Bản dịch
Bu Pm — Giới Bổn Tỳ-khưu
Này chư hiền, bảy pháp dàn xếp tranh tụng đã được tụng đọc. Trong vấn đề ấy, tôi xin hỏi chư hiền: ‘Có phải quý vị được trong sạch trong các điều ấy không?’ Lần thứ nhì, tôi cũng hỏi: ‘Có phải quý vị được trong sạch trong các điều ấy không?’ Lần thứ ba, tôi cũng hỏi: ‘Có phải quý vị được trong sạch trong các điều ấy không?’ Chư hiền đã được trong sạch trong các điều ấy, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
Này chư hiền, phần Mở Đầu đã được tụng đọc; bốn pháp Bất Cộng Trụ đã được tụng đọc; mười ba pháp Tăng Tàn đã được tụng đọc; hai pháp Bất Định đã được tụng đọc; ba mươi pháp Ưng Xả Đối Trị đã được tụng đọc; chín mươi hai pháp Ưng Đối Trị đã được tụng đọc; bốn pháp Ưng Phát Lộ đã được tụng đọc; các pháp Ưng Học đã được tụng đọc; bảy pháp Dàn Xếp Tranh Tụng đã được tụng đọc. Bấy nhiêu điều luật của đức Thế Tôn ấy đã được truyền thừa, đã được bao gồm trong kinh, được đem ra tụng đọc mỗi nửa tháng. Trong các điều ấy, tất cả chư vị cần phải hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi mà học tập.
90. “Do việc phá hoại các loại thực vật, phạm tội pācittiya.”
98. “Do nói quanh co, do làm phiền nhiễu, (phạm tội) pācittiya.”
105. ‘Do việc xúi giục khiển trách, do việc chê bai, phạm tội pācittiya (ưng đối trị).’
109. “Vị tỳ khưu nào, sau khi tự mình trải ra hoặc cho người khác trải ra giường hoặc ghế hoặc nệm hoặc chiếu thuộc về tăng chúng ở ngoài trời, trong lúc đi nơi khác mà không tự dọn dẹp, không cho người dọn dẹp, hoặc ra đi mà không hỏi xin phép, thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
115. “Vị tỳ khưu nào, sau khi tự mình trải hoặc nhờ người khác trải sàng tọa trong trú xá của Tăng chúng, khi ra đi không tự dọn dẹp, không nhờ người dọn dẹp, hoặc ra đi mà không thưa hỏi, thì phạm tội pācittiya.”
120. “Vị tỳ khưu nào, trong trú xá của Tăng, trong khi biết (có vị tỳ khưu đã đến trước), mà chen lấn nằm xuống gần vị tỳ khưu đã đến trước, với ý nghĩ rằng: ‘Vị nào cảm thấy chật chội thì vị ấy sẽ bỏ đi,’ chỉ vì lý do ấy chứ không vì lý do nào khác, thì phạm tội pācittiya.”
125. “Vị tỳ khưu nào, do sân hận, không vừa lòng, tự mình đuổi một tỳ khưu ra khỏi trú xá của Tăng-già, hoặc xui người khác đuổi ra, thì phạm tội pācittiya.”
130. “Vị tỳ khưu nào ở trong một am thất trên lầu không có sàn của một ngôi tịnh xá thuộc về tăng chúng mà ngồi mạnh xuống hoặc nằm mạnh xuống trên chiếc giường có chân đóng hay chiếc ghế có chân đóng thì phạm tội pācittiya.”
135. “Vị tỳ khưu cho xây cất ngôi tịnh xá lớn, cho đến khi (hoàn tất) khung cửa để đặt then cài, để hoàn thiện khe hở cửa sổ, nên đứng ở nơi không có cây cỏ xanh tươi để chỉ dẫn việc lợp mái hai hoặc ba lớp. Nếu đứng ở nơi không có cây cỏ xanh tươi mà chỉ dẫn (lợp) nhiều hơn thế nữa thì phạm tội pācittiya.”
140. “Vị tỳ khưu nào biết mà tự mình tưới hoặc bảo người khác tưới nước có chúng sanh lên cỏ hoặc đất sét, phạm tội pācittiya.”
Phẩm về Các Loại Thực Vật, thứ hai.
146. “Vị tỳ khưu nào chưa được chỉ định mà giáo huấn các tỳ khưu ni thì phạm tội pācittiya.”
154. “Vị tỳ khưu dù đã được chỉ định, nếu giáo huấn các tỳ khưu ni sau khi mặt trời đã lặn, thì phạm tội pācittiya.”
“Vị tỳ khưu nào đi đến trú xứ của tỳ khưu ni và giáo huấn các tỳ khưu ni, thì phạm tội pācittiya.”
160. “Vị tỳ khưu nào đi đến trú xá của tỳ khưu ni và giáo giới các tỳ khưu ni, ngoại trừ thời điểm (thích hợp), thì phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là thời điểm (thích hợp): Tỳ khưu ni bị bệnh – đây là thời điểm (thích hợp) trong trường hợp ấy.”
165. “Vị tỳ khưu nào nói như vầy: ‘Các vị tỳ khưu trưởng lão giáo giới các tỳ khưu ni là vì lợi dưỡng,’ thì phạm tội pācittiya.”
171. ‘Vị tỳ khưu nào cho y phục đến vị tỳ khưu ni không phải là bà con, ngoại trừ việc trao đổi, thì phạm tội pācittiya.’
176. “Vị tỳ khưu nào may hoặc bảo người khác may y phục cho vị tỳ khưu ni không phải là quyến thuộc thì phạm tội pācittiya.”
“Vị tỳ khưu nào cùng thỏa thuận với tỳ khưu ni rồi đi trên cùng một con đường dài, cho đến cả một khoảng đường giữa hai làng, thì phạm tội pācittiya.”
182. “Vị tỳ khưu nào cùng thỏa thuận với tỳ khưu ni rồi đi trên cùng một con đường dài, cho đến cả một khoảng đường giữa hai làng, ngoại trừ trường hợp đúng thời điểm, thì phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là trường hợp đúng thời điểm: Con đường là con đường cần phải đi với đoàn lữ hành, được xem là có hiểm họa, có sự nguy hiểm – đây là trường hợp đúng thời điểm ở đây.”
“Vị tỳ khưu nào hẹn cùng với tỳ khưu ni rồi cùng lên một chiếc thuyền, đi ngược dòng hay đi xuôi dòng, thì phạm tội pācittiya.”
‘Vị tỳ-khưu nào biết mà thọ dụng vật thực khất thực do tỳ-khưu-ni sắp đặt thì phạm tội pācittiya.’
199. “Vị tỳ-khưu nào cùng với một tỳ-khưu-ni ngồi riêng một mình ở nơi kín đáo thì phạm tội pācittiya.”
Phẩm Ovāda, là phẩm thứ ba, đã kết thúc.
4. Phẩm Bhojana
203. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī, trong khu vườn Jetavana của trưởng giả Anāthapiṇḍika. Cũng vào lúc bấy giờ, ở không xa thành Sāvatthī, vật thực cúng dường tại nhà trọ của một hội nào đó đã được chuẩn bị sẵn. Các tỳ-khưu nhóm sáu vị vào buổi sáng, sau khi đắp y, mang bát và y, đi vào thành Sāvatthī để khất thực, do không nhận được vật thực nên đã đi đến nhà trọ. Dân chúng nói: “Thật lâu rồi các ngài mới đến,” và đã kính cẩn phục vụ họ. Sau đó, các tỳ-khưu nhóm sáu vị vào ngày thứ hai ... (v.v.) ... vào ngày thứ ba, vào buổi sáng, sau khi đắp y, mang bát và y, đi vào thành Sāvatthī để khất thực, do không nhận được vật thực nên đã đi đến nhà trọ và dùng bữa. Bấy giờ, các tỳ-khưu nhóm sáu vị đã khởi lên suy nghĩ này: “Chúng ta đi về tu viện để làm gì! Ngày mai cũng sẽ phải đến đây thôi,” rồi họ cứ ở lại đó và dùng vật thực cúng dường tại nhà trọ. Các du sĩ ngoại đạo phải rời đi. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và nói xấu rằng: “Tại sao các sa-môn Thích tử lại cứ ở lại đây và dùng vật thực cúng dường tại nhà trọ! Vật thực cúng dường tại nhà trọ này đâu phải chỉ dành cho họ; vật thực cúng dường tại nhà trọ này là dành cho tất cả mọi người.”
205. “Vị tỳ khưu không bệnh chỉ được dùng vật thực cúng dường tại nhà nghỉ công cộng một lần. Nếu dùng nhiều hơn thế, phạm tội pācittiya.”
“Ăn theo nhóm, ngoại trừ các thời điểm (được cho phép), phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là thời điểm (được cho phép). Thời điểm bị bệnh – đây là thời điểm (được cho phép) trong trường hợp ấy.”
‘Do việc dùng bữa theo nhóm, ngoại trừ trường hợp đúng thời, là phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là trường hợp đúng thời: Thời điểm bị bệnh, thời điểm dâng y, thời điểm làm y – đây là trường hợp đúng thời ở đây.’
“Ăn bữa ăn kế bữa ăn, ngoại trừ trường hợp đúng thời, phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là trường hợp đúng thời: thời bệnh – đây là trường hợp đúng thời ở đây.”
225. “Ăn bữa ăn kế bữa ăn, ngoại trừ trường hợp đúng thời, phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là trường hợp đúng thời: thời bệnh, thời dâng y, thời làm y – đây là trường hợp đúng thời ở đây.”
232. ‘Vị tỳ khưu đã đi đến một gia đình, nếu được người ta mang đến mời nhận bánh trái hoặc bột rang, vị tỳ khưu nào muốn nhận thì được phép nhận hai hoặc ba bát đầy. Nếu nhận nhiều hơn thế thì phạm tội pācittiya. Sau khi đã nhận hai hoặc ba bát đầy, vị ấy nên mang ra khỏi nơi đó rồi chia sớt cùng với các vị tỳ khưu. Đây là cách hành xử đúng đắn trong trường hợp ấy.’
238. “Vị tỳ-khưu nào đã ăn xong, đã được mời bảo ‘đủ rồi,’ mà lại nhai hoặc ăn vật thực loại cứng hay vật thực loại mềm chưa được làm thành phần còn lại, thì phạm tội pācittiya.”
243. “Vị tỳ khưu nào, trong khi biết rõ, với ý muốn làm cho mất thể diện, mời một vị tỳ khưu đã dùng bữa, đã từ chối, bằng cách mang đến vật thực loại cứng hoặc vật thực loại mềm không phải là phần dư thừa và nói rằng: ‘Này tỳ khưu, hãy nhai hoặc hãy dùng đi,’ khi (vị kia) đã dùng xong, vị ấy phạm tội pācittiya.”
248. “Vị tỳ khưu nào nhai hoặc ăn vật thực loại nhai hoặc vật thực loại ăn vào lúc phi thời, thì phạm tội pācittiya.”
253. “Vị tỳ khưu nào nhai hoặc ăn vật thực loại nhai hoặc vật thực loại ăn đã được tồn trữ, thì phạm tội pācittiya.”
“Những món ăn hảo hạng nào đó, cụ thể là – bơ lỏng, bơ tươi, dầu, mật ong, đường phèn, cá, thịt, sữa, sữa đông. Vị tỳ khưu nào, sau khi xin những món ăn hảo hạng như vậy vì lợi ích của bản thân rồi dùng, thì phạm tội pācittiya.”
265. “Vị tỳ khưu nào đưa vật thực chưa được dâng cúng vào cửa miệng, ngoại trừ nước và tăm xỉa răng, phạm tội pācittiya.”
Phẩm về các bữa ăn, là phẩm thứ tư.
270. “Vị tỳ khưu nào tự tay trao vật thực loại cứng hoặc vật thực loại mềm cho người lõa thể, hoặc cho nam du sĩ ngoại đạo, hoặc cho nữ du sĩ ngoại đạo, thì phạm tội pācittiya.”
275. “Vị tỳ khưu nào, sau khi (mời) một vị tỳ khưu rằng: ‘Này hiền hữu, hãy đến đây, chúng ta sẽ vào làng hoặc thị trấn để khất thực,’ rồi dù có cho hay không cho vị ấy (vật thực gì), lại đuổi vị ấy đi (với lời lẽ): ‘Này hiền hữu, hãy đi đi. Việc nói chuyện hay ngồi cùng với hiền hữu không làm tôi thoải mái. Việc nói chuyện hay ngồi một mình làm tôi thoải mái,’ chỉ lấy lý do ấy mà không có lý do nào khác, thì phạm tội pācittiya.”
280. “Vị tỳ khưu nào đi vào và ngồi trong gia đình có người hưởng thụ chung thì phạm tội pācittiya.”
285. “Vị tỳ khưu nào ngồi cùng với người nữ ở một chỗ ngồi kín đáo và che khuất thì phạm tội pācittiya.”
290. “Vị tỳ-khưu nào ngồi riêng một mình ở nơi vắng vẻ cùng với người mẫu-già-ma thì phạm tội pācittiya.”
299. “Vị tỳ khưu nào, trong khi đã được mời và có vật thực, không xin phép vị tỳ khưu có mặt, đi đến các gia đình vào lúc trước bữa ăn hoặc vào lúc sau bữa ăn, ngoại trừ trường hợp đúng thời, thì phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là trường hợp đúng thời: Thời điểm dâng y, thời điểm làm y – đây là trường hợp đúng thời ở đây.”
306. ‘Vị tỳ khưu không có bệnh nên chấp nhận lời thỉnh mời về dược phẩm trong bốn tháng, ngoại trừ lời thỉnh mời lại, ngoại trừ lời thỉnh mời thường xuyên; nếu vị ấy chấp nhận vượt quá giới hạn đó, phạm tội pācittiya.’
313. “Vị tỳ khưu nào đi xem quân đội xuất trận, ngoại trừ trường hợp có duyên sự tương tự, vị ấy phạm tội pācittiya.”
Quân đội có nghĩa là tượng binh, mã binh, xa binh, bộ binh. Tượng binh là (đơn vị) mười hai người. Mã binh là (đơn vị) ba người. Xa binh là (đơn vị) bốn người. Bộ binh là bốn người tay cầm cung tên. Đi để xem, phạm tội dukkaṭa. Đứng ở nơi nào mà nhìn thấy, phạm tội pācittiya. Rời khỏi tầm nhìn rồi nhìn lại nhiều lần, phạm tội pācittiya.
318. ‘Nếu vị tỳ khưu có bất cứ lý do nào để đi đến quân đội, vị tỳ khưu ấy được phép ở lại trong quân đội hai hoặc ba đêm. Nếu vị ấy ở lại quá thời gian ấy thì phạm tội pācittiya.’
‘Nếu vị ấy ở lại quá thời gian ấy’ có nghĩa là: vào ngày thứ tư, nếu ở lại trong quân đội cho đến khi mặt trời lặn thì phạm tội pācittiya.
323. ‘Nếu vị tỳ khưu trong khi đang ở trong quân đội hai hoặc ba đêm mà đi đến xem trận chiến, hoặc xem điểm binh, hoặc xem dàn trận, hoặc xem duyệt binh thì phạm tội pācittiya.’
Phẩm Acelaka, phẩm thứ năm.
327. Do việc uống rượu nấu và rượu ngâm, phạm tội pācittiya.
331. Do việc cù lét bằng ngón tay, phạm tội pācittiya.
341. “Thiếu cung kính thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).”
346. “Vị tỳ khưu nào hù dọa một tỳ khưu thì phạm tội pācittiya.”
“Vị tỳ khưu nào, không bị bệnh, với ý muốn sưởi ấm, tự mình nhóm lửa hoặc bảo người khác nhóm lửa, thì phạm tội pācittiya.”
“Vị tỳ khưu nào tắm trong vòng nửa tháng, ngoại trừ trường hợp đúng thời điểm, thì phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là thời điểm: một tháng rưỡi còn lại của mùa nóng và tháng đầu tiên của mùa mưa, tức là hai tháng rưỡi này là mùa nóng, mùa oi bức – đây là thời điểm trong trường hợp ấy.”
“Vị tỳ khưu nào tắm trong vòng nửa tháng, ngoại trừ trường hợp đúng thời điểm, thì phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là thời điểm: Một tháng rưỡi còn lại của mùa nóng và tháng đầu tiên của mùa mưa, hai tháng rưỡi này là thời điểm nóng nực, thời điểm oi bức, thời điểm bị bệnh, thời điểm làm công việc – đây là thời điểm trong trường hợp ấy.”
368. “Lại nữa, vị tỳ khưu sau khi được y mới nên thực hiện một trong ba cách làm cho biến sắc: hoặc màu xanh, hoặc màu bùn, hoặc màu đen sẫm. Nếu vị tỳ khưu không thực hiện một trong ba cách làm cho biến sắc mà sử dụng y mới thì phạm tội pācittiya.”
373. “Vị tỳ khưu nào, sau khi tự mình xác định chủ quyền y cho vị tỳ khưu, hoặc cho tỳ khưu ni, hoặc cho vị nữ tập sự, hoặc cho vị sa-di, hoặc cho vị sa-di-ni, mà sử dụng y ấy trong khi chưa được hoàn lại thì phạm tội pācittiya.”
378. ‘Vị tỳ khưu nào, hoặc giấu, hoặc bảo giấu bình bát, hoặc y, hoặc tọa cụ, hoặc ống kim, hoặc dây thắt lưng của tỳ khưu, dù chỉ là có ý muốn nói đùa, thì phạm pācittiya.’
Phẩm Uống Rượu Mê Say, là phẩm thứ sáu.
383. “Vị tỳ khưu nào cố ý giết hại mạng sống của chúng sanh thì phạm tội pācittiya.”
388. “Vị tỳ khưu nào, trong khi biết, dùng nước có chúng sanh thì phạm tội pācittiya.”
393. “Vị tỳ khưu nào, trong khi biết, khơi lại vụ tranh tụng đã được dàn xếp đúng theo Pháp để làm lại yết ma thì phạm tội pācittiya.”
398. “Vị tỳ khưu nào, trong khi biết được tội trọng của một tỳ khưu mà che giấu, thì phạm tội pācittiya.”
403. “Vị tỳ-khưu nào, trong khi biết, làm lễ cụ túc cho người chưa đủ hai mươi tuổi, thì người ấy không thành tựu lễ cụ túc, và các vị tỳ-khưu kia đáng bị quở trách. Đây là tội pācittiya trong trường hợp ấy.”
408. “Vị tỳ khưu nào đã biết mà lại thỏa thuận rồi đi chung một đoạn đường dài với đoàn người buôn gian lận, cho đến chỉ là khoảng cách một ngôi làng, thì phạm tội pācittiya.”
413. “Vị tỳ khưu nào hẹn ước với một người nữ để đi chung một quãng đường dài, cho đến cả khoảng cách giữa làng này với làng khác, thì phạm tội pācittiya.”
418. “Vị tỳ khưu nào nói như vầy: ‘Tôi hiểu Giáo pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng như thế này, rằng các pháp được đức Thế Tôn nói là các pháp gây trở ngại, (khi) thực hành chúng thì không đủ để gây trở ngại,’ vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, chớ có nói như vậy, chớ có vu khống đức Thế Tôn, việc vu khống đức Thế Tôn là không tốt đẹp, đức Thế Tôn không có nói như vậy. Thưa hiền giả, bằng nhiều phương cách, các pháp gây trở ngại đã được đức Thế Tôn nói là (thực sự) gây trở ngại, và khi thực hành chúng thì đủ để gây trở ngại.’ Và nếu vị tỳ khưu ấy, đang được các tỳ khưu nói (như thế), vẫn cứ cố chấp như vậy, vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu khiển trách cho đến lần thứ ba để từ bỏ (tà kiến) ấy. Và nếu đang được khiển trách cho đến lần thứ ba, vị ấy từ bỏ (tà kiến) ấy, điều ấy là tốt đẹp; nếu không từ bỏ, thì phạm tội pācittiya.”
Dù được các vị tỳ khưu ấy nói như vậy, tỳ khưu Ariṭṭha, người trước đây từng là kẻ giết kên kên, vẫn khăng khăng nói, cố chấp, bám víu vào tà kiến xấu xa ấy một cách mạnh mẽ: “Thưa các hiền giả, đúng vậy, tôi hiểu giáo pháp do đức Thế Tôn thuyết giảng rằng: ‘Những pháp được đức Thế Tôn gọi là các pháp gây chướng ngại, khi thực hành chúng thì không đủ để gây ra chướng ngại.’” Và khi các vị tỳ khưu ấy không thể làm cho tỳ khưu Ariṭṭha, người trước đây từng là kẻ giết kên kên, từ bỏ tà kiến xấu xa ấy, khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã trình bày sự việc này lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn, nhân duyên sự này, trong trường hợp này, đã cho triệu tập Tăng chúng và hỏi tỳ khưu Ariṭṭha, người trước đây từng là kẻ giết kên kên: “Này Ariṭṭha, có thật là ngươi đã khởi lên tà kiến xấu xa như vầy không: ‘Tôi hiểu giáo pháp do đức Thế Tôn thuyết giảng theo cách mà những pháp được đức Thế Tôn gọi là các pháp gây chướng ngại, khi thực hành chúng thì không đủ để gây ra chướng ngại’?” (Vị ấy đáp:) “Bạch đức Thế Tôn, đúng vậy, con hiểu giáo pháp do đức Thế Tôn thuyết giảng rằng: ‘Những pháp được đức Thế Tôn gọi là các pháp gây chướng ngại, khi thực hành chúng thì không đủ để gây ra chướng ngại.’”
424. ‘Vị tỳ khưu nào, trong khi biết rõ, cùng ăn, hoặc cùng ở, hoặc cùng ngủ chung với một tỳ khưu có tà kiến như vậy, chưa được xử lý đúng theo Pháp và chưa từ bỏ tà kiến ấy, thì phạm tội pācittiya.’
429. “Nếu một sa-di nói như vầy: ‘Tôi hiểu giáo pháp do đức Thế Tôn thuyết giảng như thế này: rằng các pháp được đức Thế Tôn gọi là pháp gây chướng ngại ấy, khi thực hành chúng, không có khả năng gây ra chướng ngại,’ sa-di ấy nên được các tỳ-khưu nói như vầy: ‘Này hiền giả sa-di, chớ có nói như vậy, chớ có vu khống đức Thế Tôn, việc vu khống đức Thế Tôn là không tốt đẹp, đức Thế Tôn không có nói như vậy. Này hiền giả sa-di, bằng nhiều phương diện, các pháp gây chướng ngại đã được đức Thế Tôn nói là pháp gây chướng ngại. Và chúng có khả năng gây ra chướng ngại cho người thực hành.’ Và nếu sa-di ấy, được các tỳ-khưu nói như vậy, vẫn cứ cố chấp như thế, sa-di ấy nên được các tỳ-khưu nói như vầy: ‘Này hiền giả sa-di, kể từ hôm nay, ngươi không được gọi đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư nữa. Và việc mà các sa-di khác được phép ngủ chung với các tỳ-khưu trong hai, ba đêm, ngươi cũng không được phép nữa. Hãy đi đi, kẻ đáng ghét, hãy biến đi.’ Vị tỳ-khưu nào, trong khi biết rõ, thuyết phục, hoặc cho phục vụ, hoặc cùng ăn, hoặc cùng ngủ với một sa-di đã bị trục xuất như vậy, thì phạm tội pācittiya.”
Phẩm Sappāṇaka, phẩm thứ bảy, đã kết thúc.
8. Phẩm Sahadhammika
434. “Vị tỳ khưu nào, khi đang được các vị tỳ khưu khác nói đến đúng theo Pháp, lại nói như vầy: ‘Này chư hiền, tôi sẽ chưa thực hành học giới này cho đến khi tôi chưa hỏi một vị tỳ khưu khác thông thạo, một vị trì luật,’ thì phạm tội pācittiya. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang muốn học hỏi thì cần phải biết, cần phải hỏi, cần phải thẩm xét. Đây là điều thích hợp trong trường hợp ấy.”
