If he receives fresh or cooked food, with the intention of eating it, directly from a nun who is fully ordained only on one side, he commits an offense of wrong conduct. For every mouthful swallowed, he commits an offense of wrong conduct.
If she is related, but he perceives her as unrelated, he commits an offense of wrong conduct. If she is related, but he is unsure of it, he commits an offense of wrong conduct. If she is related, and he perceives her as such, there is no offense.
Non-offenses
There is no offense: if she is related;
Vị ấy nhận lấy thuốc men dùng trong hạn định thời gian, thuốc men dùng trong hạn định bảy ngày, thuốc men dùng trọn đời với mục đích làm đồ ăn, phạm tội dukkaṭa. Mỗi khi nuốt vào, phạm tội dukkaṭa. Vị ấy nhận lấy vật thực cứng hay vật thực mềm từ tay của vị tỳ khưu ni đã thọ cụ túc giới ở một bên tăng chúng với ý nghĩ: ‘Tôi sẽ ăn, tôi sẽ dùng,’ phạm tội dukkaṭa. Mỗi khi nuốt vào, phạm tội dukkaṭa. Về vị tỳ khưu ni là thân quyến mà có nhận thức là không phải thân quyến, phạm tội dukkaṭa. Về vị tỳ khưu ni là thân quyến mà có sự nghi ngờ, phạm tội dukkaṭa. Về vị tỳ khưu ni là thân quyến mà có nhận thức là thân quyến, không phạm tội.
556. Không phạm tội: đối với vị tỳ khưu ni là thân quyến, cho người dâng cúng chứ không tự mình dâng cúng, dâng cúng sau khi đã đặt xuống gần bên, dâng cúng ở bên trong tu viện, ở trú xá của tỳ khưu ni, ở nơi ở của ngoại đạo, ở nhà ăn, dâng cúng sau khi đã mang ra khỏi làng, dâng cúng thuốc men dùng trong hạn định thời gian, thuốc men dùng trong hạn định bảy ngày, thuốc men dùng trọn đời với lời nói: ‘Nếu có duyên sự, hãy dùng,’ đối với vị học nữ, đối với vị sa-di-ni, đối với vị bị mất trí, đối với vị sơ phạm.
Paṭhamapāṭidesanīyasikkhāpadaṁ niṭṭhitaṁ.
The first training rule on receiving a nun’s food is finished.
Dứt điểm điều học Pāṭidesanīya thứ nhất.