439. “Vị tỳ khưu nào, khi Pātimokkha đang được đọc lên, lại nói như vầy: ‘Có ích gì với những học giới nhỏ nhặt, vụn vặt này được đọc lên, chúng chỉ đưa đến sự hối hận, sự phiền não, và sự bối rối mà thôi,’ thì do việc chê bai học giới, phạm tội pācittiya.”
444. ‘Vị tỳ khưu nào, mỗi nửa tháng khi Pātimokkha đang được tụng đọc, lại nói như vầy: ‘Chính bây giờ tôi mới biết rằng, thì ra pháp này cũng đã được truyền lại trong kinh, đã được bao gồm trong kinh, và được tụng đọc mỗi nửa tháng.’ Nếu các tỳ khưu khác biết về vị tỳ khưu ấy rằng vị này đã từng ngồi nghe tụng đọc Pātimokkha hai hoặc ba lần rồi – huống nữa là nhiều hơn – thì vị tỳ khưu ấy không được thoát khỏi tội lỗi bằng cách giả vờ không biết, và tội nào đã phạm ở đó thì phải được xử trị đúng theo Pháp, hơn nữa, sự mê mờ phải được áp đặt lên vị ấy: ‘Này hiền giả, thật bất lợi cho hiền giả, thật không may cho hiền giả, khi Pātimokkha đang được tụng đọc mà hiền giả lại không chú tâm, không thành kính lắng nghe.’ Đây là tội pācittiya trong trường hợp giả vờ không biết ấy.’
450. “Vị tỳ khưu nào, do tức giận và không hài lòng, đánh đập một tỳ khưu khác, thì phạm tội pācittiya.”
455. “Vị tỳ khưu nào, do tức giận và không hài lòng, giơ tay hăm dọa một tỳ khưu khác, thì phạm tội pācittiya.”
460. 'Vị tỳ khưu nào vu khống một vị tỳ khưu về tội saṅghādisesa một cách vô căn cứ, phạm tội pācittiya.'
465. 'Vị tỳ khưu nào cố ý gây ra sự hối hận cho một vị tỳ khưu, chỉ với mục đích duy nhất rằng: 'Như thế này, vị ấy sẽ không được thoải mái dù chỉ trong chốc lát,' và không vì lý do nào khác, phạm tội pācittiya.'
470. ‘Vị tỳ khưu nào đứng ở nơi có thể nghe lén được các tỳ khưu đang có sự cãi vã, đang có sự tranh chấp, đang có sự luận쟁 với ý nghĩ rằng: ‘Những gì các vị này sẽ nói, ta sẽ nghe,’ chỉ vì lý do ấy mà thôi, không có lý do nào khác, thì phạm tội pācittiya.’
475. “Vị tỳ khưu nào sau khi đã trao sự ưng thuận cho các yết ma đúng Pháp lại rơi vào tình trạng khiển trách thì phạm tội pācittiya.”
474. Bấy giờ, đức Phật Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Và vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm sáu đã có hành vi không đúng đắn, rồi khi một yết ma đang được tiến hành cho từng vị một thì họ lại phản đối. Và vào lúc bấy giờ, Tăng chúng đã tụ họp vì một công việc cần làm nào đó. Các tỳ khưu nhóm sáu đang làm công việc may y nên đã trao sự ưng thuận cho một vị. Khi ấy, Tăng chúng đã thực hiện yết ma cho vị ấy (với ý nghĩ): “Này chư hiền, vị tỳ khưu nhóm sáu này đã đến một mình, nào! chúng ta hãy thực hiện yết ma cho vị này.” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đi đến nơi các tỳ khưu nhóm sáu đang ở. Các tỳ khưu nhóm sáu đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: “Này hiền giả, Tăng chúng đã làm gì vậy?” “Này chư hiền, Tăng chúng đã thực hiện yết ma cho tôi.” “Này hiền giả, chúng tôi đã không trao sự ưng thuận vì mục đích này là: ‘(Tăng chúng) sẽ thực hiện yết ma cho ngươi.’ Và nếu chúng tôi đã biết rằng: ‘(Tăng chúng) sẽ thực hiện yết ma cho ngươi’ thì chúng tôi đã không trao sự ưng thuận.” Các vị tỳ khưu thiểu dục ... cho đến ... đã chê bai, chỉ trích, phàn nàn rằng: “Tại sao các tỳ khưu nhóm sáu sau khi đã trao sự ưng thuận cho các yết ma đúng Pháp lại có thể rơi vào tình trạng khiển trách được chứ?” ... cho đến ... “Này các tỳ khưu, có thật là các ngươi sau khi đã trao sự ưng thuận cho các yết ma đúng Pháp lại rơi vào tình trạng khiển trách không?” “Bạch Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật Thế Tôn đã quở trách ... cho đến ... “Này các kẻ rỗng tuếch kia, tại sao các ngươi sau khi đã trao sự ưng thuận cho các yết ma đúng Pháp lại có thể rơi vào tình trạng khiển trách chứ! Này các kẻ rỗng tuếch kia, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin được tin tưởng ... cho đến ... Và này các tỳ khưu, các ngươi nên trình bày học giới này như vầy: –
480. “Vị tỳ khưu nào trong khi Tăng chúng đang có lời bàn luận để đi đến quyết định mà không trao sự ưng thuận rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và bỏ đi thì phạm tội pācittiya.”
485. “Vị tỳ khưu nào, sau khi Tăng chúng hòa hợp đã trao y, về sau lại có thái độ chê bai rằng: ‘Các tỳ khưu đã tùy theo sự quen biết mà chuyển vật cúng dường của Tăng chúng,’ thì phạm tội pācittiya.”
490. ‘Vị tỳ khưu nào, trong khi biết rõ, chuyển lợi lộc của Tăng chúng đã được hướng đến cho cá nhân, thì phạm tội pācittiya.’
Phẩm Sahadhammika, thứ tám.
Vị tỳ khưu nào, ngoại trừ ở bên trong tu viện, tự mình nhặt lấy hay bảo người khác nhặt lấy vật báu hay vật được xem là vật báu thì phạm tội Ưng Đối Trị (pācittiya).
505. “Vị tỳ khưu nào nhặt lên hoặc cho người nhặt lên vật báu hoặc vật được xem là vật báu, ngoại trừ ở trong khuôn viên tu viện hoặc ở trong nơi trú ngụ, thì phạm tội pācittiya. Lại nữa, vị tỳ khưu nên nhặt lên hoặc cho người nhặt lên rồi cất giữ vật báu hoặc vật được xem là vật báu ở trong khuôn viên tu viện hoặc ở trong nơi trú ngụ, với ý nghĩ rằng: ‘Vật này của ai thì người ấy sẽ đến lấy đi.’ Đây là cách hành xử đúng đắn trong trường hợp ấy.”
“Vị tỳ khưu nào vào làng trong lúc phi thời mà không xin phép một vị tỳ khưu có mặt, vị ấy phạm tội pācittiya.”
517. ‘Vị tỳ khưu nào cho làm ống đựng kim bằng xương, hoặc bằng ngà, hoặc bằng sừng, thì phạm tội pācittiya phải đập bỏ.’
522. “Vị tỳ khưu cho làm giường hoặc ghế mới thì nên cho làm có chân cao tám ngón tay của đức Sugata, ngoại trừ thanh giường bên dưới; vị nào cho làm vượt quá mức ấy thì phạm tội pācittiya cần phải cắt bỏ.”
527. “Vị tỳ khưu nào cho làm giường hoặc ghế được nhồi bông gòn thì phạm tội pācittiya cần phải rạch bỏ.”
“Vị tỳ khưu khi cho làm tọa cụ thì nên cho làm đúng kích thước. Ở đây, đây là kích thước: chiều dài hai gang tay, theo gang tay của đấng Thiện Thệ; chiều ngang một gang rưỡi. Vị nào vượt quá kích thước ấy thì phạm tội pācittiya phải cắt bỏ.”
538. “Vị tỳ khưu khi cho làm y phủ ghẻ thì nên cho làm đúng kích thước. Ở đây, đây là kích thước: chiều dài bốn gang tay, theo gang tay của đấng Thiện Thệ; chiều ngang hai gang tay. Vị nào vượt quá kích thước ấy thì phạm tội pācittiya phải cắt bỏ.”
543. “Vị tỳ khưu trong khi may y tắm mưa nên may đúng kích thước. Đây là kích thước của nó: chiều dài sáu gang tay, theo gang tay của đức Như Lai; chiều rộng hai gang rưỡi. Vị nào làm vượt quá kích thước này, phạm tội pācittiya cần phải cắt bỏ.”
548. “Vị tỳ khưu nào may y có kích thước bằng y của đức Như Lai hoặc lớn hơn, phạm tội pācittiya cần phải cắt bỏ. Đây là kích thước y của đức Như Lai: chiều dài chín gang tay, theo gang tay của đức Như Lai; chiều rộng sáu gang tay. Đây là kích thước y của đức Như Lai.”
Thưa chư hiền, chín mươi hai pháp pācittiya đã được tụng đọc. Về các pháp ấy, tôi xin hỏi chư hiền: ‘Có phải quý vị trong sạch trong các pháp ấy không?’ Lần thứ hai, tôi cũng hỏi: ‘Có phải quý vị trong sạch trong các pháp ấy không?’ Lần thứ ba, tôi cũng hỏi: ‘Có phải quý vị trong sạch trong các pháp ấy không?’ Chư hiền đã trong sạch trong các pháp ấy, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
6. Chương Pāṭidesanīya
Thưa chư hiền, lại nữa, bốn pháp pāṭidesanīya này
1. Học giới Pāṭidesanīya thứ nhất
553. ‘Vị tỳ-khưu nào, từ tay của một tỳ-khưu-ni không phải là bà con đã đi vào trong xóm làng, tự tay nhận lấy vật thực cứng hoặc vật thực mềm rồi ăn hoặc dùng, vị tỳ-khưu ấy phải sám hối rằng: “Thưa chư hiền, tôi đã phạm một pháp đáng bị quở trách, không thích hợp, là pháp pāṭidesanīya. Tôi xin sám hối pháp ấy.”’
558. ‘Lại nữa, các vị tỳ khưu được mời đến các gia đình và đang dùng bữa, nếu ở đấy có vị tỳ khưu ni đứng với vẻ sắp đặt rằng: ‘Hãy dâng món canh vào đây, hãy dâng cơm vào đây,’ vị tỳ khưu ni ấy cần được các vị tỳ khưu kia cho lui ra rằng: ‘Này hiền tỷ, xin hãy lui ra trong khi các vị tỳ khưu đang dùng bữa.’ Nếu không có dù chỉ một vị tỳ khưu nói lên được việc cho vị tỳ khưu ni ấy lui ra rằng: ‘Này hiền tỷ, xin hãy lui ra trong khi các vị tỳ khưu đang dùng bữa,’ thì các vị tỳ khưu ấy cần phải phát lồ rằng: ‘Thưa chư hiền, chúng tôi đã phạm phải pháp đáng bị quở trách, không thích hợp, là tội pāṭidesanīya. Chúng tôi xin phát lồ pháp ấy.’
2. Điều học Pāṭidesanīya thứ hai
“Lại nữa, những gia tộc nào đã được công nhận là gia tộc hữu học, vị tỳ khưu nào tại những gia tộc đã được công nhận là hữu học như vậy, sau khi tự tay nhận lấy vật thực cứng hay vật thực mềm rồi ăn hoặc dùng, vị tỳ khưu ấy phải sám hối rằng: ‘Thưa chư hiền, tôi đã phạm một pháp đáng bị quở trách, không thích hợp, thuộc loại pāṭidesanīya. Tôi xin sám hối pháp ấy.’”
“Lại nữa, có những trú xứ trong rừng được xem là có sự nguy hiểm, có sự đáng sợ. Vị tỳ khưu nào, trong những trú xứ có tính chất như thế, sau khi tự tay nhận lãnh vật thực để ăn hoặc vật thực để dùng chưa được báo trước ở bên trong tu viện, rồi ăn hoặc dùng, vị tỳ khưu ấy phải sám hối rằng: ‘Thưa các hiền giả, tôi đã phạm phải pháp đáng bị quở trách, không thích hợp, là pháp ưng đối thú. Tôi xin sám hối pháp ấy.’”
Thưa chư Đại đức, bốn pháp Ưng Đối Thú đã được tụng đọc. Trong các pháp ấy, tôi xin hỏi chư Đại đức: ‘Có phải các ngài trong sạch trong các pháp ấy không?’ Lần thứ nhì, tôi xin hỏi: ‘Có phải các ngài trong sạch trong các pháp ấy không?’ Lần thứ ba, tôi xin hỏi: ‘Có phải các ngài trong sạch trong các pháp ấy không?’ Chư Đại đức trong sạch trong các pháp ấy, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
Điều học Ưng Đối Thú thứ tư đã kết thúc.
Thưa chư Đại đức, lại nữa, các pháp Ưng Học này
1. Phẩm Mặc Y Ngay Ngắn
‘Ta sẽ mặc y nội cho ngay ngắn,’ đây là điều học nên thực hành.
‘Ta sẽ đắp y cho ngay ngắn,’ đây là điều học nên thực hành.
‘Ta sẽ đi vào trong khu dân cư với thân được che kín cẩn thận,’ đây là điều học nên thực hành.
‘Ta sẽ ngồi trong khu dân cư với thân được che kín cẩn thận,’ đây là điều học nên thực hành.
“‘Ta sẽ đi vào trong khu dân cư với sự thu thúc,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ ngồi trong khu dân cư với sự thu thúc,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ đi vào trong khu dân cư với mắt nhìn xuống,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ ngồi trong khu dân cư với mắt nhìn xuống,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không đi vào trong khu dân cư với y được vén lên,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không ngồi trong xóm làng trong lúc vén y lên,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Phẩm Mặc Y Ngay Ngắn, phẩm thứ nhất.
2. Phẩm Cười Lớn Tiếng
“‘Ta sẽ không đi trong xóm làng trong lúc cười lớn tiếng,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không ngồi trong xóm làng trong lúc cười lớn tiếng,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ đi trong xóm làng với tiếng nói nhỏ nhẹ,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ ngồi trong xóm làng với tiếng nói nhỏ nhẹ,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không đi trong xóm làng trong lúc lắc lư thân mình,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không ngồi ở trong xóm trong khi rung lắc thân,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
“‘Ta sẽ không đi ở trong xóm trong khi vung vẩy cánh tay,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
“‘Ta sẽ không ngồi ở trong xóm trong khi vung vẩy cánh tay,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
“‘Ta sẽ không đi ở trong xóm trong khi lắc đầu,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
“‘Ta sẽ không ngồi ở trong xóm trong khi lắc đầu,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
Phẩm Ujjagghika thứ hai.
3. Phẩm Chống Nạnh
“‘Ta sẽ không đi ở trong xóm trong khi chống nạnh,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
“‘Ta sẽ không chống nạnh ngồi ở trong khu dân cư,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không trùm đầu đi vào trong khu dân cư,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không trùm đầu ngồi ở trong khu dân cư,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không đi nhón gót ở trong khu dân cư,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không ngồi bó gối ở trong khu dân cư,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ cung kính nhận vật thực khất thực,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ có tưởng trong bát mà nhận vật thực khất thực,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ nhận vật thực khất thực với món canh vừa phải,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Phẩm Chống Nạnh, thứ ba.
“‘Ta sẽ cung kính thọ thực vật thực khất thực,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ có tưởng trong bát mà thọ thực vật thực khất thực,’ đây là điều học nên được thực hành.”
‘Ta sẽ dùng vật thực khất thực theo thứ tự,’ việc học tập nên được thực hành.
‘Ta sẽ dùng vật thực khất thực với lượng canh vừa phải,’ việc học tập nên được thực hành.
‘Ta sẽ không dùng vật thực khất thực bằng cách ấn xuống từ đỉnh đống cơm,’ việc học tập nên được thực hành.
‘Ta sẽ không dùng cơm để che đậy món canh hay món đồ ăn do muốn có nhiều hơn,’ việc học tập nên được thực hành.
“‘Ta sẽ không xin canh hoặc cơm vì lợi ích của bản thân trong khi không có bệnh rồi ăn,’ cần phải học tập như vậy.”
“‘Ta sẽ không nhìn vào bát của người khác với ý tìm lỗi,’ cần phải học tập như vậy.”
“‘Ta sẽ không làm miếng cơm quá lớn,’ cần phải học tập như vậy.”
“‘Ta sẽ làm miếng cơm cho tròn,’ cần phải học tập như vậy.”
Phẩm Cung Kính là phẩm thứ tư.
“‘Ta sẽ không mở miệng khi miếng cơm chưa được đưa đến,’ cần phải học tập như vậy.”
“‘Ta sẽ không nói chuyện trong khi miệng đang có miếng cơm,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không thọ thực bằng cách tung vắt cơm lên,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không thọ thực bằng cách cắn đứt miếng cơm,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không thọ thực bằng cách phồng má,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không thọ thực bằng cách vẫy tay,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không thọ thực bằng cách làm rơi vãi hột cơm,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không ăn và thè lưỡi ra,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không ăn và phát ra tiếng chép miệng,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Phẩm Về Miếng Cơm, thứ năm.
“‘Ta sẽ không ăn và phát ra tiếng sột soạt,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không ăn và liếm tay,’ đây là điều học nên được thực hành.”
628. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đức Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī, ở Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu ăn và liếm tay... v.v...
“‘Ta sẽ không ăn và liếm bát,’ đây là điều học nên được thực hành.”
629. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đức Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī, ở Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu ăn và liếm bát... v.v...
“‘Ta sẽ không ăn và liếm môi,’ đây là điều học nên được thực hành.”
‘Ta sẽ không nhận lấy vật đựng nước uống bằng tay có dính thức ăn,’ đây là điều học nên được thực hành.
‘Ta sẽ không đổ nước rửa bát có dính cơm thừa ở bên trong khu dân cư,’ đây là điều học nên được thực hành.
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh mà tay đang cầm dù,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh mà tay đang cầm gậy,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh mà tay đang cầm đao,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh mà tay đang cầm vũ khí,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
Phẩm Surusuru, thứ sáu.
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh mà đang mang giày dép,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không có bệnh đang mang giày dép,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không có bệnh đang đi trên cỗ xe,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không có bệnh đang nằm trên giường,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không có bệnh đang ngồi có vòng vải quấn,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không có bệnh đang quấn khăn trên đầu,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không có bệnh đang có đầu được trùm kín,’ đây là điều học nên được thực hành.”
“Cần phải học tập điều: ‘Ta sẽ không ngồi trên đất thuyết pháp cho người không có bệnh đang ngồi trên ghế.’”
“‘Ta sẽ không ngồi trên ghế thấp thuyết pháp cho người không có bệnh đang ngồi trên ghế cao,’ cần phải học tập điều này.”
“‘Ta sẽ không đứng thuyết pháp cho người không có bệnh đang ngồi,’ cần phải học tập điều này.”
‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh đi phía trước trong khi đang đi phía sau,’ đây là điều học nên được thực hành.
‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh đi trên đường trong khi đang đi ngoài đường,’ đây là điều học nên được thực hành.
‘Ta sẽ không đại tiện hay tiểu tiện trong khi đứng lúc không bệnh,’ đây là điều học nên được thực hành.
‘Ta sẽ không đại tiện, hay tiểu tiện, hay khạc nhổ trên cỏ xanh trong khi không bệnh,’ đây là điều học nên được thực hành.
‘Ta sẽ không đại tiện, hay tiểu tiện, hay khạc nhổ trong nước trong khi không bệnh,’ đây là điều học nên được thực hành.
Phẩm Pāduka thứ bảy.
Này chư hiền, các pháp Ưng Học đã được tụng đọc. Trong vấn đề ấy, tôi xin hỏi chư hiền: ‘Có phải quý vị được trong sạch trong các điều ấy không?’ Lần thứ nhì, tôi cũng hỏi: ‘Có phải quý vị được trong sạch trong các điều ấy không?’ Lần thứ ba, tôi cũng hỏi: ‘Có phải quý vị được trong sạch trong các điều ấy không?’ Chư hiền đã được trong sạch trong các điều ấy, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
Các pháp Ưng Học đã chấm dứt.
8. Các Pháp Dàn Xếp Tranh Tụng
Này chư hiền, lại nữa, bảy pháp dàn xếp tranh tụng này
655. Để dàn xếp, để làm lắng dịu các vụ tranh tụng đã phát sanh, đang phát sanh, cần phải áp dụng: (1) luật xử theo sự hiện diện, (2) luật xử theo sự ghi nhớ, (3) luật xử theo sự không mê loạn, (4) việc cần được thực hiện theo sự thú nhận, (5) (luật xử theo) ý kiến của số đông, (6) (luật xử theo) hành vi xấu xa của người ấy, (7) (luật xử theo cách) lấy cỏ che lấp.
Các pháp Dàn Xếp Tranh Tụng đã chấm dứt.
Con xin cung kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Bản dịch: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Dvemātikāpāḷi
Theravāda Bhikkhupātimokkha
Pubbakaraṇaṁ
Sammajjanī padīpo ca, udakaṁ āsanena ca;
Uposathassa etāni, “pubbakaraṇa”nti vuccati.
Pubbakiccaṁ
Chanda, pārisuddhi, utukkhānaṁ, bhikkhugaṇanā ca ovādo;
Uposathassa etāni, “pubbakicca”nti vuccati.
Pattakallaaṅgā
Uposatho, yāvatikā ca bhikkhū kammappattā;
Sabhāgāpattiyo ca na vijjanti;
Vajjanīyā ca puggalā tasmiṁ na honti, “pattakalla”nti vuccati.
Pubbakaraṇapubbakiccāni samāpetvā desitāpattikassa samaggassa bhikkhusaṅghassa anumatiyā pātimokkhaṁ uddisituṁ ārādhanaṁ karoma.
Nidānuddeso
Suṇātu me bhante saṅgho.
Ajjuposatho pannaraso,
yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho uposathaṁ kareyya, pātimokkhaṁ uddiseyya.
Kiṁ saṅghassa pubbakiccaṁ?
Pārisuddhiṁ āyasmanto ārocetha,
pātimokkhaṁ uddisissāmi,
taṁ sabbeva santā sādhukaṁ suṇoma manasi karoma.
Yassa siyā āpatti, so āvikareyya,
asantiyā āpattiyā tuṇhī bhavitabbaṁ,
tuṇhībhāvena kho panāyasmante “parisuddhā”ti vedissāmi.
Yathā kho pana paccekapuṭṭhassa veyyākaraṇaṁ hoti, evamevaṁ evarūpāya parisāya yāvatatiyaṁ anusāvitaṁ hoti.
Yo pana bhikkhu yāvatatiyaṁ anusāviyamāne saramāno santiṁ āpattiṁ nāvikareyya, sampajānamusāvādassa hoti.
Sampajānamusāvādo kho panāyasmanto antarāyiko dhammo vutto bhagavatā,
tasmā saramānena bhikkhunā āpannena visuddhāpekkhena santī āpatti āvikātabbā,
āvikatā hissa phāsu hoti.
Uddiṭṭhaṁ kho āyasmanto nidānaṁ.
Tatthāyasmante pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
dutiyampi pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
tatiyampi pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
parisuddhetthāyasmanto, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmīti.
Nidānaṁ niṭṭhitaṁ.
Pārājikuddeso
The monks’ rules
Preliminaries
Sweeping and lamps, setting up of water and seats;
these are to be done before the observance-day ceremony.
Preliminary duties
Consent, purity, knowing the season, and counting the monks, instruction;
these are called the preliminary duties of the observance-day ceremony.
The factors of readiness
It is the observance day, all the monks who should be present have arrived,
there are no shared offenses,
and there is no-one there who should not be present. This is called readiness.
“Having completed the duties to be done beforehand and the preliminary duties, with the assent of the monks’ community, one and all, with offenses confessed, I invite the recitation of the Monastic Code.”
The recitation of the introduction
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen.
Today is the observance day, the fifteenth.
If the Sangha is ready, it should do the observance-day ceremony, it should recite the Monastic Code.
What is the preliminary duty of the Sangha?
The venerables should declare their purity.
I will recite the Monastic Code.
Everyone present should listen to it and attend carefully.
Anyone who has committed an offense should reveal it.
If you haven’t committed any offense, you should remain silent.
If you are silent, I will regard you as pure.
Just as one responds when asked individually, so too, an announcement is made three times in this kind of gathering.
If a monk remembers an offense while the announcement is being made up to the third time, but doesn’t reveal it, he is lying in full awareness.
Lying in full awareness is called an obstacle by the Buddha.
A monk who remembers an offense and is seeking purification should therefore reveal it.
When it’s revealed, he will be at ease.
Venerables, the introduction has been recited.
In regard to this I ask you, ‘Are you pure in this?’
A second time I ask, ‘Are you pure in this?’
A third time I ask, ‘Are you pure in this?’
You are pure in this and therefore silent. I will remember it thus.
The introduction is finished.
The recitation of the rules on expulsion
Này chư hiền, bảy pháp dàn xếp tranh tụng đã được tụng đọc. Trong vấn đề ấy, tôi xin hỏi chư hiền: ‘Có phải quý vị được trong sạch trong các điều ấy không?’ Lần thứ nhì, tôi cũng hỏi: ‘Có phải quý vị được trong sạch trong các điều ấy không?’ Lần thứ ba, tôi cũng hỏi: ‘Có phải quý vị được trong sạch trong các điều ấy không?’ Chư hiền đã được trong sạch trong các điều ấy, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
Tatrime cattāro pārājikā dhammā uddesaṁ āgacchanti.
Pārājika 1. Methunadhamma
Yo pana bhikkhu bhikkhūnaṁ sikkhāsājīvasamāpanno sikkhaṁ appaccakkhāya dubbalyaṁ anāvikatvā methunaṁ dhammaṁ paṭiseveyya, antamaso tiracchānagatāyapi, pārājiko hoti asaṁvāso.
Pārājika 2. Adinnādāna
Yo pana bhikkhu gāmā vā araññā vā adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyeyya,
yathārūpe adinnādāne rājāno coraṁ gahetvā haneyyuṁ vā bandheyyuṁ vā pabbājeyyuṁ vā corosi bālosi mūḷhosi thenosīti, tathārūpaṁ bhikkhu adinnaṁ ādiyamāno
ayampi pārājiko hoti asaṁvāso.
Pārājika 3. Manussaviggaha
Yo pana bhikkhu sañcicca manussaviggahaṁ jīvitā voropeyya, satthahārakaṁ vāssa pariyeseyya, maraṇavaṇṇaṁ vā saṁvaṇṇeyya, maraṇāya vā samādapeyya
“ambho purisa kiṁ tuyhiminā pāpakena dujjīvitena, mataṁ te jīvitā seyyo”ti,
iti cittamano cittasaṅkappo anekapariyāyena maraṇavaṇṇaṁ vā saṁvaṇṇeyya, maraṇāya vā samādapeyya,
ayampi pārājiko hoti asaṁvāso.
Pārājika 4. Uttarimanussadhamma
Yo pana bhikkhu anabhijānaṁ uttarimanussadhammaṁ attupanāyikaṁ alamariyañāṇadassanaṁ samudācareyya “iti jānāmi, iti passāmī”ti,
tato aparena samayena samanuggāhīyamāno vā asamanuggāhīyamāno vā āpanno visuddhāpekkho evaṁ vadeyya “ajānamevaṁ āvuso avacaṁ jānāmi, apassaṁ passāmi, tucchaṁ musā vilapi”nti,
aññatra adhimānā,
ayampi pārājiko hoti asaṁvāso.
Uddiṭṭhā kho āyasmanto cattāro pārājikā dhammā.
Yesaṁ bhikkhu aññataraṁ vā aññataraṁ vā āpajjitvā na labhati bhikkhūhi saddhiṁ saṁvāsaṁ
yathā pure, tathā pacchā, pārājiko hoti asaṁvāso.
Tatthāyasmante pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
dutiyampi pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
tatiyampi pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
parisuddhetthāyasmanto, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmīti.
Pārājikaṁ niṭṭhitaṁ
Saṅghādisesuddeso
Ime kho panāyasmanto terasa saṅghādisesā dhammā uddesaṁ āgacchanti.
Saṅghādisesa 1. Sukkavissaṭṭhi
Sañcetanikā sukkavissaṭṭhi aññatra supinantā saṅghādiseso.
Saṅghādisesa 2. Kāyasaṁsagga
Yo pana bhikkhu otiṇṇo vipariṇatena cittena mātugāmena saddhiṁ kāyasaṁsaggaṁ samāpajjeyya hatthaggāhaṁ vā veṇiggāhaṁ vā aññatarassa vā aññatarassa vā aṅgassa parāmasanaṁ, saṅghādiseso.
Saṅghādisesa 3. Duṭṭhullavācā
Yo pana bhikkhu otiṇṇo vipariṇatena cittena mātugāmaṁ duṭṭhullāhi vācāhi obhāseyya yathā taṁ yuvā yuvatiṁ methunupasaṁhitāhi, saṅghādiseso.
Saṅghādisesa 4. Attakāmapāricariya
Yo pana bhikkhu otiṇṇo vipariṇatena cittena mātugāmassa santike attakāmapāricariyāya vaṇṇaṁ bhāseyya “etadaggaṁ bhagini pāricariyānaṁ yā mādisaṁ sīlavantaṁ kalyāṇadhammaṁ brahmacāriṁ etena dhammena paricareyyā”ti methunupasaṁhitena, saṅghādiseso.
Saṅghādisesa 5. Sañcaritta
Yo pana bhikkhu sañcarittaṁ samāpajjeyya itthiyā vā purisamatiṁ purisassa vā itthimatiṁ, jāyattane vā jārattane vā, antamaso taṅkhaṇikāyapi, saṅghādiseso.
Saṅghādisesa 6. Kuṭikāra
Saññācikāya pana bhikkhunā kuṭiṁ kārayamānena assāmikaṁ attuddesaṁ pamāṇikā kāretabbā, tatridaṁ pamāṇaṁ, dīghaso dvādasa vidatthiyo sugatavidatthiyā, tiriyaṁ sattantarā,
bhikkhū abhinetabbā vatthudesanāya, tehi bhikkhūhi vatthu desetabbaṁ anārambhaṁ saparikkamanaṁ.
Sārambhe ce bhikkhu vatthusmiṁ aparikkamane saññācikāya kuṭiṁ kāreyya, bhikkhū vā anabhineyya vatthudesanāya, pamāṇaṁ vā atikkāmeyya, saṅghādiseso.
Saṅghādisesa 7. Vihārakāra
Mahallakaṁ pana bhikkhunā vihāraṁ kārayamānena sassāmikaṁ attuddesaṁ bhikkhū abhinetabbā vatthudesanāya,
tehi bhikkhūhi vatthu desetabbaṁ anārambhaṁ saparikkamanaṁ.
Sārambhe ce bhikkhu vatthusmiṁ aparikkamane mahallakaṁ vihāraṁ kāreyya, bhikkhū vā anabhineyya vatthudesanāya, saṅghādiseso.
Saṅghādisesa 8. Duṭṭhadosa
Yo pana bhikkhu bhikkhuṁ duṭṭho doso appatīto amūlakena pārājikena dhammena anuddhaṁseyya “appeva nāma naṁ imamhā brahmacariyā cāveyya”nti,
tato aparena samayena samanuggāhīyamāno vā asamanuggāhīyamāno vā amūlakañceva taṁ adhikaraṇaṁ hoti, bhikkhu ca dosaṁ patiṭṭhāti, saṅghādiseso.
Saṅghādisesa 9. Aññabhāgiya
Yo pana bhikkhu bhikkhuṁ duṭṭho doso appatīto aññabhāgiyassa adhikaraṇassa kiñcidesaṁ lesamattaṁ upādāya pārājikena dhammena anuddhaṁseyya “appeva nāma naṁ imamhā brahmacariyā cāveyya”nti,
tato aparena samayena samanuggāhīyamāno vā asamanuggāhīyamāno vā aññabhāgiyañceva taṁ adhikaraṇaṁ hoti kocideso lesamatto upādinno, bhikkhu ca dosaṁ patiṭṭhāti, saṅghādiseso.
Saṅghādisesa 10. Saṅghabheda
Yo pana bhikkhu samaggassa saṅghassa bhedāya parakkameyya, bhedanasaṁvattanikaṁ vā adhikaraṇaṁ samādāya paggayha tiṭṭheyya, so bhikkhu bhikkhūhi evamassa vacanīyo
“māyasmā samaggassa saṅghassa bhedāya parakkami, bhedanasaṁvattanikaṁ vā adhikaraṇaṁ samādāya paggayha aṭṭhāsi,
sametāyasmā saṅghena, samaggo hi saṅgho sammodamāno avivadamāno ekuddeso phāsu viharatī”ti,
evañca so bhikkhu bhikkhūhi vuccamāno tatheva paggaṇheyya, so bhikkhu bhikkhūhi yāvatatiyaṁ samanubhāsitabbo tassa paṭinissaggāya,
yāvatatiyañce samanubhāsiyamāno taṁ paṭinissajjeyya, iccetaṁ kusalaṁ,
no ce paṭinissajjeyya, saṅghādiseso.
Saṅghādisesa 11. Bhedānuvattaka
Tasseva kho pana bhikkhussa bhikkhū honti anuvattakā vaggavādakā eko vā dve vā tayo vā, te evaṁ vadeyyuṁ
“māyasmanto etaṁ bhikkhuṁ kiñci avacuttha,
dhammavādī ceso bhikkhu, vinayavādī ceso bhikkhu,
amhākañceso bhikkhu chandañca ruciñca ādāya voharati, jānāti, no bhāsati, amhākampetaṁ khamatī”ti,
te bhikkhū bhikkhūhi evamassu vacanīyā
“māyasmanto evaṁ avacuttha,
na ceso bhikkhu dhammavādī, na ceso bhikkhu vinayavādī,
māyasmantānampi saṅghabhedo ruccittha,
sametāyasmantānaṁ saṅghena, samaggo hi saṅgho sammodamāno avivadamāno ekuddeso phāsu viharatī”ti,
evañca te bhikkhū bhikkhūhi vuccamānā tatheva paggaṇheyyuṁ, te bhikkhū bhikkhūhi yāvatatiyaṁ samanubhāsitabbā tassa paṭinissaggāya,
yāvatatiyañce samanubhāsiyamānā taṁ paṭinissajjeyyuṁ, iccetaṁ kusalaṁ,
no ce paṭinissajjeyyuṁ, saṅghādiseso.
Saṅghādisesa 12. Dubbaca
Bhikkhu paneva dubbacajātiko hoti uddesapariyāpannesu sikkhāpadesu bhikkhūhi sahadhammikaṁ vuccamāno attānaṁ avacanīyaṁ karoti
“mā maṁ āyasmanto kiñci avacuttha kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā, ahampāyasmante na kiñci vakkhāmi kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā,
viramathāyasmanto mama vacanāyā”ti,
so bhikkhu bhikkhūhi evamassa vacanīyo
“māyasmā attānaṁ avacanīyaṁ akāsi, vacanīyamevāyasmā attānaṁ karotu,
āyasmāpi bhikkhū vadatu sahadhammena, bhikkhūpi āyasmantaṁ vakkhanti sahadhammena,
evaṁ saṁvaddhā hi tassa bhagavato parisā yadidaṁ aññamaññavacanena aññamaññavuṭṭhāpanenā”ti,
evañca so bhikkhu bhikkhūhi vuccamāno tatheva paggaṇheyya, so bhikkhu bhikkhūhi yāvatatiyaṁ samanubhāsitabbo tassa paṭinissaggāya,
yāvatatiyañce samanubhāsiyamāno taṁ paṭinissajjeyya, iccetaṁ kusalaṁ,
no ce paṭinissajjeyya, saṅghādiseso.
Saṅghādisesa 13. Kuladūsaka
Bhikkhu paneva aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati kuladūsako pāpasamācāro, tassa kho pāpakā samācārā dissanti ceva suyyanti ca, kulāni ca tena duṭṭhāni dissanti ceva suyyanti ca,
so bhikkhu bhikkhūhi evamassa vacanīyo
“āyasmā kho kuladūsako pāpasamācāro, āyasmato kho pāpakā samācārā dissanti ceva suyyanti ca, kulāni cāyasmatā duṭṭhāni dissanti ceva suyyanti ca, pakkamatāyasmā imamhā āvāsā, alaṁ te idha vāsenā”ti,
evañca so bhikkhu bhikkhūhi vuccamāno te bhikkhū evaṁ vadeyya
“chandagāmino ca bhikkhū, dosagāmino ca bhikkhū, mohagāmino ca bhikkhū, bhayagāmino ca bhikkhū tādisikāya āpattiyā ekaccaṁ pabbājenti, ekaccaṁ na pabbājentī”ti,
so bhikkhu bhikkhūhi evamassa vacanīyo
“māyasmā evaṁ avaca, na ca bhikkhū chandagāmino, na ca bhikkhū dosagāmino, na ca bhikkhū mohagāmino, na ca bhikkhū bhayagāmino,
āyasmā kho kuladūsako pāpasamācāro, āyasmato kho pāpakā samācārā dissanti ceva suyyanti ca, kulāni cāyasmatā duṭṭhāni dissanti ceva suyyanti ca, pakkamatāyasmā imamhā āvāsā, alaṁ te idha vāsenā”ti,
evañca so bhikkhu bhikkhūhi vuccamāno tatheva paggaṇheyya, so bhikkhu bhikkhūhi yāvatatiyaṁ samanubhāsitabbo tassa paṭinissaggāya,
yāvatatiyañce samanubhāsiyamāno taṁ paṭinissajjeyya, iccetaṁ kusalaṁ,
no ce paṭinissajjeyya, saṅghādiseso.
Uddiṭṭhā kho āyasmanto terasa saṅghādisesā dhammā nava paṭhamāpattikā, cattāro yāvatatiyakā.
Yesaṁ bhikkhu aññataraṁ vā aññataraṁ vā āpajjitvā yāvatīhaṁ jānaṁ paṭicchādeti, tāvatīhaṁ tena bhikkhunā akāmā parivatthabbaṁ.
Parivutthaparivāsena bhikkhunā uttari chārattaṁ bhikkhumānattāya paṭipajjitabbaṁ,
ciṇṇamānatto bhikkhu yattha siyā vīsatigaṇo bhikkhusaṅgho, tattha so bhikkhu abbhetabbo.
Ekenapi ce ūno vīsatigaṇo bhikkhusaṅgho taṁ bhikkhuṁ abbheyya, so ca bhikkhu anabbhito, te ca bhikkhū gārayhā, ayaṁ tattha sāmīci.
Tatthāyasmante pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
dutiyampi pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
tatiyampi pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
parisuddhetthāyasmanto, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmīti.
Saṅghādiseso niṭṭhito
Aniyatuddeso
Ime kho panāyasmanto dve aniyatā dhammā uddesaṁ āgacchanti.
Aniyata 1. Paṭhamaaniyata
Yo pana bhikkhu mātugāmena saddhiṁ eko ekāya raho paṭicchanne āsane alaṅkammaniye nisajjaṁ kappeyya, tamenaṁ saddheyyavacasā upāsikā disvā
tiṇṇaṁ dhammānaṁ aññatarena vadeyya pārājikena vā saṅghādisesena vā pācittiyena vā,
nisajjaṁ bhikkhu paṭijānamāno tiṇṇaṁ dhammānaṁ aññatarena kāretabbo pārājikena vā saṅghādisesena vā pācittiyena vā,
yena vā sā saddheyyavacasā upāsikā vadeyya, tena so bhikkhu kāretabbo,
ayaṁ dhammo aniyato.
Aniyata 2. Dutiyaaniyata
Na heva kho pana paṭicchannaṁ āsanaṁ hoti nālaṅkammaniyaṁ, alañca kho hoti mātugāmaṁ duṭṭhullāhi vācāhi obhāsituṁ,
yo pana bhikkhu tathārūpe āsane mātugāmena saddhiṁ eko ekāya raho nisajjaṁ kappeyya, tamenaṁ saddheyyavacasā upāsikā disvā
dvinnaṁ dhammānaṁ aññatarena vadeyya saṅghādisesena vā pācittiyena vā,
nisajjaṁ bhikkhu paṭijānamāno dvinnaṁ dhammānaṁ aññatarena kāretabbo saṅghādisesena vā pācittiyena vā,
yena vā sā saddheyyavacasā upāsikā vadeyya, tena so bhikkhu kāretabbo,
ayampi dhammo aniyato.
Uddiṭṭhā kho āyasmanto dve aniyatā dhammā.
Tatthāyasmante pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
dutiyampi pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
tatiyampi pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
parisuddhetthāyasmanto, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmīti.
Aniyato niṭṭhito
Nissaggiyapācittiyā
Ime kho panāyasmanto tiṁsa nissaggiyā pācittiyā dhammā uddesaṁ āgacchanti.
Chapter 1. Kaṭhina
Nissaggiya Pācittiya 1. Kathina
Niṭṭhitacīvarasmiṁ bhikkhunā ubbhatasmiṁ kathine dasāhaparamaṁ atirekacīvaraṁ dhāretabbaṁ, taṁ atikkāmayato nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 2. Udosita
Niṭṭhitacīvarasmiṁ bhikkhunā ubbhatasmiṁ kathine ekarattampi ce bhikkhu ticīvarena vippavaseyya, aññatra bhikkhusammutiyā nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 3. Akālacīvara
Niṭṭhitacīvarasmiṁ bhikkhunā ubbhatasmiṁ kathine bhikkhuno paneva akālacīvaraṁ uppajjeyya, ākaṅkhamānena bhikkhunā paṭiggahetabbaṁ,
paṭiggahetvā khippameva kāretabbaṁ,
no cassa pāripūri, māsaparamaṁ tena bhikkhunā taṁ cīvaraṁ nikkhipitabbaṁ ūnassa pāripūriyā satiyā paccāsāya.
Tato ce uttari nikkhipeyya satiyāpi paccāsāya, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 4. Purāṇacīvara
Yo pana bhikkhu aññātikāya bhikkhuniyā purāṇacīvaraṁ dhovāpeyya vā rajāpeyya vā ākoṭāpeyya vā, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 5. Cīvarapaṭiggahaṇa
Yo pana bhikkhu aññātikāya bhikkhuniyā hatthato cīvaraṁ paṭiggaṇheyya aññatra pārivattakā, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 6. Aññātakaviññatti
Yo pana bhikkhu aññātakaṁ gahapatiṁ vā gahapatāniṁ vā cīvaraṁ viññāpeyya aññatra samayā, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Tatthāyaṁ samayo, acchinnacīvaro vā hoti bhikkhu, naṭṭhacīvaro vā, ayaṁ tattha samayo.
Nissaggiya Pācittiya 7. Tatuttari
Tañce aññātako gahapati vā gahapatānī vā bahūhi cīvarehi abhihaṭṭhuṁ pavāreyya, santaruttaraparamaṁ tena bhikkhunā tato cīvaraṁ sāditabbaṁ. Tato ce uttari sādiyeyya, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 8. Paṭhamaupakkhaṭa
Bhikkhuṁ paneva uddissa aññātakassa gahapatissa vā gahapatāniyā vā cīvaracetāpannaṁ upakkhaṭaṁ hoti
“iminā cīvaracetāpannena cīvaraṁ cetāpetvā itthannāmaṁ bhikkhuṁ cīvarena acchādessāmī”ti,
tatra ce so bhikkhu pubbe appavārito upasaṅkamitvā cīvare vikappaṁ āpajjeyya
“sādhu vata maṁ āyasmā iminā cīvaracetāpannena evarūpaṁ vā evarūpaṁ vā cīvaraṁ cetāpetvā acchādehī”ti
kalyāṇakamyataṁ upādāya, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 9. Dutiyaupakkhaṭa
Bhikkhuṁ paneva uddissa ubhinnaṁ aññātakānaṁ gahapatīnaṁ vā gahapatānīnaṁ vā paccekacīvaracetāpannāni upakkhaṭāni honti
“imehi mayaṁ paccekacīvaracetāpannehi paccekacīvarāni cetāpetvā itthannāmaṁ bhikkhuṁ cīvarehi acchādessāmā”ti,
tatra ce so bhikkhu pubbe appavārito upasaṅkamitvā cīvare vikappaṁ āpajjeyya
“sādhu vata maṁ āyasmanto imehi paccekacīvaracetāpannehi evarūpaṁ vā evarūpaṁ vā cīvaraṁ cetāpetvā acchādetha ubhova santā ekenā”ti
kalyāṇakamyataṁ upādāya, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 10. Rāja
Bhikkhuṁ paneva uddissa rājā vā rājabhoggo vā brāhmaṇo vā gahapatiko vā dūtena cīvaracetāpannaṁ pahiṇeyya
“iminā cīvaracetāpannena cīvaraṁ cetāpetvā itthannāmaṁ bhikkhuṁ cīvarena acchādehī”ti.
So ce dūto taṁ bhikkhuṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadeyya
“idaṁ kho, bhante, āyasmantaṁ uddissa cīvaracetāpannaṁ ābhataṁ, paṭiggaṇhātu āyasmā cīvaracetāpanna”nti.
Tena bhikkhunā so dūto evamassa vacanīyo
“na kho mayaṁ, āvuso, cīvaracetāpannaṁ paṭiggaṇhāma, cīvarañca kho mayaṁ paṭiggaṇhāma kālena kappiya”nti.
So ce dūto taṁ bhikkhuṁ evaṁ vadeyya
“atthi panāyasmato koci veyyāvaccakaro”ti.
Cīvaratthikena, bhikkhave, bhikkhunā veyyāvaccakaro niddisitabbo ārāmiko vā upāsako vā
“eso kho, āvuso, bhikkhūnaṁ veyyāvaccakaro”ti.
So ce dūto taṁ veyyāvaccakaraṁ saññāpetvā taṁ bhikkhuṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadeyya
“yaṁ kho, bhante, āyasmā veyyāvaccakaraṁ niddisi, saññatto so mayā, upasaṅkamatāyasmā kālena, cīvarena taṁ acchādessatī”ti.
Cīvaratthikena, bhikkhave, bhikkhunā veyyāvaccakaro upasaṅkamitvā dvattikkhattuṁ codetabbo sāretabbo
“attho me, āvuso, cīvarenā”ti,
dvattikkhattuṁ codayamāno sārayamāno taṁ cīvaraṁ abhinipphādeyya, iccetaṁ kusalaṁ,
no ce abhinipphādeyya, catukkhattuṁ pañcakkhattuṁ chakkhattuparamaṁ tuṇhībhūtena uddissa ṭhātabbaṁ,
catukkhattuṁ pañcakkhattuṁ chakkhattuparamaṁ tuṇhībhūto uddissa tiṭṭhamāno taṁ cīvaraṁ abhinipphādeyya, iccetaṁ kusalaṁ,
tato ce uttari vāyamamāno taṁ cīvaraṁ abhinipphādeyya, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
No ce abhinipphādeyya, yatassa cīvaracetāpannaṁ ābhataṁ, tattha sāmaṁ vā gantabbaṁ, dūto vā pāhetabbo
“yaṁ kho tumhe āyasmanto bhikkhuṁ uddissa cīvaracetāpannaṁ pahiṇittha, na taṁ tassa bhikkhuno kiñci atthaṁ anubhoti,
yuñjantāyasmanto sakaṁ, mā vo sakaṁ vinassā”ti,
ayaṁ tattha sāmīci.
Kathinavaggo paṭhamo.
Chapter 2. Kosiya
Nissaggiya Pācittiya 11. Kosiya
Yo pana bhikkhu kosiyamissakaṁ santhataṁ kārāpeyya, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 12. Suddhakāḷaka
Yo pana bhikkhu suddhakāḷakānaṁ eḷakalomānaṁ santhataṁ kārāpeyya, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 13. Dvebhāga
Navaṁ pana bhikkhunā santhataṁ kārayamānena dve bhāgā suddhakāḷakānaṁ eḷakalomānaṁ ādātabbā, tatiyaṁ odātānaṁ, catutthaṁ gocariyānaṁ.
Anādā ce bhikkhu dve bhāge suddhakāḷakānaṁ eḷakalomānaṁ, tatiyaṁ odātānaṁ, catutthaṁ gocariyānaṁ, navaṁ santhataṁ kārāpeyya, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 14. Chabbassa
Navaṁ pana bhikkhunā santhataṁ kārāpetvā chabbassāni dhāretabbaṁ,
orena ce channaṁ vassānaṁ taṁ santhataṁ vissajjetvā vā avissajjetvā vā aññaṁ navaṁ santhataṁ kārāpeyya aññatra bhikkhusammutiyā, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 15. Nisīdanasanthata
Nisīdanasanthataṁ pana bhikkhunā kārayamānena purāṇasanthatassa sāmantā sugatavidatthi ādātabbā dubbaṇṇakaraṇāya.
Anādā ce bhikkhu purāṇasantha tassa sāmantā sugatavidatthiṁ, navaṁ nisīdanasanthataṁ kārāpeyya, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 16. Eḷakaloma
Bhikkhuno paneva addhānamaggappaṭipannassa eḷakalomāni uppajjeyyuṁ,
ākaṅkhamānena bhikkhunā paṭiggahetabbāni, paṭiggahetvā tiyojanaparamaṁ sahatthā haritabbāni asante hārake.
Tato ce uttari hareyya, asantepi hārake, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 17. Eḷakalomadhovāpana
Yo pana bhikkhu aññātikāya bhikkhuniyā eḷakalomāni dhovāpeyya vā rajāpeyya vā vijaṭāpeyya vā, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 18. Rūpiya
Yo pana bhikkhu jātarūparajataṁ uggaṇheyya vā uggaṇhāpeyya vā upanikkhittaṁ vā sādiyeyya, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 19. Rūpiyasaṁvohāra
Yo pana bhikkhu nānappakārakaṁ rūpiyasaṁvohāraṁ samāpajjeyya, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 20. Kayavikkaya
Yo pana bhikkhu nānappakārakaṁ kayavikkayaṁ samāpajjeyya, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Kosiyavaggo dutiyo.
Chapter 3. Patta
Nissaggiya Pācittiya 21. Patta
Dasāhaparamaṁ atirekapatto dhāretabbo, taṁ atikkāmayato nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 22. Ūnapañcabandhana
Yo pana bhikkhu ūnapañcabandhanena pattena aññaṁ navaṁ pattaṁ cetāpeyya, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Tena bhikkhunā so patto bhikkhuparisāya nissajjitabbo,
yo ca tassā bhikkhuparisāya pattapariyanto, so tassa bhikkhuno padātabbo “ayaṁ te bhikkhu patto yāva bhedanāya dhāretabbo”ti,
ayaṁ tattha sāmīci.
Nissaggiya Pācittiya 23. Bhesajja
Yāni kho pana tāni gilānānaṁ bhikkhūnaṁ paṭisāyanīyāni bhesajjāni, seyyathidaṁ—sappi navanītaṁ telaṁ madhu phāṇitaṁ, tāni paṭiggahetvā sattāhaparamaṁ sannidhikārakaṁ paribhuñjitabbāni,
taṁ atikkāmayato nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 24. Vassikasāṭika
“Māso seso gimhāna”nti bhikkhunā vassikasāṭikacīvaraṁ pariyesitabbaṁ, “addhamāso seso gimhāna”nti katvā nivāsetabbaṁ.
Orena ce “māso seso gimhāna”nti vassikasāṭikacīvaraṁ pariyeseyya, orena“ddhamāso seso gimhāna”nti katvā nivāseyya, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 25. Cīvaraacchindana
Yo pana bhikkhu bhikkhussa sāmaṁ cīvaraṁ datvā kupito anattamano acchindeyya vā acchindāpeyya vā, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 26. Suttaviññatti
Yo pana bhikkhu sāmaṁ suttaṁ viññāpetvā tantavāyehi cīvaraṁ vāyāpeyya, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 27. Mahāpesakāra
Bhikkhuṁ paneva uddissa aññātako gahapati vā gahapatānī vā tantavāyehi cīvaraṁ vāyāpeyya, tatra ce so bhikkhu pubbe appavārito tantavāye upasaṅkamitvā cīvare vikappaṁ āpajjeyya
“idaṁ kho, āvuso, cīvaraṁ maṁ uddissa viyyati, āyatañca karotha, vitthatañca, appitañca, suvītañca, suppavāyitañca, suvilekhitañca, suvitacchitañca karotha,
appeva nāma mayampi āyasmantānaṁ kiñcimattaṁ anupadajjeyyāmā”ti.
Evañca so bhikkhu vatvā kiñcimattaṁ anupadajjeyya antamaso piṇḍapātamattampi, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 28. Accekacīvara
Dasāhānāgataṁ kattikatemāsikapuṇṇamaṁ bhikkhuno paneva accekacīvaraṁ uppajjeyya, accekaṁ maññamānena bhikkhunā paṭiggahetabbaṁ, paṭiggahetvā yāva cīvarakālasamayaṁ nikkhipitabbaṁ.
Tato ce uttari nikkhipeyya, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 29. Sāsaṅka
Upavassaṁ kho pana kattikapuṇṇamaṁ yāni kho pana tāni āraññakāni senāsanāni sāsaṅkasammatāni sappaṭibhayāni, tathārūpesu bhikkhu senāsanesu viharanto ākaṅkhamāno tiṇṇaṁ cīvarānaṁ aññataraṁ cīvaraṁ antaraghare nikkhipeyya, siyā ca tassa bhikkhuno kocideva paccayo tena cīvarena vippavāsāya,
chārattaparamaṁ tena bhikkhunā tena cīvarena vippavasitabbaṁ. Tato ce uttari vippavaseyya aññatra bhikkhusammutiyā, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Nissaggiya Pācittiya 30. Pariṇata
Yo pana bhikkhu jānaṁ saṅghikaṁ lābhaṁ pariṇataṁ attano pariṇāmeyya, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Pattavaggo tatiyo.
Uddiṭṭhā kho āyasmanto tiṁsa nissaggiyā pācittiyā dhammā.
Tatthāyasmante pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
dutiyampi pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
tatiyampi pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
parisuddhetthāyasmanto, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmīti.
Nissaggiyapācittiyā niṭṭhitā
Suddhapācittiyā
Ime kho panāyasmanto dvenavuti pācittiyā dhammā uddesaṁ āgacchanti.
Chapter 1. Musāvāda
Pācittiya 1. Musāvāda
Sampajānamusāvāde pācittiyaṁ.
Pācittiya 2. Omasavāda
Omasavāde pācittiyaṁ.
Pācittiya 3. Pesuñña
Bhikkhupesuññe pācittiyaṁ.
Pācittiya 4. Padasodhamma
Yo pana bhikkhu anupasampannaṁ padaso dhammaṁ vāceyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 5. Paṭhamasahaseyya
Yo pana bhikkhu anupasampannena uttaridirattatirattaṁ sahaseyyaṁ kappeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 6. Dutiyasahaseyya
Yo pana bhikkhu mātugāmena sahaseyyaṁ kappeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 7. Dhammadesanā
Yo pana bhikkhu mātugāmassa uttarichappañcavācāhi dhammaṁ deseyya aññatra viññunā purisaviggahena, pācittiyaṁ.
Pācittiya 8. Bhūtārocana
Yo pana bhikkhu anupasampannassa uttarimanussadhammaṁ āroceyya, bhūtasmiṁ pācittiyaṁ.
Pācittiya 9. Duṭṭhullārocana
Yo pana bhikkhu bhikkhussa duṭṭhullaṁ āpattiṁ anupasampannassa āroceyya aññatra bhikkhusammutiyā, pācittiyaṁ.
Pācittiya 10. Pathavīkhaṇana
Yo pana bhikkhu pathaviṁ khaṇeyya vā khaṇāpeyya vā pācittiyaṁ.
Musāvādavaggo paṭhamo
Chapter 2. Bhūtagāma
Pācittiya 11. Bhūtagāma
These four rules on expulsion come up for recitation.
Expulsion 1: sexual intercourse
If a monk, after taking on the monks’ training and way of life, without first renouncing the training and revealing his weakness, has sexual intercourse, even with a female animal, he is expelled and excluded from the community.
Expulsion 2: stealing
If a monk, intending to steal, takes from an inhabited area or from the wilderness what has not been given to him—
the sort of stealing for which kings, having caught a thief, would beat, imprison, or banish him, saying, ‘You’re a bandit, you’re a fool, you’ve gone astray, you’re a thief’—
he too is expelled and excluded from the community.
Expulsion 3: killing a human being
If a monk intentionally kills a human being or seeks an instrument of death for them or praises death or incites someone to die, saying,
‘My friend, what’s the point of this miserable and difficult life? Death is better for you than life!’—
thinking and intending thus, if he praises death in many ways or incites someone to die—
he too is expelled and excluded from the community.
Expulsion 4: falsely claiming a superhuman quality
If a monk falsely claims for himself a superhuman quality, a knowledge and vision worthy of the noble ones, saying, ‘This I know, this I see,’
but after some time—whether he is questioned or not, but having committed the offense and seeking purification—should say: ‘Not knowing I said that I know, not seeing that I see; what I said was empty and false,’ then,
except if it is due to overestimation,
he too is expelled and excluded from the community.
Venerables, the four rules on expulsion have been recited.
If a monk commits any one of them, he is no longer part of the community of monks.
As before, so after: he’s expelled and excluded from the community.
In regard to this I ask you, ‘Are you pure in this?’
A second time I ask, ‘Are you pure in this?’
A third time I ask, ‘Are you pure in this?’
You are pure in this and therefore silent. I will remember it thus.
The offenses entailing expulsion are finished.
The recitation of the rules of suspension
Venerables, these thirteen rules on suspension come up for recitation.
Suspension 1: masturbation
Intentional emission of semen, except while dreaming, is an offense entailing suspension.
Suspension 2: physical contact with a woman
If a monk, overcome by lust and with a distorted mind, makes physical contact with a woman—holding her hand or hair, or touching any part of her body—he commits an offense entailing suspension.
Suspension 3: indecent speech
If a monk, overcome by lust and with a distorted mind, speaks indecent words to a woman, as a young man might to a young woman and referring to sexual intercourse, he commits an offense entailing suspension.
Suspension 4: encouraging a woman to satisfy one’s desires
If a monk, overcome by lust and with a distorted mind, encourages a woman to satisfy his own desires, saying, ‘Sister, she provides the highest service who in this way satisfies one like me, who is virtuous, celibate, and of good character,’ and if it is a reference to sexual intercourse, he commits an offense entailing suspension.
Suspension 5: matchmaking
If a monk acts as a matchmaker, conveying a man’s intention to a woman or a woman’s intention to a man, for marriage or for an affair, even if just a brief one, he commits an offense entailing suspension.
Suspension 6: building a hut inappropriately
When a monk, by means of begging, builds a hut without a sponsoring owner and intended for himself, it is to be no more than twelve standard handspans long and seven wide inside.
He must have monks approve a site where no harm will be done and which has space on all sides.
If a monk, by means of begging, builds a hut on a site where harm will be done and which lacks space on all sides, or he does not have monks approve the site, or he exceeds the right size, he commits an offense entailing suspension.
Suspension 7: building a dwelling inappropriately
When a monk builds a large dwelling with a sponsoring owner and intended for himself,
he must have monks approve a site where no harm will be done and which has space on all sides.
If a monk builds a large dwelling on a site where harm will be done and which lacks space on all sides, or he does not have monks approve the site, he commits an offense entailing suspension.
Suspension 8: making a groundless accusation out of anger
If a monk who is angry and displeased groundlessly charges a monk with an offense entailing expulsion, aiming to make him leave the monastic life,
and then after some time, whether he is questioned or not, it is clear that the legal issue is groundless, and he admits to his ill will, he commits an offense entailing suspension.
Suspension 9: making a groundless accusation out of anger, using a pretext
If a monk who is angry and displeased, uses an unrelated legal issue as a pretext to charge a monk with an offense entailing expulsion, aiming to make him leave the monastic life,
and then after some time, whether he is questioned or not, it is clear that the legal issue is unrelated and was used as a pretext, and he admits to his ill will, he commits an offense entailing suspension.
Suspension 10: causing a schism in the Sangha
If a monk pursues schism in a united Sangha or persists in taking up a legal issue conducive to schism, the monks should correct him like this:
‘Venerable, don’t pursue schism in the united Sangha or persist in taking up a legal issue conducive to schism.
Stay with the Sangha, for a united Sangha—in concord, in harmony, having a joint recitation—is at ease.’
If that monk continues as before, the monks should press him up to three times to make him stop.
If he then stops, all is well.
If he does not stop, he commits an offense entailing suspension.
Suspension 11: siding with a schismatic
That monk may have one, two, or three monks who side with him and support him, and they may say,
‘Venerables, don’t correct this monk.
He speaks in accordance with the Teaching and the training.
And he speaks with our consent and approval. He knows about us and speaks for us, and we approve of this.’
The monks should correct those monks like this:
‘No, venerables,
this monk speaks contrary to the Teaching and the training.
And don’t consent to schism in the Sangha.
Stay with the Sangha, for a united Sangha—in concord, in harmony, having a joint recitation—is at ease.’
If those monks continue as before, the monks should press them up to three times to make them stop.
If they then stop, all is well.
If they do not stop, they commit an offense entailing suspension.
Suspension 12: being difficult to correct
If a monk is difficult to correct, and he makes himself incorrigible when legitimately corrected by the monks concerning the training rules that are recited, saying,
‘Venerables, don’t say anything to me, either good or bad, and I won’t say anything to you, either good or bad.
Please refrain from correcting me,’
then the monks should correct him like this:
‘Be easy to correct, venerable, not incorrigible.
And please give legitimate correction to the monks, and the monks will do the same to you.
For it’s in this way that the Buddha’s community has grown, that is, through mutual correction and mutual clearing of offenses.’
If that monk continues as before, the monks should press him up to three times to make him stop.
If he then stops, all is well.
If he does not stop, he commits an offense entailing suspension.
Suspension 13: being a corrupter of families
If a monk who lives supported by a village or town is a corrupter of families and badly behaved, and his bad behavior has been seen and heard about, and the families corrupted by him have been seen and heard about,
then the monks should correct him like this:
‘Venerable, you’re a corrupter of families and badly behaved. Your bad behavior has been seen and heard about, and the families corrupted by you have been seen and heard about. Leave this monastery; you’ve stayed here long enough.’
If he replies,
‘You’re acting out of favoritism, ill will, confusion, and fear. Because of this sort of offense, you only banish some, but not others,’
then the monks should correct him like this:
‘No, venerable, the monks are not acting out of favoritism, ill will, confusion, and fear.
Venerable, you’re a corrupter of families and badly behaved. Your bad behavior has been seen and heard about, and the families corrupted by you have been seen and heard about. Leave this monastery; you’ve stayed here long enough.’
If that monk continues as before, the monks should press him up to three times to make him stop.
If he then stops, all is well.
If he does not stop, he commits an offense entailing suspension.
Venerables, the thirteen rules on suspension have been recited, nine being immediate offenses, four after the third announcement.
If a monk commits any one of them, he is to undergo probation for the same number of days as he knowingly concealed that offense.
When this is completed, he must undertake the trial period for a further six days.
When this is completed, he is to be rehabilitated wherever there is a sangha of at least twenty monks.
If that monk is rehabilitated by a sangha of even one less than twenty, that monk is not rehabilitated and those monks are at fault. This is the proper procedure.
In regard to this I ask you, ‘Are you pure in this?’
A second time I ask, ‘Are you pure in this?’
A third time I ask, ‘Are you pure in this?’
You are pure in this and therefore silent. I will remember it thus.
The chapter on offenses entailing suspension is finished.
The recitation of the undetermined rules
Venerables, these two undetermined rules come up for recitation.
Undetermined 1: sitting with a woman in a concealed place
If a monk sits down in private alone with a woman on a concealed seat suitable for the deed, and a trustworthy female lay follower sees him
and accuses him of an offense entailing expulsion, an offense entailing suspension, or an offense entailing confession,
then, if he admits to the sitting, he is to be dealt with according to one of these three
or according to what that trustworthy female lay follower has said.
This rule is undetermined.
Undetermined 2: sitting alone with a woman
Although a seat is not concealed, nor suitable for the deed, it may be suitable for speaking indecently to a woman.
If a monk sits down on such a seat in private alone with a woman, and a trustworthy female lay follower sees him
and accuses him of an offense entailing suspension or an offense entailing confession,
then, if he admits to the sitting, he is to be dealt with according to one of these two
or according to what that trustworthy female lay follower has said.
This rule too is undetermined.
Venerables, the two undetermined rules have been recited.
In regard to this I ask you, ‘Are you pure in this?’
A second time I ask, ‘Are you pure in this?’
A third time I ask, ‘Are you pure in this?’
You are pure in this and therefore silent. I will remember it thus.
The chapter on undetermined offenses is finished.
The rules of relinquishment and confession
Venerables, these thirty rules on relinquishment and confession come up for recitation.
The subchapter on the robe season
Relinquishment and confession 1: keeping extra robe-cloth beyond ten days
When his robe is finished and the robe season has ended, a monk should keep an extra robe for ten days at the most. If he keeps it longer than that, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 2: staying apart from one’s robes
When his robe is finished and the robe season has ended, if a monk stays apart from his three robes even for a single day, except if the monks have agreed, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 3: keeping extra robe-cloth beyond a month
When his robe is finished and the robe season has ended, if out-of-season robe-cloth is offered to a monk, he may receive it if he wishes.
If he receives it, he should quickly make a robe.
If there is not enough cloth, but he is expecting more, he should keep it at most one month to make up the lack.
If he keeps it longer than that, then even if he expects more cloth, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 4: having a nun wash a used robe
If a monk has an unrelated nun wash, dye, or beat a used robe, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 5: receiving a robe from a nun
If a monk receives a robe directly from an unrelated nun, except in exchange, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 6: asking an unrelated person for a robe
If a monk asks an unrelated male or female householder for a robe, except on an appropriate occasion, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
These are the appropriate occasions: his robes are stolen or his robes are lost.
Relinquishment and confession 7: accepting too many robes
If an unrelated male or female householder invites that monk to take many robes, he should accept at most one sarong and one upper robe. If he accepts more than that, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 8: requesting a fine robe from a fund
If a male or female householder has set aside a robe fund for an unrelated monk, thinking,
‘With this robe fund I will buy robe-cloth and give it to monk so-and-so;’
and if that monk, without first being invited, goes to them and specifies the kind of robe-cloth he wants, saying,
‘Please use this robe fund to buy such-and-such robe-cloth and then give it to me,’
and he does so because he wants something fine, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 9: requesting a fine robe from a combined fund
If two male or female householders have set aside separate robe funds for an unrelated monk, thinking,
‘With these separate robe funds we’ll buy separate robe-cloths and give them to monk so-and-so;’
and if that monk, without first being invited, goes to them and specifies the kind of robe-cloth he wants, saying,
‘Please put these separate robe funds together to buy such-and-such robe-cloth and then give it to me,’
and he does so because he wants something fine, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 10: excessive prompting to get a robe
If a king, a king’s employee, a brahmin, or a householder sends a robe fund for a monk by messenger, saying,
‘Buy robe-cloth with this robe fund and give it to monk so-and-so,’
and the messenger goes to that monk and says,
‘Venerable, I have brought a robe fund for you. Please receive it,’
then that monk should reply,
‘We don’t receive robe funds, but we do receive allowable robe-cloth at the right time.’
If that messenger says,
‘Is there anyone who provides services for you?’
the monk, if he needs robe-cloth, should point out a monastery worker or a lay follower and say,
‘They provide services for the monks.’
If the messenger instructs that service provider and then returns to the monk and says,
‘Venerable, I have instructed the service provider you pointed out. Please go to them at the right time and they’ll give you robe-cloth,’
then, if that monk needs robe-cloth, he should go to that service provider and prompt them and remind them two or three times, saying,
‘I need robe-cloth.’
If he then gets robe-cloth, all is well.
If he does not get it, he should stand in silence for it at most six times.
If he then gets robe-cloth, all is well.
If he makes any further effort and then gets robe-cloth, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
If he does not get robe-cloth, he should go to the owners of that robe fund, or send a message, saying,
‘That monk hasn’t received any benefit from the robe fund you sent for him.
Please recover what’s yours, or it might perish.’
This is the proper procedure.
The first subchapter on the robe season is finished.
The subchapter on silk
Relinquishment and confession 11: making a blanket with silk
If a monk has a blanket made that contains silk, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 12: making a blanket entirely of black wool
If a monk has a blanket made entirely of black wool, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 13: making a new blanket with too much black wool
If a monk is having a new blanket made, he should use two parts of entirely black wool, a third part of white, and a fourth part of brown.
If he has a new blanket made without using two parts of entirely black wool, a third part of white, and a fourth part of brown, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 14: keeping a new blanket less than six years
If a monk has had a new blanket made, he should keep it for six years.
Whether that blanket has been given away or not, if he has another new blanket made in less than six years, except if the monks have agreed, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 15: making an inappropriate sitting blanket
If a monk is having a sitting blanket made, he must incorporate a piece of one standard handspan from the border of an old blanket in order to make it ugly.
If he has a new sitting blanket made without incorporating a piece of one standard handspan from the border of an old blanket, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 16: carrying wool too far
If wool is given to a monk who is traveling, he may receive it if he wishes.
If he receives it and there is no-one else to carry it, he may carry it himself for at most 40 kilometers.
If he carries it further than that, even if there is no-one else to carry it, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 17: getting a nun to wash wool
If a monk has an unrelated nun wash, dye, or comb wool, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 18: becoming the owner of money
If a monk takes, has someone else take, or consents to gold, silver, or money being deposited for him, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 19: trading with money
If a monk engages in various kinds of trades involving money, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 20: bartering
If a monk engages in various kinds of barter, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
The second subchapter on silk is finished.
The subchapter on almsbowls
Relinquishment and confession 21: keeping an extra almsbowl beyond ten days
A monk should keep an extra almsbowl for ten days at the most. If he keeps it longer than that, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 22: exchanging an almsbowl with fewer than five mends
If a monk exchanges an almsbowl with fewer than five mends for a new almsbowl, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
That monk should relinquish that almsbowl to a gathering of monks.
He should then be given the last almsbowl belonging to that gathering: ‘Monk, this bowl is yours. Keep it until it breaks.’
This is the proper procedure.
Relinquishment and confession 23: storing the five tonics too long
After being received, the tonics allowable for sick monks—that is, ghee, butter, oil, honey, and syrup—should be used from storage for at most seven days.
If one uses them longer than that, one commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 24: making a rainy-season robe at the wrong time
When there is a month left of summer, a monk may go looking for cloth for his rainy-season robe. When there is a half-month left, he may sew it and then wear it.
If he goes looking for cloth for his rainy-season robe when there is more than a month left of summer, or if he sews it and then wears it when there is more than a half-month left, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 25: taking back robe-cloth in anger
If a monk himself gives a robe to a monk, but then, in anger, takes it back or has it taken back, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 26: asking for thread
If a monk himself asks for thread, and then has weavers weave him robe-cloth, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 27: bribing weavers
If a male or female householder is having robe-cloth woven by weavers for an unrelated monk and, without first being invited, that monk goes to those weavers and specifies the kind of robe-cloth he wants, saying,
‘This robe-cloth that you are weaving for me, make it long and wide; make it closely woven, well-woven, well-stretched, well-scraped, and well-combed,
and perhaps I will even give you a small gift,’
then, in saying that and afterwards giving them a small gift, even a bit of almsfood, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 28: storing haste-cloth too long
When there are ten days left to the Kattika full moon that ends the first rainy-season residence and a haste-cloth is given to a monk, he may receive it if he regards it as urgent. He may then store it until the end of the robe season.
If he stores it beyond that, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 29: storing a robe for more than six days in an inhabited area
There are wilderness dwellings that are considered risky and dangerous. After observing the Kattika full moon that ends the rainy season, a monk who is staying in such a dwelling may, if he so desires, store one of his three robes in an inhabited area so long as he has a reason for staying apart from that robe.
He should stay apart from that robe for six days at the most. If he stays apart from it longer than that, except if the monks have agreed, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
Relinquishment and confession 30: diverting an offering intended for the Sangha
If a monk diverts to himself material support that he knows was intended for the Sangha, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
The third subchapter on almsbowls is finished.
Venerables, the thirty rules on relinquishment and confession have been recited.
In regard to this I ask you, ‘Are you pure in this?’
A second time I ask, ‘Are you pure in this?’
A third time I ask, ‘Are you pure in this?’
You are pure in this and therefore silent. I will remember it thus.
The offenses entailing relinquishment and confession are finished.
The rules on confession
Venerables, these ninety-two rules on confession come up for recitation.
The subchapter on lying
Confession 1: lying
If a monk lies in full awareness, he commits an offense entailing confession.
Confession 2: abusive speech
If a monk speaks abusively, he commits an offense entailing confession.
Confession 3: malicious talebearing
If a monk engages in malicious talebearing between monks, he commits an offense entailing confession.
Confession 4: instructing a householder to memorize the Teaching
If a monk instructs a person who is not fully ordained to memorize the Teaching, he commits an offense entailing confession.
Confession 5: lying down with one not fully ordained
If a monk lies down more than two or three nights in the same sleeping place as a person who is not fully ordained, he commits an offense entailing confession.
Confession 6: lying down with a woman
If a monk lies down in the same sleeping place as a woman, he commits an offense entailing confession.
Confession 7: teaching a woman alone
If a monk gives a teaching of more than five or six sentences to a woman, except in the presence of a man who understands, he commits an offense entailing confession.
Confession 8: truthfully announcing a superhuman quality
If a monk truthfully tells a person who is not fully ordained of a superhuman quality, he commits an offense entailing confession.
Confession 9: announcing a monk’s grave offense
If a monk tells a person who is not fully ordained about a monk’s grave offense, except if the monks have agreed, he commits an offense entailing confession.
Confession 10: digging the earth
If a monk digs the earth or has it dug, he commits an offense entailing confession.
The first subchapter on lying is finished.
The subchapter on plants
Confession 11: destroying plants
Này chư hiền, phần Mở Đầu đã được tụng đọc; bốn pháp Bất Cộng Trụ đã được tụng đọc; mười ba pháp Tăng Tàn đã được tụng đọc; hai pháp Bất Định đã được tụng đọc; ba mươi pháp Ưng Xả Đối Trị đã được tụng đọc; chín mươi hai pháp Ưng Đối Trị đã được tụng đọc; bốn pháp Ưng Phát Lộ đã được tụng đọc; các pháp Ưng Học đã được tụng đọc; bảy pháp Dàn Xếp Tranh Tụng đã được tụng đọc. Bấy nhiêu điều luật của đức Thế Tôn ấy đã được truyền thừa, đã được bao gồm trong kinh, được đem ra tụng đọc mỗi nửa tháng. Trong các điều ấy, tất cả chư vị cần phải hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi mà học tập.
Bhūtagāmapātabyatāya pācittiyaṁ.
Pācittiya 12. Aññavādaka
If a monk destroys a plant, he commits an offense entailing confession.
Confession 12: speaking evasively
90. “Do việc phá hoại các loại thực vật, phạm tội pācittiya.”
Aññavādake, vihesake pācittiyaṁ.
Pācittiya 13. Ujjhāpanaka
If a monk speaks evasively or harasses, he commits an offense entailing confession.
Confession 13: complaining
98. “Do nói quanh co, do làm phiền nhiễu, (phạm tội) pācittiya.”
Ujjhāpanake, khiyyanake pācittiyaṁ.
Pācittiya 14. Paṭhamasenāsana
If a monk complains or criticizes, he commits an offense entailing confession.
Confession 14: leaving furniture outside
105. ‘Do việc xúi giục khiển trách, do việc chê bai, phạm tội pācittiya (ưng đối trị).’
Yo pana bhikkhu saṅghikaṁ mañcaṁ vā pīṭhaṁ vā bhisiṁ vā kocchaṁ vā ajjhokāse santharitvā vā santharāpetvā vā taṁ pakkamanto neva uddhareyya, na uddharāpeyya, anāpucchaṁ vā gaccheyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 15. Dutiyasenāsana
If a monk takes a bed, a bench, a mattress, or a stool belonging to the Sangha and puts it out in the open or has it put out in the open, and he then departs without putting it away, having it put away, or informing anyone, he commits an offense entailing confession.
Confession 15: not putting away bedding
109. “Vị tỳ khưu nào, sau khi tự mình trải ra hoặc cho người khác trải ra giường hoặc ghế hoặc nệm hoặc chiếu thuộc về tăng chúng ở ngoài trời, trong lúc đi nơi khác mà không tự dọn dẹp, không cho người dọn dẹp, hoặc ra đi mà không hỏi xin phép, thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
Yo pana bhikkhu saṅghike vihāre seyyaṁ santharitvā vā santharāpetvā vā taṁ pakkamanto neva uddhareyya, na uddharāpeyya, anāpucchaṁ vā gaccheyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 16. Anupakhajja
If a monk puts out bedding in a dwelling belonging to the Sangha, or has it put out, and he then departs without putting it away, having it put away, or informing anyone, he commits an offense entailing confession.
Confession 16: encroaching on a monk
115. “Vị tỳ khưu nào, sau khi tự mình trải hoặc nhờ người khác trải sàng tọa trong trú xá của Tăng chúng, khi ra đi không tự dọn dẹp, không nhờ người dọn dẹp, hoặc ra đi mà không thưa hỏi, thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu saṅghike vihāre jānaṁ pubbupagataṁ bhikkhuṁ anupakhajja seyyaṁ kappeyya “yassa sambādho bhavissati, so pakkamissatī”ti etadeva paccayaṁ karitvā anaññaṁ, pācittiyaṁ.
Pācittiya 17. Nikkaḍḍhana
If, in a dwelling belonging to the Sangha, a monk arranges his sleeping place in a way that encroaches on a monk that he knows arrived there before him, with the intention that anyone who feels crowded will leave, and he does so only for this reason and no other, he commits an offense entailing confession.
Confession 17: evicting a monk
120. “Vị tỳ khưu nào, trong trú xá của Tăng, trong khi biết (có vị tỳ khưu đã đến trước), mà chen lấn nằm xuống gần vị tỳ khưu đã đến trước, với ý nghĩ rằng: ‘Vị nào cảm thấy chật chội thì vị ấy sẽ bỏ đi,’ chỉ vì lý do ấy chứ không vì lý do nào khác, thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu bhikkhuṁ kupito anattamano saṅghikā vihārā nikkaḍḍheyya vā nikkaḍḍhāpeyya vā, pācittiyaṁ.
Pācittiya 18. Vehāsakuṭi
If a monk, in anger, throws a monk out of a dwelling belonging to the Sangha, or has him thrown out, he commits an offense entailing confession.
Confession 18: sitting down on an upper story
125. “Vị tỳ khưu nào, do sân hận, không vừa lòng, tự mình đuổi một tỳ khưu ra khỏi trú xá của Tăng-già, hoặc xui người khác đuổi ra, thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu saṅghike vihāre uparivehāsakuṭiyā āhaccapādakaṁ mañcaṁ vā pīṭhaṁ vā abhinisīdeyya vā abhinipajjeyya vā, pācittiyaṁ.
Pācittiya 19. Mahallakavihāra
If a monk sits down or lies down on a bed or a bench with detachable legs on an upper story in a dwelling belonging to the Sangha, he commits an offense entailing confession.
Confession 19: applying excessive materials to a large dwelling
130. “Vị tỳ khưu nào ở trong một am thất trên lầu không có sàn của một ngôi tịnh xá thuộc về tăng chúng mà ngồi mạnh xuống hoặc nằm mạnh xuống trên chiếc giường có chân đóng hay chiếc ghế có chân đóng thì phạm tội pācittiya.”
Mahallakaṁ pana bhikkhunā vihāraṁ kārayamānena yāva dvārakosā aggaḷaṭṭhapanāya ālokasandhiparikammāya dvatticchadanassa pariyāyaṁ appaharite ṭhitena adhiṭṭhātabbaṁ, tato ce uttari appaharitepi ṭhito adhiṭṭhaheyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 20. Sappāṇaka
When a monk is building a large dwelling, then standing where there are no cultivated plants, he may apply two or three layers of roofing material, taking it as far as the doorcase and using it for fixing the door and for treating the window openings. If he applies more than that, even if he stands where there are no cultivated plants, he commits an offense entailing confession.
Confession 20: pouring water with living beings in it
135. “Vị tỳ khưu cho xây cất ngôi tịnh xá lớn, cho đến khi (hoàn tất) khung cửa để đặt then cài, để hoàn thiện khe hở cửa sổ, nên đứng ở nơi không có cây cỏ xanh tươi để chỉ dẫn việc lợp mái hai hoặc ba lớp. Nếu đứng ở nơi không có cây cỏ xanh tươi mà chỉ dẫn (lợp) nhiều hơn thế nữa thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu jānaṁ sappāṇakaṁ udakaṁ tiṇaṁ vā mattikaṁ vā siñceyya vā siñcāpeyya vā, pācittiyaṁ.
If a monk pours water that he knows contains living beings onto grass or clay, or has it poured, he commits an offense entailing confession.
140. “Vị tỳ khưu nào biết mà tự mình tưới hoặc bảo người khác tưới nước có chúng sanh lên cỏ hoặc đất sét, phạm tội pācittiya.”
Bhūtagāmavaggo dutiyo
Chapter 3. Ovāda
Pācittiya 21. Ovāda
The second subchapter on plants is finished.
The subchapter on the instruction
Confession 21: instructing nuns without approval
Phẩm về Các Loại Thực Vật, thứ hai.
Yo pana bhikkhu asammato bhikkhuniyo ovadeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 22. Atthaṅgata
If a monk who has not been appointed instructs the nuns, he commits an offense entailing confession.
Confession 22: instructing nuns after sunset
146. “Vị tỳ khưu nào chưa được chỉ định mà giáo huấn các tỳ khưu ni thì phạm tội pācittiya.”
Sammatopi ce bhikkhu atthaṅgate sūriye bhikkhuniyo ovadeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 23. Bhikkhunupassaya
Even if he has been appointed, if a monk instructs the nuns after sunset, he commits an offense entailing confession.
Confession 23: instructing nuns in a nunnery
154. “Vị tỳ khưu dù đã được chỉ định, nếu giáo huấn các tỳ khưu ni sau khi mặt trời đã lặn, thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu bhikkhunupassayaṁ upasaṅkamitvā bhikkhuniyo ovadeyya aññatra samayā, pācittiyaṁ.
If a monk goes to a nunnery and instructs the nuns, except on an appropriate occasion, he commits an offense entailing confession.
“Vị tỳ khưu nào đi đến trú xứ của tỳ khưu ni và giáo huấn các tỳ khưu ni, thì phạm tội pācittiya.”
Tatthāyaṁ samayo, gilānā hoti bhikkhunī, ayaṁ tattha samayo.
Pācittiya 24. Āmisa
This is the appropriate occasion: a nun is sick.
Confession 24: accusing monks of teaching nuns for profit
160. “Vị tỳ khưu nào đi đến trú xá của tỳ khưu ni và giáo giới các tỳ khưu ni, ngoại trừ thời điểm (thích hợp), thì phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là thời điểm (thích hợp): Tỳ khưu ni bị bệnh – đây là thời điểm (thích hợp) trong trường hợp ấy.”
Yo pana bhikkhu evaṁ vadeyya “āmisahetu therā bhikkhū bhikkhuniyo ovadantī”ti, pācittiyaṁ.
Pācittiya 25. Cīvaradāna
If a monk says that the senior monks are instructing the nuns for the sake of worldly gain, he commits an offense entailing confession.
Confession 25: giving robe-cloth to a nun
165. “Vị tỳ khưu nào nói như vầy: ‘Các vị tỳ khưu trưởng lão giáo giới các tỳ khưu ni là vì lợi dưỡng,’ thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu aññātikāya bhikkhuniyā cīvaraṁ dadeyya aññatra pārivattakā, pācittiyaṁ.
Pācittiya 26. Cīvarasibbana
If a monk gives robe-cloth to an unrelated nun, except in exchange, he commits an offense entailing confession.
Confession 26: sewing a robe for a nun
171. ‘Vị tỳ khưu nào cho y phục đến vị tỳ khưu ni không phải là bà con, ngoại trừ việc trao đổi, thì phạm tội pācittiya.’
Yo pana bhikkhu aññātikāya bhikkhuniyā cīvaraṁ sibbeyya vā sibbāpeyya vā, pācittiyaṁ.
Pācittiya 27. Saṁvidhāna
If a monk sews a robe for an unrelated nun, or has one sewn, he commits an offense entailing confession.
Confession 27: traveling with a nun
176. “Vị tỳ khưu nào may hoặc bảo người khác may y phục cho vị tỳ khưu ni không phải là quyến thuộc thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu bhikkhuniyā saddhiṁ saṁvidhāya ekaddhānamaggaṁ paṭipajjeyya antamaso gāmantarampi aññatra samayā, pācittiyaṁ.
If a monk travels by arrangement with a nun, even just to the next inhabited area, except on an appropriate occasion, he commits an offense entailing confession.
“Vị tỳ khưu nào cùng thỏa thuận với tỳ khưu ni rồi đi trên cùng một con đường dài, cho đến cả một khoảng đường giữa hai làng, thì phạm tội pācittiya.”
Tatthāyaṁ samayo, satthagamanīyo hoti maggo, sāsaṅkasammato, sappaṭibhayo, ayaṁ tattha samayo.
Pācittiya 28. Nāvābhiruhana
This is the appropriate occasion: the road is considered risky and dangerous and should be traveled with a group.
Confession 28: traveling on a boat with a nun
182. “Vị tỳ khưu nào cùng thỏa thuận với tỳ khưu ni rồi đi trên cùng một con đường dài, cho đến cả một khoảng đường giữa hai làng, ngoại trừ trường hợp đúng thời điểm, thì phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là trường hợp đúng thời điểm: Con đường là con đường cần phải đi với đoàn lữ hành, được xem là có hiểm họa, có sự nguy hiểm – đây là trường hợp đúng thời điểm ở đây.”
Yo pana bhikkhu bhikkhuniyā saddhiṁ saṁvidhāya ekaṁ nāvaṁ abhiruheyya uddhaṅgāminiṁ vā adhogāminiṁ vā aññatra tiriyaṁ taraṇāya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 29. Paripācita
If a monk boards a boat by arrangement with a nun, either to go upstream or downstream, except for the purpose of crossing, he commits an offense entailing confession.
Confession 29: eating food prepared on a nun’s instruction
“Vị tỳ khưu nào hẹn cùng với tỳ khưu ni rồi cùng lên một chiếc thuyền, đi ngược dòng hay đi xuôi dòng, thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu jānaṁ bhikkhuniparipācitaṁ piṇḍapātaṁ bhuñjeyya aññatra pubbe gihisamārambhā, pācittiyaṁ.
Pācittiya 30. Rahonisajja
If a monk eats almsfood knowing that a nun had it prepared, except if the householder had intended to prepare it anyway, he commits an offense entailing confession.
Confession 30: sitting alone with a nun
‘Vị tỳ-khưu nào biết mà thọ dụng vật thực khất thực do tỳ-khưu-ni sắp đặt thì phạm tội pācittiya.’
Yo pana bhikkhu bhikkhuniyā saddhiṁ eko ekāya raho nisajjaṁ kappeyya, pācittiyaṁ.
If a monk sits down in private alone with a nun, he commits an offense entailing confession.
199. “Vị tỳ-khưu nào cùng với một tỳ-khưu-ni ngồi riêng một mình ở nơi kín đáo thì phạm tội pācittiya.”
Ovādavaggo tatiyo
The third subchapter on the instruction is finished.
Phẩm Ovāda, là phẩm thứ ba, đã kết thúc.
Chapter 4. Bhojanavaggo
The subchapter on eating
4. Phẩm Bhojana
Pācittiya 31. Āvasathapiṇḍa
Confession 31: eating excessively at a public guesthouse
203. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī, trong khu vườn Jetavana của trưởng giả Anāthapiṇḍika. Cũng vào lúc bấy giờ, ở không xa thành Sāvatthī, vật thực cúng dường tại nhà trọ của một hội nào đó đã được chuẩn bị sẵn. Các tỳ-khưu nhóm sáu vị vào buổi sáng, sau khi đắp y, mang bát và y, đi vào thành Sāvatthī để khất thực, do không nhận được vật thực nên đã đi đến nhà trọ. Dân chúng nói: “Thật lâu rồi các ngài mới đến,” và đã kính cẩn phục vụ họ. Sau đó, các tỳ-khưu nhóm sáu vị vào ngày thứ hai ... (v.v.) ... vào ngày thứ ba, vào buổi sáng, sau khi đắp y, mang bát và y, đi vào thành Sāvatthī để khất thực, do không nhận được vật thực nên đã đi đến nhà trọ và dùng bữa. Bấy giờ, các tỳ-khưu nhóm sáu vị đã khởi lên suy nghĩ này: “Chúng ta đi về tu viện để làm gì! Ngày mai cũng sẽ phải đến đây thôi,” rồi họ cứ ở lại đó và dùng vật thực cúng dường tại nhà trọ. Các du sĩ ngoại đạo phải rời đi. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và nói xấu rằng: “Tại sao các sa-môn Thích tử lại cứ ở lại đây và dùng vật thực cúng dường tại nhà trọ! Vật thực cúng dường tại nhà trọ này đâu phải chỉ dành cho họ; vật thực cúng dường tại nhà trọ này là dành cho tất cả mọi người.”
Agilānena bhikkhunā eko āvasathapiṇḍo bhuñjitabbo.
Tato ce uttari bhuñjeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 32. Gaṇabhojana
If a monk who is not sick eats more than one almsmeal at a public guesthouse,
he commits an offense entailing confession.
Confession 32: eating in a group
205. “Vị tỳ khưu không bệnh chỉ được dùng vật thực cúng dường tại nhà nghỉ công cộng một lần. Nếu dùng nhiều hơn thế, phạm tội pācittiya.”
Gaṇabhojane aññatra samayā pācittiyaṁ.
If a monk eats in a group, except on an appropriate occasion, he commits an offense entailing confession.
“Ăn theo nhóm, ngoại trừ các thời điểm (được cho phép), phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là thời điểm (được cho phép). Thời điểm bị bệnh – đây là thời điểm (được cho phép) trong trường hợp ấy.”
Tatthāyaṁ samayo, gilānasamayo, cīvaradānasamayo, cīvarakārasamayo, addhānagamanasamayo, nāvābhiruhanasamayo, mahāsamayo, samaṇabhattasamayo, ayaṁ tattha samayo.
Pācittiya 33. Paramparabhojana
These are the appropriate occasions: he is sick; it is the robe-giving season; it is a time of making robes; he is traveling; he is on a boat; it is a big occasion; it is a meal given by a monastic.
Confession 33: eating meals in succession
‘Do việc dùng bữa theo nhóm, ngoại trừ trường hợp đúng thời, là phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là trường hợp đúng thời: Thời điểm bị bệnh, thời điểm dâng y, thời điểm làm y – đây là trường hợp đúng thời ở đây.’
Paramparabhojane aññatra samayā pācittiyaṁ.
If a monk eats a meal before another, except on an appropriate occasion, he commits an offense entailing confession.
“Ăn bữa ăn kế bữa ăn, ngoại trừ trường hợp đúng thời, phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là trường hợp đúng thời: thời bệnh – đây là trường hợp đúng thời ở đây.”
Tatthāyaṁ samayo, gilānasamayo, cīvaradānasamayo, cīvarakārasamayo, ayaṁ tattha samayo.
Pācittiya 34. Kāṇamātu
These are the appropriate occasions: he is sick; it is the robe-giving season; it is a time of making robes.
Confession 34: accepting more than three bowlfuls
225. “Ăn bữa ăn kế bữa ăn, ngoại trừ trường hợp đúng thời, phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là trường hợp đúng thời: thời bệnh, thời dâng y, thời làm y – đây là trường hợp đúng thời ở đây.”
Bhikkhuṁ paneva kulaṁ upagataṁ pūvehi vā manthehi vā abhihaṭṭhuṁ pavāreyya, ākaṅkhamānena bhikkhunā dvattipattapūrā paṭiggahetabbā. Tato ce uttari paṭiggaṇheyya, pācittiyaṁ.
Dvattipattapūre paṭiggahetvā tato nīharitvā bhikkhūhi saddhiṁ saṁvibhajitabbaṁ, ayaṁ tattha sāmīci.
Pācittiya 35. Paṭhamapavāraṇā
If a monk goes to a family and is invited to take cookies or crackers, he may accept two or three bowlfuls if he wishes. If he accepts more than that, he commits an offense entailing confession.
If he accepts two or three bowlfuls, he should take it away and share it with the monks. This is the proper procedure.
Confession 35: eating more after refusing an invitation
232. ‘Vị tỳ khưu đã đi đến một gia đình, nếu được người ta mang đến mời nhận bánh trái hoặc bột rang, vị tỳ khưu nào muốn nhận thì được phép nhận hai hoặc ba bát đầy. Nếu nhận nhiều hơn thế thì phạm tội pācittiya. Sau khi đã nhận hai hoặc ba bát đầy, vị ấy nên mang ra khỏi nơi đó rồi chia sớt cùng với các vị tỳ khưu. Đây là cách hành xử đúng đắn trong trường hợp ấy.’
Yo pana bhikkhu bhuttāvī pavārito anatirittaṁ khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā khādeyya vā bhuñjeyya vā, pācittiyaṁ.
Pācittiya 36. Dutiyapavāraṇā
If a monk has finished his meal and refused an invitation to eat more, and then eats fresh or cooked food that is not left over, he commits an offense entailing confession.
Confession 36: encouraging a monastic to eat after refusing an invitation
238. “Vị tỳ-khưu nào đã ăn xong, đã được mời bảo ‘đủ rồi,’ mà lại nhai hoặc ăn vật thực loại cứng hay vật thực loại mềm chưa được làm thành phần còn lại, thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu bhikkhuṁ bhuttāviṁ pavāritaṁ anatirittena khādanīyena vā bhojanīyena vā abhihaṭṭhuṁ pavāreyya “handa bhikkhu khāda vā bhuñja vā”ti jānaṁ āsādanāpekkho, bhuttasmiṁ pācittiyaṁ.
Pācittiya 37. Vikālabhojana
If a monk invites a monk, whom he knows has finished his meal and refused an invitation to eat more, to eat fresh or cooked food that is not left over, saying, ‘Here, monk, eat,’ aiming to criticize him, then when the other has eaten, he commits an offense entailing confession.
Confession 37: eating at the wrong time
243. “Vị tỳ khưu nào, trong khi biết rõ, với ý muốn làm cho mất thể diện, mời một vị tỳ khưu đã dùng bữa, đã từ chối, bằng cách mang đến vật thực loại cứng hoặc vật thực loại mềm không phải là phần dư thừa và nói rằng: ‘Này tỳ khưu, hãy nhai hoặc hãy dùng đi,’ khi (vị kia) đã dùng xong, vị ấy phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu vikāle khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā khādeyya vā bhuñjeyya vā, pācittiyaṁ.
Pācittiya 38. Sannidhikāraka
If a monk eats fresh or cooked food at the wrong time, he commits an offense entailing confession.
Confession 38: eating stored food
248. “Vị tỳ khưu nào nhai hoặc ăn vật thực loại nhai hoặc vật thực loại ăn vào lúc phi thời, thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu sannidhikārakaṁ khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā khādeyya vā bhuñjeyya vā, pācittiyaṁ.
Pācittiya 39. Paṇītabhojana
If a monk eats fresh or cooked food that he has stored, he commits an offense entailing confession.
Confession 39: asking for fine foods
253. “Vị tỳ khưu nào nhai hoặc ăn vật thực loại nhai hoặc vật thực loại ăn đã được tồn trữ, thì phạm tội pācittiya.”
Yāni kho pana tāni paṇītabhojanāni, seyyathidaṁ—sappi, navanītaṁ, telaṁ, madhu, phāṇitaṁ, maccho, maṁsaṁ, khīraṁ, dadhi. Yo pana bhikkhu evarūpāni paṇītabhojanāni agilāno attano atthāya viññāpetvā bhuñjeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 40. Dantapona
If a monk who is not sick asks for any of these kinds of fine foods for himself—that is, ghee, butter, oil, honey, syrup, fish, meat, milk, and curd—and then eats it, he commits an offense entailing confession.
Confession 40: eating ungiven food
“Những món ăn hảo hạng nào đó, cụ thể là – bơ lỏng, bơ tươi, dầu, mật ong, đường phèn, cá, thịt, sữa, sữa đông. Vị tỳ khưu nào, sau khi xin những món ăn hảo hạng như vậy vì lợi ích của bản thân rồi dùng, thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu adinnaṁ mukhadvāraṁ āhāraṁ āhareyya aññatra udakadantaponā, pācittiyaṁ.
If a monk eats food that has not been given, except for water and tooth cleaners, he commits an offense entailing confession.
265. “Vị tỳ khưu nào đưa vật thực chưa được dâng cúng vào cửa miệng, ngoại trừ nước và tăm xỉa răng, phạm tội pācittiya.”
Bhojanavaggo catuttho
Chapter 5. Acelaka
Pācittiya 41. Acelaka
The fourth subchapter on eating is finished.
The subchapter on naked ascetics
Confession 41: giving food to non-Buddhist monastics
Phẩm về các bữa ăn, là phẩm thứ tư.
Yo pana bhikkhu acelakassa vā paribbājakassa vā paribbājikāya vā sahatthā khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā dadeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 42. Uyyojana
If a monk personally gives fresh or cooked food to a naked ascetic, to a male wanderer, or to a female wanderer, he commits an offense entailing confession.
Confession 42: dismissing a monk during almsround
270. “Vị tỳ khưu nào tự tay trao vật thực loại cứng hoặc vật thực loại mềm cho người lõa thể, hoặc cho nam du sĩ ngoại đạo, hoặc cho nữ du sĩ ngoại đạo, thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu bhikkhuṁ “ehāvuso, gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisissāmā”ti tassa dāpetvā vā adāpetvā vā uyyojeyya “gacchāvuso, na me tayā saddhiṁ kathā vā nisajjā vā phāsu hoti, ekakassa me kathā vā nisajjā vā phāsu hotī”ti etadeva paccayaṁ karitvā anaññaṁ, pācittiyaṁ.
Pācittiya 43. Sabhojana
If a monk says to a monk, ‘Come, let’s go to the village or town for alms,’ and then, whether he has had food given to him or not, sends him away, saying, ‘Go away! I’m not comfortable talking or sitting with you, but only if I talk and sit by myself,’ and he does so only for this reason and no other, he commits an offense entailing confession.
Confession 43: intruding on a lustful couple
275. “Vị tỳ khưu nào, sau khi (mời) một vị tỳ khưu rằng: ‘Này hiền hữu, hãy đến đây, chúng ta sẽ vào làng hoặc thị trấn để khất thực,’ rồi dù có cho hay không cho vị ấy (vật thực gì), lại đuổi vị ấy đi (với lời lẽ): ‘Này hiền hữu, hãy đi đi. Việc nói chuyện hay ngồi cùng với hiền hữu không làm tôi thoải mái. Việc nói chuyện hay ngồi một mình làm tôi thoải mái,’ chỉ lấy lý do ấy mà không có lý do nào khác, thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu sabhojane kule anupakhajja nisajjaṁ kappeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 44. Rahopaṭicchanna
If a monk sits down intruding on a lustful couple, he commits an offense entailing confession.
Confession 44: sitting with a woman in a concealed place
280. “Vị tỳ khưu nào đi vào và ngồi trong gia đình có người hưởng thụ chung thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu mātugāmena saddhiṁ raho paṭicchanne āsane nisajjaṁ kappeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 45. Rahonisajja
If a monk sits down in private on a concealed seat with a woman, he commits an offense entailing confession.
Confession 45: sitting alone with a woman
285. “Vị tỳ khưu nào ngồi cùng với người nữ ở một chỗ ngồi kín đáo và che khuất thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu mātugāmena saddhiṁ eko ekāya raho nisajjaṁ kappeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 46. Cāritta
If a monk sits down in private alone with a woman, he commits an offense entailing confession.
Confession 46: visiting families before a meal
290. “Vị tỳ-khưu nào ngồi riêng một mình ở nơi vắng vẻ cùng với người mẫu-già-ma thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu nimantito sabhatto samāno santaṁ bhikkhuṁ anāpucchā purebhattaṁ vā pacchābhattaṁ vā kulesu cārittaṁ āpajjeyya aññatra samayā, pācittiyaṁ.
Tatthāyaṁ samayo, cīvaradānasamayo, cīvarakārasamayo, ayaṁ tattha samayo.
Pācittiya 47. Mahānāma
If a monk who has been invited to a meal visits families beforehand or afterwards without informing an available monk, except on an appropriate occasion, he commits an offense entailing confession.
These are the appropriate occasions: it is the robe-giving season; it is a time of making robes.
Confession 47: accepting an invitation of more than four months
299. “Vị tỳ khưu nào, trong khi đã được mời và có vật thực, không xin phép vị tỳ khưu có mặt, đi đến các gia đình vào lúc trước bữa ăn hoặc vào lúc sau bữa ăn, ngoại trừ trường hợp đúng thời, thì phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là trường hợp đúng thời: Thời điểm dâng y, thời điểm làm y – đây là trường hợp đúng thời ở đây.”
Agilānena bhikkhunā catumāsappaccayapavāraṇā sāditabbā aññatra punapavāraṇāya, aññatra niccapavāraṇāya. Tato ce uttari sādiyeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 48. Uyyuttasenā
A monk who is not sick may accept an invitation to ask for requisites for four months. If he accepts one beyond that limit, except if it is a further invitation or a permanent invitation, he commits an offense entailing confession.
Confession 48: going to see a mobilized army
306. ‘Vị tỳ khưu không có bệnh nên chấp nhận lời thỉnh mời về dược phẩm trong bốn tháng, ngoại trừ lời thỉnh mời lại, ngoại trừ lời thỉnh mời thường xuyên; nếu vị ấy chấp nhận vượt quá giới hạn đó, phạm tội pācittiya.’
Yo pana bhikkhu uyyuttaṁ senaṁ dassanāya gaccheyya aññatra tathārūpappaccayā, pācittiyaṁ.
If a monk goes to see an army, except if there is a suitable reason, he commits an offense entailing confession.
313. “Vị tỳ khưu nào đi xem quân đội xuất trận, ngoại trừ trường hợp có duyên sự tương tự, vị ấy phạm tội pācittiya.”
Pācittiya 49. Senāvāsa
Confession 49: staying more than three days with an army
Quân đội có nghĩa là tượng binh, mã binh, xa binh, bộ binh. Tượng binh là (đơn vị) mười hai người. Mã binh là (đơn vị) ba người. Xa binh là (đơn vị) bốn người. Bộ binh là bốn người tay cầm cung tên. Đi để xem, phạm tội dukkaṭa. Đứng ở nơi nào mà nhìn thấy, phạm tội pācittiya. Rời khỏi tầm nhìn rồi nhìn lại nhiều lần, phạm tội pācittiya.
Siyā ca tassa bhikkhuno kocideva paccayo senaṁ gamanāya, dirattatirattaṁ tena bhikkhunā senāya vasitabbaṁ.
If that monk has a reason for going to the army, he may stay with the army for two or three nights.
318. ‘Nếu vị tỳ khưu có bất cứ lý do nào để đi đến quân đội, vị tỳ khưu ấy được phép ở lại trong quân đội hai hoặc ba đêm. Nếu vị ấy ở lại quá thời gian ấy thì phạm tội pācittiya.’
Tato ce uttari vaseyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 50. Uyyodhika
If he stays longer than that, he commits an offense entailing confession.
Confession 50: seeing an army in action
‘Nếu vị ấy ở lại quá thời gian ấy’ có nghĩa là: vào ngày thứ tư, nếu ở lại trong quân đội cho đến khi mặt trời lặn thì phạm tội pācittiya.
Dirattatirattaṁ ce bhikkhu senāya vasamāno uyyodhikaṁ vā balaggaṁ vā senābyūhaṁ vā anīkadassanaṁ vā gaccheyya, pācittiyaṁ.
If a monk who is staying with an army for two or three nights goes to a battle, a troop review, a massing of the army, or a troop inspection, he commits an offense entailing confession.
323. ‘Nếu vị tỳ khưu trong khi đang ở trong quân đội hai hoặc ba đêm mà đi đến xem trận chiến, hoặc xem điểm binh, hoặc xem dàn trận, hoặc xem duyệt binh thì phạm tội pācittiya.’
Acelakavaggo pañcamo
Chapter 6. Surāpāna
Pācittiya 51. Surāpāna
The fifth subchapter on naked ascetics is finished.
The subchapter on drinking alcohol
Confession 51: drinking alcohol
Phẩm Acelaka, phẩm thứ năm.
Surāmerayapāne pācittiyaṁ.
Pācittiya 52. Aṅgulipatodaka
If a monk drinks this or that kind of alcoholic drink, he commits an offense entailing confession.
Confession 52: tickling
327. Do việc uống rượu nấu và rượu ngâm, phạm tội pācittiya.
Aṅgulipatodake pācittiyaṁ.
Pācittiya 53. Hasadhamma
Udake hasadhamme pācittiyaṁ.
Pācittiya 54. Anādariya
If a monk tickles someone, he commits an offense entailing confession.
Confession 53: playing in water
If a monk plays in water, he commits an offense entailing confession.
Confession 54: disrespect
331. Do việc cù lét bằng ngón tay, phạm tội pācittiya.
Anādariye pācittiyaṁ.
Pācittiya 55. Bhiṁsāpana
If a monk is disrespectful, he commits an offense entailing confession.
Confession 55: scaring a monk
341. “Thiếu cung kính thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).”
Yo pana bhikkhu bhikkhuṁ bhiṁsāpeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 56. Joti
If a monk scares a monk, he commits an offense entailing confession.
Confession 56: lighting a fire
346. “Vị tỳ khưu nào hù dọa một tỳ khưu thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu agilāno visibbanāpekkho jotiṁ samādaheyya vā samādahāpeyya vā aññatra tathārūpappaccayā, pācittiyaṁ.
Pācittiya 57. Nahāna
If a monk who is not sick lights a fire to warm himself, or has one lit, except if there is a suitable reason, he commits an offense entailing confession.
Confession 57: bathing too often
“Vị tỳ khưu nào, không bị bệnh, với ý muốn sưởi ấm, tự mình nhóm lửa hoặc bảo người khác nhóm lửa, thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu orenaddhamāsaṁ nahāyeyya aññatra samayā, pācittiyaṁ.
If a monk bathes at intervals of less than a half-month, except on an appropriate occasion, he commits an offense entailing confession.
“Vị tỳ khưu nào tắm trong vòng nửa tháng, ngoại trừ trường hợp đúng thời điểm, thì phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là thời điểm: một tháng rưỡi còn lại của mùa nóng và tháng đầu tiên của mùa mưa, tức là hai tháng rưỡi này là mùa nóng, mùa oi bức – đây là thời điểm trong trường hợp ấy.”
Tatthāyaṁ samayo “diyaḍḍho māso seso gimhāna”nti “vassānassa paṭhamo māso” iccete aḍḍhateyyamāsā uṇhasamayo, pariḷāhasamayo, gilānasamayo, kammasamayo, addhānagamanasamayo, vātavuṭṭhisamayo, ayaṁ tattha samayo.
Pācittiya 58. Dubbaṇṇakaraṇa
These are the appropriate occasions: it is the two-and-a-half-month period of summer and the fever season, comprising the last one-and-a-half months of summer and the first month of the rainy season; he is sick; he is working; he is traveling; there is wind and rain.
Confession 58: not making stains on a new robe
“Vị tỳ khưu nào tắm trong vòng nửa tháng, ngoại trừ trường hợp đúng thời điểm, thì phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là thời điểm: Một tháng rưỡi còn lại của mùa nóng và tháng đầu tiên của mùa mưa, hai tháng rưỡi này là thời điểm nóng nực, thời điểm oi bức, thời điểm bị bệnh, thời điểm làm công việc – đây là thời điểm trong trường hợp ấy.”
Navaṁ pana bhikkhunā cīvaralābhena tiṇṇaṁ dubbaṇṇakaraṇānaṁ aññataraṁ dubbaṇṇakaraṇaṁ ādātabbaṁ nīlaṁ vā kaddamaṁ vā kāḷasāmaṁ vā. Anādā ce bhikkhu tiṇṇaṁ dubbaṇṇakaraṇānaṁ aññataraṁ dubbaṇṇakaraṇaṁ navaṁ cīvaraṁ paribhuñjeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 59. Vikappana
When a monk gets a new robe, he should apply one of three kinds of stains: blue-green, mud color, or dark brown. If a monk uses a new robe without applying any of the three kinds of stains, he commits an offense entailing confession.
Confession 59: using assigned property that has not been relinquished
368. “Lại nữa, vị tỳ khưu sau khi được y mới nên thực hiện một trong ba cách làm cho biến sắc: hoặc màu xanh, hoặc màu bùn, hoặc màu đen sẫm. Nếu vị tỳ khưu không thực hiện một trong ba cách làm cho biến sắc mà sử dụng y mới thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā sikkhamānāya vā sāmaṇerassa vā sāmaṇeriyā vā sāmaṁ cīvaraṁ vikappetvā appaccuddhāraṇaṁ paribhuñjeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 60. Apanidhāna
If a monk himself assigns the ownership of a robe to a monk, a nun, a trainee nun, a novice monk, or a novice nun, and he then uses it without the other first relinquishing it, he commits an offense entailing confession.
Confession 60: hiding a robe
373. “Vị tỳ khưu nào, sau khi tự mình xác định chủ quyền y cho vị tỳ khưu, hoặc cho tỳ khưu ni, hoặc cho vị nữ tập sự, hoặc cho vị sa-di, hoặc cho vị sa-di-ni, mà sử dụng y ấy trong khi chưa được hoàn lại thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu bhikkhussa pattaṁ vā cīvaraṁ vā nisīdanaṁ vā sūcigharaṁ vā kāyabandhanaṁ vā apanidheyya vā apanidhāpeyya vā antamaso hasāpekkhopi, pācittiyaṁ.
If a monk hides a monk’s bowl, robe, sitting mat, needle case, or belt, or he has it hidden, even just for a laugh, he commits an offense entailing confession.
378. ‘Vị tỳ khưu nào, hoặc giấu, hoặc bảo giấu bình bát, hoặc y, hoặc tọa cụ, hoặc ống kim, hoặc dây thắt lưng của tỳ khưu, dù chỉ là có ý muốn nói đùa, thì phạm pācittiya.’
Surāpānavaggo chaṭṭho
Chapter 7. Sappāṇa
Pācittiya 61. Sañcicca
The sixth subchapter on drinking alcohol is finished.
The subchapter on containing living beings
Confession 61: intentionally killing a living being
Phẩm Uống Rượu Mê Say, là phẩm thứ sáu.
Yo pana bhikkhu sañcicca pāṇaṁ jīvitā voropeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 62. Sappāṇaka
If a monk intentionally kills a living being, he commits an offense entailing confession.
Confession 62: using water with living beings in it
383. “Vị tỳ khưu nào cố ý giết hại mạng sống của chúng sanh thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu jānaṁ sappāṇakaṁ udakaṁ paribhuñjeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 63. Ukkoṭana
If a monk uses water that he knows contains living beings, he commits an offense entailing confession.
Confession 63: reopening a settled legal issue
388. “Vị tỳ khưu nào, trong khi biết, dùng nước có chúng sanh thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu jānaṁ yathādhammaṁ nihatādhikaraṇaṁ punakammāya ukkoṭeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 64. Duṭṭhulla
If a monk reopens a legal issue that he knows has been legitimately settled, he commits an offense entailing confession.
Confession 64: concealing a grave offense
393. “Vị tỳ khưu nào, trong khi biết, khơi lại vụ tranh tụng đã được dàn xếp đúng theo Pháp để làm lại yết ma thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu bhikkhussa jānaṁ duṭṭhullaṁ āpattiṁ paṭicchādeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 65. Ūnavīsativassa
If a monk knowingly conceals a monk’s grave offense, he commits an offense entailing confession.
Confession 65: ordaining a person under twenty
398. “Vị tỳ khưu nào, trong khi biết được tội trọng của một tỳ khưu mà che giấu, thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu jānaṁ ūnavīsativassaṁ puggalaṁ upasampādeyya, so ca puggalo anupasampanno, te ca bhikkhū gārayhā, idaṁ tasmiṁ pācittiyaṁ.
Pācittiya 66. Theyyasattha
If a monk gives the full ordination to a person he knows is less than twenty years old, he commits an offense entailing confession. Moreover, that person has not received the full ordination and those monks are blameworthy.
Confession 66: traveling with thieves
403. “Vị tỳ-khưu nào, trong khi biết, làm lễ cụ túc cho người chưa đủ hai mươi tuổi, thì người ấy không thành tựu lễ cụ túc, và các vị tỳ-khưu kia đáng bị quở trách. Đây là tội pācittiya trong trường hợp ấy.”
Yo pana bhikkhu jānaṁ theyyasatthena saddhiṁ saṁvidhāya ekaddhānamaggaṁ paṭipajjeyya antamaso gāmantarampi, pācittiyaṁ.
Pācittiya 67. Saṁvidhāna
If a monk knowingly travels by arrangement with a group of thieves, even just to the next inhabited area, he commits an offense entailing confession.
Confession 67: traveling with a woman
408. “Vị tỳ khưu nào đã biết mà lại thỏa thuận rồi đi chung một đoạn đường dài với đoàn người buôn gian lận, cho đến chỉ là khoảng cách một ngôi làng, thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu mātugāmena saddhiṁ saṁvidhāya ekaddhānamaggaṁ paṭipajjeyya antamaso gāmantarampi, pācittiyaṁ.
Pācittiya 68. Ariṭṭha
If a monk travels by arrangement with a woman, even just to the next inhabited area, he commits an offense entailing confession.
Confession 68: not giving up a bad view
413. “Vị tỳ khưu nào hẹn ước với một người nữ để đi chung một quãng đường dài, cho đến cả khoảng cách giữa làng này với làng khác, thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu evaṁ vadeyya
“tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā, te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā”ti,
so bhikkhu bhikkhūhi evamassa vacanīyo
“māyasmā evaṁ avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi, na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya,
anekapariyāyenāvuso antarāyikā dhammā antarāyikā vuttā bhagavatā, alañca pana te paṭisevato antarāyāyā”ti.
If a monk says,
‘As I understand the Buddha’s Teaching, the things he calls obstacles are unable to obstruct one who indulges in them,’
then the monks should correct him like this:
‘No, venerable, don’t misrepresent the Buddha, for it’s not good to misrepresent the Buddha. The Buddha would never say such a thing.
In many discourses the Buddha has declared the obstacles to be obstructive and how they obstruct one who indulges in them.’
418. “Vị tỳ khưu nào nói như vầy: ‘Tôi hiểu Giáo pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng như thế này, rằng các pháp được đức Thế Tôn nói là các pháp gây trở ngại, (khi) thực hành chúng thì không đủ để gây trở ngại,’ vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, chớ có nói như vậy, chớ có vu khống đức Thế Tôn, việc vu khống đức Thế Tôn là không tốt đẹp, đức Thế Tôn không có nói như vậy. Thưa hiền giả, bằng nhiều phương cách, các pháp gây trở ngại đã được đức Thế Tôn nói là (thực sự) gây trở ngại, và khi thực hành chúng thì đủ để gây trở ngại.’ Và nếu vị tỳ khưu ấy, đang được các tỳ khưu nói (như thế), vẫn cứ cố chấp như vậy, vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu khiển trách cho đến lần thứ ba để từ bỏ (tà kiến) ấy. Và nếu đang được khiển trách cho đến lần thứ ba, vị ấy từ bỏ (tà kiến) ấy, điều ấy là tốt đẹp; nếu không từ bỏ, thì phạm tội pācittiya.”
Evañca so bhikkhu bhikkhūhi vuccamāno tatheva paggaṇheyya, so bhikkhu bhikkhūhi yāvatatiyaṁ samanubhāsitabbo tassa paṭinissaggāya.
Yāvatatiyañce samanubhāsiyamāno taṁ paṭinissajjeyya, iccetaṁ kusalaṁ.
No ce paṭinissajjeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 69. Ukkhittasambhoga
If that monk continues as before, the monks should press him up to three times to make him give up that view.
If he then gives it up, all is well.
If he does not, he commits an offense entailing confession.
Confession 69: living with an ejected monk
Dù được các vị tỳ khưu ấy nói như vậy, tỳ khưu Ariṭṭha, người trước đây từng là kẻ giết kên kên, vẫn khăng khăng nói, cố chấp, bám víu vào tà kiến xấu xa ấy một cách mạnh mẽ: “Thưa các hiền giả, đúng vậy, tôi hiểu giáo pháp do đức Thế Tôn thuyết giảng rằng: ‘Những pháp được đức Thế Tôn gọi là các pháp gây chướng ngại, khi thực hành chúng thì không đủ để gây ra chướng ngại.’” Và khi các vị tỳ khưu ấy không thể làm cho tỳ khưu Ariṭṭha, người trước đây từng là kẻ giết kên kên, từ bỏ tà kiến xấu xa ấy, khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã trình bày sự việc này lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn, nhân duyên sự này, trong trường hợp này, đã cho triệu tập Tăng chúng và hỏi tỳ khưu Ariṭṭha, người trước đây từng là kẻ giết kên kên: “Này Ariṭṭha, có thật là ngươi đã khởi lên tà kiến xấu xa như vầy không: ‘Tôi hiểu giáo pháp do đức Thế Tôn thuyết giảng theo cách mà những pháp được đức Thế Tôn gọi là các pháp gây chướng ngại, khi thực hành chúng thì không đủ để gây ra chướng ngại’?” (Vị ấy đáp:) “Bạch đức Thế Tôn, đúng vậy, con hiểu giáo pháp do đức Thế Tôn thuyết giảng rằng: ‘Những pháp được đức Thế Tôn gọi là các pháp gây chướng ngại, khi thực hành chúng thì không đủ để gây ra chướng ngại.’”
Yo pana bhikkhu jānaṁ tathāvādinā bhikkhunā akaṭānudhammena taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissaṭṭhena saddhiṁ sambhuñjeyya vā, saṁvaseyya vā, saha vā seyyaṁ kappeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 70. Kaṇṭaka
If a monk lives, does formal meetings, or shares a sleeping place with a monk who he knows is saying such things, who has not made amends according to the rule, and who has not given up that view, he commits an offense entailing confession.
Confession 70: supporting a novice monk with a bad view
424. ‘Vị tỳ khưu nào, trong khi biết rõ, cùng ăn, hoặc cùng ở, hoặc cùng ngủ chung với một tỳ khưu có tà kiến như vậy, chưa được xử lý đúng theo Pháp và chưa từ bỏ tà kiến ấy, thì phạm tội pācittiya.’
Samaṇuddesopi ce evaṁ vadeyya
“tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā, te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā”ti,
so samaṇuddeso bhikkhūhi evamassa vacanīyo
“māvuso, samaṇuddesa evaṁ avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi, na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya,
anekapariyāyenāvuso, samaṇuddesa antarāyikā dhammā antarāyikā vuttā bhagavatā, alañca pana te paṭisevato antarāyāyā”ti,
evañca so samaṇuddeso bhikkhūhi vuccamāno tatheva paggaṇheyya, so samaṇuddeso bhikkhūhi evamassa vacanīyo
“ajjatagge te, āvuso, samaṇuddesa na ceva so bhagavā satthā apadisitabbo,
yampi caññe samaṇuddesā labhanti bhikkhūhi saddhiṁ dirattatirattaṁ sahaseyyaṁ, sāpi te natthi,
cara pire, vinassā”ti.
Yo pana bhikkhu jānaṁ tathānāsitaṁ samaṇuddesaṁ upalāpeyya vā, upaṭṭhāpeyya vā, sambhuñjeyya vā, saha vā seyyaṁ kappeyya, pācittiyaṁ.
Also if a novice monastic says,
‘As I understand the Buddha’s Teaching, the things he calls obstacles are unable to obstruct one who indulges in them,’
then the monks should correct him like this:
‘No, don’t misrepresent the Buddha, for it’s not good to misrepresent the Buddha. The Buddha would never say such a thing.
In many discourses the Buddha has declared the obstacles to be obstructive and how they obstruct one who indulges in them.’
If that novice monastic continues as before, he should be told:
‘From today on you may not refer to the Buddha as your teacher.
And, unlike other novices, you can no longer share a sleeping place with the monks for two or three nights.
Go! Away with you!’
If a monk befriends that novice monastic, or he is attended on by him, lives with him, or shares a sleeping place with him, even though he knows that he has been expelled in this way, he commits an offense entailing confession.
429. “Nếu một sa-di nói như vầy: ‘Tôi hiểu giáo pháp do đức Thế Tôn thuyết giảng như thế này: rằng các pháp được đức Thế Tôn gọi là pháp gây chướng ngại ấy, khi thực hành chúng, không có khả năng gây ra chướng ngại,’ sa-di ấy nên được các tỳ-khưu nói như vầy: ‘Này hiền giả sa-di, chớ có nói như vậy, chớ có vu khống đức Thế Tôn, việc vu khống đức Thế Tôn là không tốt đẹp, đức Thế Tôn không có nói như vậy. Này hiền giả sa-di, bằng nhiều phương diện, các pháp gây chướng ngại đã được đức Thế Tôn nói là pháp gây chướng ngại. Và chúng có khả năng gây ra chướng ngại cho người thực hành.’ Và nếu sa-di ấy, được các tỳ-khưu nói như vậy, vẫn cứ cố chấp như thế, sa-di ấy nên được các tỳ-khưu nói như vầy: ‘Này hiền giả sa-di, kể từ hôm nay, ngươi không được gọi đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư nữa. Và việc mà các sa-di khác được phép ngủ chung với các tỳ-khưu trong hai, ba đêm, ngươi cũng không được phép nữa. Hãy đi đi, kẻ đáng ghét, hãy biến đi.’ Vị tỳ-khưu nào, trong khi biết rõ, thuyết phục, hoặc cho phục vụ, hoặc cùng ăn, hoặc cùng ngủ với một sa-di đã bị trục xuất như vậy, thì phạm tội pācittiya.”
Sappāṇakavaggo sattamo
The seventh subchapter on containing living beings is finished.
Phẩm Sappāṇaka, phẩm thứ bảy, đã kết thúc.
Chapter 8. Sahadhammika
Pācittiya 71. Sahadhammika
The subchapter on legitimate correction
Confession 71: not accepting legitimate correction
8. Phẩm Sahadhammika
Yo pana bhikkhu bhikkhūhi sahadhammikaṁ vuccamāno evaṁ vadeyya “na tāvāhaṁ, āvuso, etasmiṁ sikkhāpade sikkhissāmi, yāva na aññaṁ bhikkhuṁ byattaṁ vinayadharaṁ paripucchāmī”ti, pācittiyaṁ.
Sikkhamānena, bhikkhave, bhikkhunā aññātabbaṁ paripucchitabbaṁ paripañhitabbaṁ, ayaṁ tattha sāmīci.
Pācittiya 72. Vilekhana
If a monk, when legitimately corrected by the monks, says, ‘I won’t practice this training rule until I’ve questioned a monk who is an expert on the Monastic Law,’ he commits an offense entailing confession.
A monk who is training should understand, should question, should enquire. This is the proper procedure.
Confession 72: disparaging the training rules
434. “Vị tỳ khưu nào, khi đang được các vị tỳ khưu khác nói đến đúng theo Pháp, lại nói như vầy: ‘Này chư hiền, tôi sẽ chưa thực hành học giới này cho đến khi tôi chưa hỏi một vị tỳ khưu khác thông thạo, một vị trì luật,’ thì phạm tội pācittiya. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang muốn học hỏi thì cần phải biết, cần phải hỏi, cần phải thẩm xét. Đây là điều thích hợp trong trường hợp ấy.”
Yo pana bhikkhu pātimokkhe uddissamāne evaṁ vadeyya “kiṁ panimehi khuddānukhuddakehi sikkhāpadehi uddiṭṭhehi, yāvadeva kukkuccāya vihesāya vilekhāya saṁvattantī”ti, sikkhāpadavivaṇṇake pācittiyaṁ.
Pācittiya 73. Mohana
When the Monastic Code is being recited, if a monk says, ‘What’s the point of reciting these minor training rules, when they just lead to anxiety, oppression, and annoyance?’ then in disparaging the training rules, he commits an offense entailing confession.
Confession 73: deception
439. “Vị tỳ khưu nào, khi Pātimokkha đang được đọc lên, lại nói như vầy: ‘Có ích gì với những học giới nhỏ nhặt, vụn vặt này được đọc lên, chúng chỉ đưa đến sự hối hận, sự phiền não, và sự bối rối mà thôi,’ thì do việc chê bai học giới, phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu anvaddhamāsaṁ pātimokkhe uddissamāne evaṁ vadeyya
“idāneva kho ahaṁ jānāmi, ayampi kira dhammo suttāgato suttapariyāpanno anvaddhamāsaṁ uddesaṁ āgacchatī”ti.
Tañce bhikkhuṁ aññe bhikkhū jāneyyuṁ nisinnapubbaṁ iminā bhikkhunā dvattikkhattuṁ pātimokkhe uddissamāne, ko pana vādo bhiyyo, na ca tassa bhikkhuno aññāṇakena mutti atthi, yañca tattha āpattiṁ āpanno, tañca yathādhammo kāretabbo, uttari cassa moho āropetabbo
“tassa te, āvuso, alābhā, tassa te dulladdhaṁ, yaṁ tvaṁ pātimokkhe uddissamānena sādhukaṁ aṭṭhiṁ katvā manasi karosī”ti,
idaṁ tasmiṁ mohanake pācittiyaṁ.
Pācittiya 74. Pahāra
During the half-monthly recitation of the Monastic Code, a monk might say,
‘Just now did I find out that this rule too has come down in the Monastic Code, is included in the Monastic Code, and comes up for recitation every half-month.’
If other monks know that that monk has previously sat through at least two or three recitations of the Monastic Code, then that monk is not let off because of ignorance, and he is to be dealt with according to the rule. Further, he should be charged with deception:
‘It’s a loss for you that you don’t pay proper attention during the recitation of the Monastic Code.’
And for the act of deception, he commits an offense entailing confession.
Confession 74: hitting in anger
444. ‘Vị tỳ khưu nào, mỗi nửa tháng khi Pātimokkha đang được tụng đọc, lại nói như vầy: ‘Chính bây giờ tôi mới biết rằng, thì ra pháp này cũng đã được truyền lại trong kinh, đã được bao gồm trong kinh, và được tụng đọc mỗi nửa tháng.’ Nếu các tỳ khưu khác biết về vị tỳ khưu ấy rằng vị này đã từng ngồi nghe tụng đọc Pātimokkha hai hoặc ba lần rồi – huống nữa là nhiều hơn – thì vị tỳ khưu ấy không được thoát khỏi tội lỗi bằng cách giả vờ không biết, và tội nào đã phạm ở đó thì phải được xử trị đúng theo Pháp, hơn nữa, sự mê mờ phải được áp đặt lên vị ấy: ‘Này hiền giả, thật bất lợi cho hiền giả, thật không may cho hiền giả, khi Pātimokkha đang được tụng đọc mà hiền giả lại không chú tâm, không thành kính lắng nghe.’ Đây là tội pācittiya trong trường hợp giả vờ không biết ấy.’
Yo pana bhikkhu bhikkhussa kupito anattamano pahāraṁ dadeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 75. Talasattika
If a monk hits a monk in anger, he commits an offense entailing confession.
Confession 75: raising a hand in anger
450. “Vị tỳ khưu nào, do tức giận và không hài lòng, đánh đập một tỳ khưu khác, thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu bhikkhussa kupito anattamano talasattikaṁ uggireyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 76. Amūlaka
If a monk raises a hand in anger against a monk, he commits an offense entailing confession.
Confession 76: making a groundless accusation
455. “Vị tỳ khưu nào, do tức giận và không hài lòng, giơ tay hăm dọa một tỳ khưu khác, thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu bhikkhuṁ amūlakena saṅghādisesena anuddhaṁseyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 77. Sañcicca
If a monk groundlessly charges a monk with an offense entailing suspension, he commits an offense entailing confession.
Confession 77: intentionally making a monk anxious
460. 'Vị tỳ khưu nào vu khống một vị tỳ khưu về tội saṅghādisesa một cách vô căn cứ, phạm tội pācittiya.'
Yo pana bhikkhu bhikkhussa sañcicca kukkuccaṁ upadaheyya “itissa muhuttampi aphāsu bhavissatī”ti etadeva paccayaṁ karitvā anaññaṁ, pācittiyaṁ.
Pācittiya 78. Upassuti
If a monk intentionally makes a monk anxious, thinking, ‘In this way he will be ill at ease at least for a moment,’ and he does so only for this reason and no other, he commits an offense entailing confession.
Confession 78: eavesdropping
465. 'Vị tỳ khưu nào cố ý gây ra sự hối hận cho một vị tỳ khưu, chỉ với mục đích duy nhất rằng: 'Như thế này, vị ấy sẽ không được thoải mái dù chỉ trong chốc lát,' và không vì lý do nào khác, phạm tội pācittiya.'
Yo pana bhikkhu bhikkhūnaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ upassutiṁ tiṭṭheyya “yaṁ ime bhaṇissanti, taṁ sossāmī”ti etadeva paccayaṁ karitvā anaññaṁ, pācittiyaṁ.
Pācittiya 79. Kammappaṭibāhana
If a monk eavesdrops on monks who are arguing and disputing, thinking, ‘I’ll hear what they say,’ and he does so only for this reason and no other, he commits an offense entailing confession.
Confession 79: criticizing a legitimate legal procedure
470. ‘Vị tỳ khưu nào đứng ở nơi có thể nghe lén được các tỳ khưu đang có sự cãi vã, đang có sự tranh chấp, đang có sự luận쟁 với ý nghĩ rằng: ‘Những gì các vị này sẽ nói, ta sẽ nghe,’ chỉ vì lý do ấy mà thôi, không có lý do nào khác, thì phạm tội pācittiya.’
Yo pana bhikkhu dhammikānaṁ kammānaṁ chandaṁ datvā pacchā khīyanadhammaṁ āpajjeyya, pācittiyaṁ.
If a monk gives his consent to legitimate legal procedures, and then criticizes them afterwards, he commits an offense entailing confession.
475. “Vị tỳ khưu nào sau khi đã trao sự ưng thuận cho các yết ma đúng Pháp lại rơi vào tình trạng khiển trách thì phạm tội pācittiya.”
Pācittiya 80. Chandaṁadatvāgamana
Confession 80: leaving without giving consent
474. Bấy giờ, đức Phật Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Và vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm sáu đã có hành vi không đúng đắn, rồi khi một yết ma đang được tiến hành cho từng vị một thì họ lại phản đối. Và vào lúc bấy giờ, Tăng chúng đã tụ họp vì một công việc cần làm nào đó. Các tỳ khưu nhóm sáu đang làm công việc may y nên đã trao sự ưng thuận cho một vị. Khi ấy, Tăng chúng đã thực hiện yết ma cho vị ấy (với ý nghĩ): “Này chư hiền, vị tỳ khưu nhóm sáu này đã đến một mình, nào! chúng ta hãy thực hiện yết ma cho vị này.” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đi đến nơi các tỳ khưu nhóm sáu đang ở. Các tỳ khưu nhóm sáu đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: “Này hiền giả, Tăng chúng đã làm gì vậy?” “Này chư hiền, Tăng chúng đã thực hiện yết ma cho tôi.” “Này hiền giả, chúng tôi đã không trao sự ưng thuận vì mục đích này là: ‘(Tăng chúng) sẽ thực hiện yết ma cho ngươi.’ Và nếu chúng tôi đã biết rằng: ‘(Tăng chúng) sẽ thực hiện yết ma cho ngươi’ thì chúng tôi đã không trao sự ưng thuận.” Các vị tỳ khưu thiểu dục ... cho đến ... đã chê bai, chỉ trích, phàn nàn rằng: “Tại sao các tỳ khưu nhóm sáu sau khi đã trao sự ưng thuận cho các yết ma đúng Pháp lại có thể rơi vào tình trạng khiển trách được chứ?” ... cho đến ... “Này các tỳ khưu, có thật là các ngươi sau khi đã trao sự ưng thuận cho các yết ma đúng Pháp lại rơi vào tình trạng khiển trách không?” “Bạch Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật Thế Tôn đã quở trách ... cho đến ... “Này các kẻ rỗng tuếch kia, tại sao các ngươi sau khi đã trao sự ưng thuận cho các yết ma đúng Pháp lại có thể rơi vào tình trạng khiển trách chứ! Này các kẻ rỗng tuếch kia, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin được tin tưởng ... cho đến ... Và này các tỳ khưu, các ngươi nên trình bày học giới này như vầy: –
Yo pana bhikkhu saṅghe vinicchayakathāya vattamānāya chandaṁ adatvā uṭṭhāyāsanā pakkameyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 81. Dubbala
When the Sangha is in the middle of a discussion, if a monk gets up from his seat and leaves without first giving his consent, he commits an offense entailing confession.
Confession 81: criticizing a robe distribution
480. “Vị tỳ khưu nào trong khi Tăng chúng đang có lời bàn luận để đi đến quyết định mà không trao sự ưng thuận rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và bỏ đi thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu samaggena saṅghena cīvaraṁ datvā pacchā khīyanadhammaṁ āpajjeyya “yathāsanthutaṁ bhikkhū saṅghikaṁ lābhaṁ pariṇāmentī”ti, pācittiyaṁ.
Pācittiya 82. Pariṇāmana
If a monk gives out a robe as part of a unanimous Sangha and then criticizes it afterwards, saying, ‘The monks are diverting the Sangha’s material support according to friendship,’ he commits an offense entailing confession.
Confession 82: diverting gains intended for the Sangha
485. “Vị tỳ khưu nào, sau khi Tăng chúng hòa hợp đã trao y, về sau lại có thái độ chê bai rằng: ‘Các tỳ khưu đã tùy theo sự quen biết mà chuyển vật cúng dường của Tăng chúng,’ thì phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu jānaṁ saṅghikaṁ lābhaṁ pariṇataṁ puggalassa pariṇāmeyya, pācittiyaṁ.
If a monk diverts to an individual material support that he knows was intended for the Sangha, he commits an offense entailing confession.
490. ‘Vị tỳ khưu nào, trong khi biết rõ, chuyển lợi lộc của Tăng chúng đã được hướng đến cho cá nhân, thì phạm tội pācittiya.’
Sahadhammikavaggo aṭṭhamo
Chapter 9. Ratana
Pācittiya 83. Antepura
Yo pana bhikkhu rañño khattiyassa muddhābhisittassa anikkhantarājake aniggataratanake pubbe appaṭisaṁvidito indakhīlaṁ atikkāmeyya, pācittiyaṁ.
Pācittiya 84. Ratana
The eighth subchapter on legitimate correction is finished.
The subchapter on precious things
Confession 83: entering a royal compound unannounced
If a monk, without first being announced, crosses the threshold to the bedroom of a consecrated aristocrat king, when both the king and the queen are present, he commits an offense entailing confession.
Confession 84: picking up precious things
Phẩm Sahadhammika, thứ tám.
Yo pana bhikkhu ratanaṁ vā ratanasammataṁ vā aññatra ajjhārāmā vā ajjhāvasathā vā uggaṇheyya vā uggaṇhāpeyya vā, pācittiyaṁ.
If a monk picks up something precious or something regarded as precious, or he has it picked up, except within a monastery or inside a lodging, he commits an offense entailing confession.
Vị tỳ khưu nào, ngoại trừ ở bên trong tu viện, tự mình nhặt lấy hay bảo người khác nhặt lấy vật báu hay vật được xem là vật báu thì phạm tội Ưng Đối Trị (pācittiya).
Ratanaṁ vā pana bhikkhunā ratanasammataṁ vā ajjhārāme vā ajjhāvasathe vā uggahetvā vā uggahāpetvā vā nikkhipitabbaṁ “yassa bhavissati, so harissatī”ti, ayaṁ tattha sāmīci.
Pācittiya 85. Vikālagāmappavesana
If he picks up something precious or something regarded as precious, or he has it picked up, within a monastery or inside a lodging, he should put it aside with the thought, ‘Whoever owns it will come and get it.’ This is the proper procedure.
Confession 85: entering an inhabited area at the wrong time
505. “Vị tỳ khưu nào nhặt lên hoặc cho người nhặt lên vật báu hoặc vật được xem là vật báu, ngoại trừ ở trong khuôn viên tu viện hoặc ở trong nơi trú ngụ, thì phạm tội pācittiya. Lại nữa, vị tỳ khưu nên nhặt lên hoặc cho người nhặt lên rồi cất giữ vật báu hoặc vật được xem là vật báu ở trong khuôn viên tu viện hoặc ở trong nơi trú ngụ, với ý nghĩ rằng: ‘Vật này của ai thì người ấy sẽ đến lấy đi.’ Đây là cách hành xử đúng đắn trong trường hợp ấy.”
Yo pana bhikkhu santaṁ bhikkhuṁ anāpucchāvikāle gāmaṁ paviseyya aññatra tathārūpā accāyikā karaṇīyā, pācittiyaṁ.
Pācittiya 86. Sūcighara
If a monk, when another monk is available, enters an inhabited area at the wrong time without informing him, except if there is some appropriate urgent business, he commits an offense entailing confession.
Confession 86: making an inappropriate needle case
“Vị tỳ khưu nào vào làng trong lúc phi thời mà không xin phép một vị tỳ khưu có mặt, vị ấy phạm tội pācittiya.”
Yo pana bhikkhu aṭṭhimayaṁ vā dantamayaṁ vā visāṇamayaṁ vā sūcigharaṁ kārāpeyya, bhedanakaṁ pācittiyaṁ.
Pācittiya 87. Mañcapīṭha
If a monk has a needle case made from bone, ivory, or horn, it is to be destroyed, and he commits an offense entailing confession.
Confession 87: making an inappropriate bed or bench
517. ‘Vị tỳ khưu nào cho làm ống đựng kim bằng xương, hoặc bằng ngà, hoặc bằng sừng, thì phạm tội pācittiya phải đập bỏ.’
Navaṁ pana bhikkhunā mañcaṁ vā pīṭhaṁ vā kārayamānena aṭṭhaṅgulapādakaṁ kāretabbaṁ sugataṅgulena aññatra heṭṭhimāya aṭaniyā. Taṁ atikkāmayato chedanakaṁ pācittiyaṁ.
Pācittiya 88. Tūlonaddha
If a monk is having a new bed or bench made, it is to have legs eight standard fingerbreadths long below the lowest frame. If the legs exceed that, they are to be cut down, and he commits an offense entailing confession.
Confession 88: making an upholstered bed or bench
522. “Vị tỳ khưu cho làm giường hoặc ghế mới thì nên cho làm có chân cao tám ngón tay của đức Sugata, ngoại trừ thanh giường bên dưới; vị nào cho làm vượt quá mức ấy thì phạm tội pācittiya cần phải cắt bỏ.”
Yo pana bhikkhu mañcaṁ vā pīṭhaṁ vā tūlonaddhaṁ kārāpeyya, uddālanakaṁ pācittiyaṁ.
Pācittiya 89. Nisīdana
If a monk has a bed or a bench made upholstered with cotton down, it is to be stripped, and he commits an offense entailing confession.
Confession 89: making an oversize sitting mat
527. “Vị tỳ khưu nào cho làm giường hoặc ghế được nhồi bông gòn thì phạm tội pācittiya cần phải rạch bỏ.”
Nisīdanaṁ pana bhikkhunā kārayamānena pamāṇikaṁ kāretabbaṁ, tatridaṁ pamāṇaṁ, dīghaso dve vidatthiyo sugatavidatthiyā, tiriyaṁ diyaḍḍhaṁ, dasā vidatthi. Taṁ atikkāmayato chedanakaṁ pācittiyaṁ.
Pācittiya 90. Kaṇḍuppaṭicchādi
If a monk is having a sitting mat made, it should be made the right size. This is the right size: two standard handspans long and one-and-a-half wide, and a border of one handspan. If it exceeds that, it is to be cut down, and he commits an offense entailing confession.
Confession 90: making an oversize itch cloth
“Vị tỳ khưu khi cho làm tọa cụ thì nên cho làm đúng kích thước. Ở đây, đây là kích thước: chiều dài hai gang tay, theo gang tay của đấng Thiện Thệ; chiều ngang một gang rưỡi. Vị nào vượt quá kích thước ấy thì phạm tội pācittiya phải cắt bỏ.”
Kaṇḍuppaṭicchādiṁ pana bhikkhunā kārayamānena pamāṇikā kāretabbā, tatridaṁ pamāṇaṁ, dīghaso catasso vidatthiyo sugatavidatthiyā, tiriyaṁ dve vidatthiyo. Taṁ atikkāmayato chedanakaṁ pācittiyaṁ.
Pācittiya 91. Vassikasāṭika
If a monk is having an itch-covering cloth made, it should be made the right size. This is the right size: four standard handspans long and two wide. If it exceeds that, it is to be cut down, and he commits an offense entailing confession.
Confession 91: making an oversize rainy-season robe
538. “Vị tỳ khưu khi cho làm y phủ ghẻ thì nên cho làm đúng kích thước. Ở đây, đây là kích thước: chiều dài bốn gang tay, theo gang tay của đấng Thiện Thệ; chiều ngang hai gang tay. Vị nào vượt quá kích thước ấy thì phạm tội pācittiya phải cắt bỏ.”
Vassikasāṭikaṁ pana bhikkhunā kārayamānena pamāṇikā kāretabbā, tatridaṁ pamāṇaṁ, dīghaso cha vidatthiyo sugatavidatthiyā, tiriyaṁ aḍḍhateyyā. Taṁ atikkāmayato chedanakaṁ pācittiyaṁ.
Pācittiya 92. Nanda
If a monk is having a rainy-season robe made, it should be made the right size. This is the right size: six standard handspans long and two-and-a-half wide. If it exceeds that, it is to be cut down, and he commits an offense entailing confession.
Confession 92: making an oversize robe
543. “Vị tỳ khưu trong khi may y tắm mưa nên may đúng kích thước. Đây là kích thước của nó: chiều dài sáu gang tay, theo gang tay của đức Như Lai; chiều rộng hai gang rưỡi. Vị nào làm vượt quá kích thước này, phạm tội pācittiya cần phải cắt bỏ.”
Yo pana bhikkhu sugatacīvarappamāṇaṁ cīvaraṁ kārāpeyya, atirekaṁ vā, chedanakaṁ pācittiyaṁ.
Tatridaṁ sugatassa sugatacīvarappamāṇaṁ, dīghaso nava vidatthiyo sugatavidatthiyā, tiriyaṁ cha vidatthiyo, idaṁ sugatassa sugatacīvarapamāṇanti.
Ratanavaggo navamo
If a monk has a robe made that is the standard robe size or larger, it is to be cut down, and he commits an offense entailing confession.
This is the standard robe size: nine standard handspans long and six wide.
The ninth subchapter on precious things is finished.
548. “Vị tỳ khưu nào may y có kích thước bằng y của đức Như Lai hoặc lớn hơn, phạm tội pācittiya cần phải cắt bỏ. Đây là kích thước y của đức Như Lai: chiều dài chín gang tay, theo gang tay của đức Như Lai; chiều rộng sáu gang tay. Đây là kích thước y của đức Như Lai.”
Uddiṭṭhā kho āyasmanto dvenavuti pācittiyā dhammā.
Tatthāyasmante pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
dutiyampi pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
tatiyampi pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
parisuddhetthāyasmanto, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmīti.
Pācittiyā niṭṭhitā
Venerables, the ninety-two rules on confession have been recited.
In regard to this I ask you, ‘Are you pure in this?’
A second time I ask, ‘Are you pure in this?’
A third time I ask, ‘Are you pure in this?’
You are pure in this and therefore silent. I will remember it thus.
The chapter on offenses entailing confession is finished.
Thưa chư hiền, chín mươi hai pháp pācittiya đã được tụng đọc. Về các pháp ấy, tôi xin hỏi chư hiền: ‘Có phải quý vị trong sạch trong các pháp ấy không?’ Lần thứ hai, tôi cũng hỏi: ‘Có phải quý vị trong sạch trong các pháp ấy không?’ Lần thứ ba, tôi cũng hỏi: ‘Có phải quý vị trong sạch trong các pháp ấy không?’ Chư hiền đã trong sạch trong các pháp ấy, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
Pāṭidesanīya
The rules on acknowledgement
6. Chương Pāṭidesanīya
Ime kho panāyasmanto cattāro pāṭidesanīyā dhammā uddesaṁ āgacchanti.
Venerables, these four rules on acknowledgment come up for recitation.
Thưa chư hiền, lại nữa, bốn pháp pāṭidesanīya này
Pāṭidesanīya 1. Paṭhamapāṭidesanīya
Acknowledgement 1: receiving a nun’s food
1. Học giới Pāṭidesanīya thứ nhất
Yo pana bhikkhu aññātikāya bhikkhuniyā antaragharaṁ paviṭṭhāya hatthato khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā sahatthā paṭiggahetvā khādeyya vā bhuñjeyya vā, paṭidesetabbaṁ tena bhikkhunā
“gārayhaṁ, āvuso, dhammaṁ āpajjiṁ asappāyaṁ pāṭidesanīyaṁ, taṁ paṭidesemī”ti.
Pāṭidesanīya 2. Dutiyapāṭidesanīya
If a monk receives fresh or cooked food directly from an unrelated nun who has entered an inhabited area, and then eats it, he must acknowledge it:
‘I have done a blameworthy and unsuitable thing that is to be acknowledged. I acknowledge it.’
Acknowledgement 2: letting a nun give directions to donors
553. ‘Vị tỳ-khưu nào, từ tay của một tỳ-khưu-ni không phải là bà con đã đi vào trong xóm làng, tự tay nhận lấy vật thực cứng hoặc vật thực mềm rồi ăn hoặc dùng, vị tỳ-khưu ấy phải sám hối rằng: “Thưa chư hiền, tôi đã phạm một pháp đáng bị quở trách, không thích hợp, là pháp pāṭidesanīya. Tôi xin sám hối pháp ấy.”’
Bhikkhū paneva kulesu nimantitā bhuñjanti, tatra ce sā bhikkhunī vosāsamānarūpā ṭhitā hoti “idha sūpaṁ detha, idha odanaṁ dethā”ti. Tehi bhikkhūhi sā bhikkhunī apasādetabbā “apasakka tāva bhagini, yāva bhikkhū bhuñjantī”ti. Ekassapi ce bhikkhuno na paṭibhāseyya taṁ bhikkhuniṁ apasādetuṁ “apasakka tāva bhagini, yāva bhikkhū bhuñjantī”ti, paṭidesetabbaṁ tehi bhikkhūhi
“gārayhaṁ, āvuso, dhammaṁ āpajjimhā asappāyaṁ pāṭidesanīyaṁ, taṁ paṭidesemā”ti.
When monks eat by invitation to families, if a nun is there giving directions, saying, ‘Give bean curry here; give rice there,’ then those monks should stop her: ‘Stop, sister, while the monks are eating.’ If not even a single monk addresses that nun in this way to stop her, they must acknowledge it:
‘We have done a blameworthy and unsuitable thing which is to be acknowledged. We acknowledge it.’
558. ‘Lại nữa, các vị tỳ khưu được mời đến các gia đình và đang dùng bữa, nếu ở đấy có vị tỳ khưu ni đứng với vẻ sắp đặt rằng: ‘Hãy dâng món canh vào đây, hãy dâng cơm vào đây,’ vị tỳ khưu ni ấy cần được các vị tỳ khưu kia cho lui ra rằng: ‘Này hiền tỷ, xin hãy lui ra trong khi các vị tỳ khưu đang dùng bữa.’ Nếu không có dù chỉ một vị tỳ khưu nói lên được việc cho vị tỳ khưu ni ấy lui ra rằng: ‘Này hiền tỷ, xin hãy lui ra trong khi các vị tỳ khưu đang dùng bữa,’ thì các vị tỳ khưu ấy cần phải phát lồ rằng: ‘Thưa chư hiền, chúng tôi đã phạm phải pháp đáng bị quở trách, không thích hợp, là tội pāṭidesanīya. Chúng tôi xin phát lồ pháp ấy.’
Pāṭidesanīya 3. Tatiyapāṭidesanīya
Acknowledgement 3: receiving food from a designated family
2. Điều học Pāṭidesanīya thứ hai
Yāni kho pana tāni sekkhasammatāni kulāni, yo pana bhikkhu tathārūpesu sekkhasammatesu kulesu pubbe animantito agilāno khādanīyaṁ vā, bhojanīyaṁ vā sahatthā paṭiggahetvā khādeyya vā, bhuñjeyya vā, paṭidesetabbaṁ tena bhikkhunā
“gārayhaṁ, āvuso, dhammaṁ āpajjiṁ asappāyaṁ pāṭidesanīyaṁ, taṁ paṭidesemī”ti.
Pāṭidesanīya 4. Catutthapāṭidesanīya
There are families that are designated as ‘in training’. If a monk, without being sick and without first being invited, eats fresh or cooked food after personally receiving it from such a family, he must acknowledge it:
‘I have done a blameworthy and unsuitable thing that is to be acknowledged. I acknowledge it.’
Acknowledgement 4: receiving food in a dangerous place
“Lại nữa, những gia tộc nào đã được công nhận là gia tộc hữu học, vị tỳ khưu nào tại những gia tộc đã được công nhận là hữu học như vậy, sau khi tự tay nhận lấy vật thực cứng hay vật thực mềm rồi ăn hoặc dùng, vị tỳ khưu ấy phải sám hối rằng: ‘Thưa chư hiền, tôi đã phạm một pháp đáng bị quở trách, không thích hợp, thuộc loại pāṭidesanīya. Tôi xin sám hối pháp ấy.’”
Yāni kho pana tāni āraññakāni senāsanāni sāsaṅkasammatāni sappaṭibhayāni, yo pana bhikkhu tathārūpesu senāsanesu pubbe appaṭisaṁviditaṁ khādanīyaṁ vā, bhojanīyaṁ vā ajjhārāme sahatthā paṭiggahetvā agilāno khādeyya vā, bhuñjeyya vā, paṭidesetabbaṁ tena bhikkhunā
“gārayhaṁ, āvuso, dhammaṁ āpajjiṁ asappāyaṁ pāṭidesanīyaṁ, taṁ paṭidesemī”ti.
There are wilderness dwellings that are considered risky and dangerous. If a monk who is not sick, without first making an announcement about those dwellings, eats fresh or cooked food after personally receiving it inside that monastery, he must acknowledge it:
‘I have done a blameworthy and unsuitable thing that is to be acknowledged. I acknowledge it.’
“Lại nữa, có những trú xứ trong rừng được xem là có sự nguy hiểm, có sự đáng sợ. Vị tỳ khưu nào, trong những trú xứ có tính chất như thế, sau khi tự tay nhận lãnh vật thực để ăn hoặc vật thực để dùng chưa được báo trước ở bên trong tu viện, rồi ăn hoặc dùng, vị tỳ khưu ấy phải sám hối rằng: ‘Thưa các hiền giả, tôi đã phạm phải pháp đáng bị quở trách, không thích hợp, là pháp ưng đối thú. Tôi xin sám hối pháp ấy.’”
Uddiṭṭhā kho āyasmanto cattāro pāṭidesanīyā dhammā.
Tatthāyasmante pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
dutiyampi pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
tatiyampi pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
parisuddhetthāyasmanto, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmīti.
Venerables, the four rules on acknowledgment have been recited.
In regard to this I ask you, ‘Are you pure in this?’
A second time I ask, ‘Are you pure in this?’
A third time I ask, ‘Are you pure in this?’
You are pure in this and therefore silent. I will remember it thus.
Thưa chư Đại đức, bốn pháp Ưng Đối Thú đã được tụng đọc. Trong các pháp ấy, tôi xin hỏi chư Đại đức: ‘Có phải các ngài trong sạch trong các pháp ấy không?’ Lần thứ nhì, tôi xin hỏi: ‘Có phải các ngài trong sạch trong các pháp ấy không?’ Lần thứ ba, tôi xin hỏi: ‘Có phải các ngài trong sạch trong các pháp ấy không?’ Chư Đại đức trong sạch trong các pháp ấy, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
Pāṭidesanīyā niṭṭhitā
Sekhiya
The chapter on offenses entailing acknowledgment is finished.
The rules of training
Điều học Ưng Đối Thú thứ tư đã kết thúc.
Ime kho panāyasmanto sekhiyā dhammā uddesaṁ āgacchanti.
Venerables, these rules of training come up for recitation.
Thưa chư Đại đức, lại nữa, các pháp Ưng Học này
Chapter 1. Parimaṇḍala
Sekhiya 1. Parimaṇḍala
Chapter 1: evenly all around
Training 1: not wearing the sarong evenly all around
1. Phẩm Mặc Y Ngay Ngắn
Parimaṇḍalaṁ nivāsessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 2.
‘I will wear my sarong evenly all around,’ this is how you should train.
Training 2: not wearing the upper robe evenly all around
‘Ta sẽ mặc y nội cho ngay ngắn,’ đây là điều học nên thực hành.
Parimaṇḍalaṁ pārupissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 3. Suppaṭicchanna
‘I will wear my upper robe evenly all around,’ this is how you should train.
Training 3: not being well-covered
‘Ta sẽ đắp y cho ngay ngắn,’ đây là điều học nên thực hành.
Suppaṭicchanno antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 4.
‘I will be well-covered while walking in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 4: not being well-covered
‘Ta sẽ đi vào trong khu dân cư với thân được che kín cẩn thận,’ đây là điều học nên thực hành.
Suppaṭicchanno antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 5. Susaṁvuta
‘I will be well-covered while sitting in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 5: being unrestrained
‘Ta sẽ ngồi trong khu dân cư với thân được che kín cẩn thận,’ đây là điều học nên thực hành.
Susaṁvuto antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 6.
‘I will be well-restrained while walking in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 6: being unrestrained
“‘Ta sẽ đi vào trong khu dân cư với sự thu thúc,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Susaṁvuto antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 7. Okkhittacakkhu
‘I will be well-restrained while sitting in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 7: not lowering the eyes
“‘Ta sẽ ngồi trong khu dân cư với sự thu thúc,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Okkhittacakkhu antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 8.
‘I will lower my eyes while walking in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 8: not lowering the eyes
“‘Ta sẽ đi vào trong khu dân cư với mắt nhìn xuống,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Okkhittacakkhu antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 9. Ukkhittaka
‘I will lower my eyes while sitting in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 9: lifting the robes
“‘Ta sẽ ngồi trong khu dân cư với mắt nhìn xuống,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na ukkhittakāya antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 10.
‘I will not lift my robe while walking in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 10: lifting the robes
“‘Ta sẽ không đi vào trong khu dân cư với y được vén lên,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na ukkhittakāya antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.
‘I will not lift my robe while sitting in inhabited areas,’ this is how you should train.
“‘Ta sẽ không ngồi trong xóm làng trong lúc vén y lên,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Parimaṇḍalavaggo paṭhamo
The first subchapter on evenly all around is finished.
Phẩm Mặc Y Ngay Ngắn, phẩm thứ nhất.
Chapter 2. Ujjagghika
Chapter 2: laughing loudly
2. Phẩm Cười Lớn Tiếng
Sekhiya 11. Ujjagghika
Na ujjagghikāya antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 12.
Training 11: laughing loudly
‘I will not laugh loudly while walking in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 12: laughing loudly
“‘Ta sẽ không đi trong xóm làng trong lúc cười lớn tiếng,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na ujjagghikāya antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 13. Uccasadda
‘I will not laugh loudly while sitting in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 13: being noisy
“‘Ta sẽ không ngồi trong xóm làng trong lúc cười lớn tiếng,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Appasaddo antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 14.
‘I will not be noisy while walking in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 14: being noisy
“‘Ta sẽ đi trong xóm làng với tiếng nói nhỏ nhẹ,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Appasaddo antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 15. Kāyappacālaka
‘I will not be noisy while sitting in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 15: swaying the body
“‘Ta sẽ ngồi trong xóm làng với tiếng nói nhỏ nhẹ,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na kāyappacālakaṁ antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 16.
‘I will not sway my body while walking in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 16: swaying the body
“‘Ta sẽ không đi trong xóm làng trong lúc lắc lư thân mình,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na kāyappacālakaṁ antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 17. Bāhuppacālaka
‘I will not sway my body while sitting in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 17: swinging the arms
“‘Ta sẽ không ngồi ở trong xóm trong khi rung lắc thân,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
Na bāhuppacālakaṁ antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 18.
‘I will not swing my arms while walking in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 18: swinging the arms
“‘Ta sẽ không đi ở trong xóm trong khi vung vẩy cánh tay,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
Na bāhuppacālakaṁ antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 19. Sīsappacālaka
‘I will not swing my arms while sitting in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 19: swaying the head
“‘Ta sẽ không ngồi ở trong xóm trong khi vung vẩy cánh tay,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
Na sīsappacālakaṁ antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 20.
‘I will not sway my head while walking in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 20: swaying the head
“‘Ta sẽ không đi ở trong xóm trong khi lắc đầu,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
Na sīsappacālakaṁ antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.
‘I will not sway my head while sitting in inhabited areas,’ this is how you should train
“‘Ta sẽ không ngồi ở trong xóm trong khi lắc đầu,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
Ujjagghikavaggo dutiyo
The second subchapter on laughing loudly is finished.
Phẩm Ujjagghika thứ hai.
Chapter 3. Khambhakata
Sekhiya 21. Khambhakata
Chapter 3: hands on hips
Training 21: hands on hips
3. Phẩm Chống Nạnh
Na khambhakato antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 22.
‘I will not put my hands on my hips while walking in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 22: hands on hips
“‘Ta sẽ không đi ở trong xóm trong khi chống nạnh,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
Na khambhakato antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 23. Oguṇṭhita
‘I will not put my hands on my hips while sitting in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 23: covering the head
“‘Ta sẽ không chống nạnh ngồi ở trong khu dân cư,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na oguṇṭhito antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 24.
‘I will not cover my head while walking in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 24: covering the head
“‘Ta sẽ không trùm đầu đi vào trong khu dân cư,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na oguṇṭhito antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 25. Ukkuṭika
‘I will not cover my head while sitting in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 25: squatting on the heels
“‘Ta sẽ không trùm đầu ngồi ở trong khu dân cư,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na ukkuṭikāya antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 26. Pallatthika
‘I will not move about while squatting on my heels in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 26: clasping the knees
“‘Ta sẽ không đi nhón gót ở trong khu dân cư,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na pallatthikāya antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 27. Sakkaccapaṭiggahaṇa
‘I will not clasp my knees while sitting in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 27: not receiving respectfully
“‘Ta sẽ không ngồi bó gối ở trong khu dân cư,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Sakkaccaṁ piṇḍapātaṁ paṭiggahessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 28. Pattasaññīpaṭiggahaṇa
‘I will receive almsfood respectfully,’ this is how you should train.
Training 28: not receiving with attention on the almsbowl
“‘Ta sẽ cung kính nhận vật thực khất thực,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Pattasaññī piṇḍapātaṁ paṭiggahessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 29. Samasūpakapaṭiggahaṇa
‘I will receive almsfood with attention on the almsbowl,’ this is how you should train.
Training 29: not receiving in the right proportions
“‘Ta sẽ có tưởng trong bát mà nhận vật thực khất thực,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Samasūpakaṁ piṇḍapātaṁ paṭiggahessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 30. Samatittika
Samatittikaṁ piṇḍapātaṁ paṭiggahessāmīti sikkhā karaṇīyā.
‘I will receive almsfood with the right proportion of bean curry,’ this is how you should train.
Training 30: not receiving on an even level
‘I will receive an even level of almsfood,’ this is how you should train.
“‘Ta sẽ nhận vật thực khất thực với món canh vừa phải,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Khambhakatavaggo tatiyo
Chapter 4. Sakkacca
Sekhiya 31. Sakkaccabhuñjana
The third subchapter on hands on hips is finished.
Chapter 4: respectfully
Training 31: not eating respectfully
Phẩm Chống Nạnh, thứ ba.
Sakkaccaṁ piṇḍapātaṁ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 32. Pattasaññībhuñjana
‘I will eat almsfood respectfully,’ this is how you should train.
Training 32: not eating with attention on the almsbowl
“‘Ta sẽ cung kính thọ thực vật thực khất thực,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Pattasaññī piṇḍapātaṁ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 33. Sapadāna
‘I will eat almsfood with attention on the almsbowl,’ this is how you should train.
Training 33: not eating in order
“‘Ta sẽ có tưởng trong bát mà thọ thực vật thực khất thực,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Sapadānaṁ piṇḍapātaṁ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 34. Samasūpaka
‘I will eat almsfood in order,’ this is how you should train.
Training 34: not eating in the right proportions
‘Ta sẽ dùng vật thực khất thực theo thứ tự,’ việc học tập nên được thực hành.
Samasūpakaṁ piṇḍapātaṁ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 35. Nathūpakata
‘I will eat almsfood with the right proportion of bean curry,’ this is how you should train.
Training 35: making food into a heap
‘Ta sẽ dùng vật thực khất thực với lượng canh vừa phải,’ việc học tập nên được thực hành.
Na thūpakato omadditvā piṇḍapātaṁ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 36. Odanappaṭicchādana
‘I will not eat almsfood after making a heap,’ this is how you should train.
Training 36: covering with rice
‘Ta sẽ không dùng vật thực khất thực bằng cách ấn xuống từ đỉnh đống cơm,’ việc học tập nên được thực hành.
Na sūpaṁ vā byañjanaṁ vā odanena paṭicchādessāmi bhiyyokamyataṁ upādāyāti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 37. Sūpodanaviññatti
‘I will not cover my curries with rice because I want more,’ this is how you should train.
Training 37: requesting rice and bean curry
‘Ta sẽ không dùng cơm để che đậy món canh hay món đồ ăn do muốn có nhiều hơn,’ việc học tập nên được thực hành.
Na sūpaṁ vā odanaṁ vā agilāno attano atthāya viññāpetvā bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 38. Ujjhānasaññī
‘When not sick, I will not request bean curry or rice for myself and then eat it,’ this is how you should train.
Training 38: finding fault
“‘Ta sẽ không xin canh hoặc cơm vì lợi ích của bản thân trong khi không có bệnh rồi ăn,’ cần phải học tập như vậy.”
Na ujjhānasaññī paresaṁ pattaṁ olokessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 39. Kabaḷa
‘I will not look at another’s almsbowl finding fault,’ this is how you should train.
Training 39: making an overlarge mouthful
“‘Ta sẽ không nhìn vào bát của người khác với ý tìm lỗi,’ cần phải học tập như vậy.”
Nātimahantaṁ kabaḷaṁ karissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 40. Ālopa
‘I will not make mouthfuls that are too large,’ this is how you should train.
Training 40: not making rounded mouthfuls
“‘Ta sẽ không làm miếng cơm quá lớn,’ cần phải học tập như vậy.”
Parimaṇḍalaṁ ālopaṁ karissāmīti sikkhā karaṇīyā.
‘I will make rounded mouthfuls,’ this is how you should train.
“‘Ta sẽ làm miếng cơm cho tròn,’ cần phải học tập như vậy.”
Sakkaccavaggo catuttho
Chapter 5. Kabaḷa
Sekhiya 41. Anāhaṭa
The fourth subchapter on respectfully is finished.
Chapter 5: mouthfuls
Training 41: opening the mouth
Phẩm Cung Kính là phẩm thứ tư.
Na anāhaṭe kabaḷe mukhadvāraṁ vivarissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 42. Bhuñjamāna
Na bhuñjamāno sabbahatthaṁ mukhe pakkhipissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 43. Sakabaḷa
‘I will not open my mouth without bringing a mouthful to it,’ this is how you should train.
Training 42: putting whole hand in mouth
‘I will not put my whole hand in my mouth while eating,’ this is how you should train.
Training 43: speaking with food in mouth
“‘Ta sẽ không mở miệng khi miếng cơm chưa được đưa đến,’ cần phải học tập như vậy.”
Na sakabaḷena mukhena byāharissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 44. Piṇḍukkhepaka
‘I will not speak with food in my mouth,’ this is how you should train.
Training 44: eating from lifted mouthfuls
“‘Ta sẽ không nói chuyện trong khi miệng đang có miếng cơm,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na piṇḍukkhepakaṁ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 45. Kabaḷāvacchedaka
‘I will not eat from a lifted ball of food,’ this is how you should train.
Training 45: breaking up mouthfuls
“‘Ta sẽ không thọ thực bằng cách tung vắt cơm lên,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na kabaḷāvacchedakaṁ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 46. Avagaṇḍakāraka
‘I will not eat breaking up mouthfuls,’ this is how you should train.
Training 46: stuffing the cheeks
“‘Ta sẽ không thọ thực bằng cách cắn đứt miếng cơm,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na avagaṇḍakārakaṁ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 47. Hatthaniddhunaka
‘I will not eat stuffing my cheeks,’ this is how you should train.
Training 47: shaking the hand
“‘Ta sẽ không thọ thực bằng cách phồng má,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na hatthaniddhunakaṁ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 48. Sitthāvakāraka
‘I will not eat shaking my hand,’ this is how you should train.
Training 48: scattering rice
“‘Ta sẽ không thọ thực bằng cách vẫy tay,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na sitthāvakārakaṁ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 49. Jivhānicchāraka
‘I will not eat scattering rice,’ this is how you should train.
Training 49: sticking out the tongue
“‘Ta sẽ không thọ thực bằng cách làm rơi vãi hột cơm,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na jivhānicchārakaṁ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 50. Capucapukāraka
‘I will not eat sticking out my tongue,’ this is how you should train.
Training 50: chomping
“‘Ta sẽ không ăn và thè lưỡi ra,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na capucapukārakaṁ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.
‘I will not make a chomping sound while eating,’ this is how you should train.
“‘Ta sẽ không ăn và phát ra tiếng chép miệng,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Kabaḷavaggo pañcamo
Chapter 6. Surusuru
The fifth subchapter on mouthfuls is finished.
Chapter 6: slurping
Phẩm Về Miếng Cơm, thứ năm.
Sekhiya 51. Surusurukāraka
Na surusurukārakaṁ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 52. Hatthanillehaka
Training 51: slurping
‘I will not slurp while eating,’ this is how you should train.
Training 52: licking the hand
“‘Ta sẽ không ăn và phát ra tiếng sột soạt,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na hatthanillehakaṁ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.
‘I will not lick my hand while eating,’ this is how you should train.
“‘Ta sẽ không ăn và liếm tay,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Sekhiya 53. Pattanillehaka
Training 53: licking the almsbowl
628. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đức Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī, ở Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu ăn và liếm tay... v.v...
Na pattanillehakaṁ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.
‘I will not lick my almsbowl while eating,’ this is how you should train.
“‘Ta sẽ không ăn và liếm bát,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Sekhiya 54. Oṭṭhanillehaka
Training 54: licking the lips
629. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đức Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī, ở Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu ăn và liếm bát... v.v...
Na oṭṭhanillehakaṁ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 55. Sāmisa
‘I will not lick my lips while eating,’ this is how you should train.
Training 55: receiving with soiled hand
“‘Ta sẽ không ăn và liếm môi,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na sāmisena hatthena pānīyathālakaṁ paṭiggahessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 56. Sasitthaka
‘I will not receive the drinking-water vessel with a hand soiled with food,’ this is how you should train.
Training 56: discarding waste water with rice
‘Ta sẽ không nhận lấy vật đựng nước uống bằng tay có dính thức ăn,’ đây là điều học nên được thực hành.
Na sasitthakaṁ pattadhovanaṁ antaraghare chaḍḍessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 57. Chattapāṇi
‘I will not discard bowl-washing water containing rice in inhabited areas,’ this is how you should train.
Training 57: holding a sunshade
‘Ta sẽ không đổ nước rửa bát có dính cơm thừa ở bên trong khu dân cư,’ đây là điều học nên được thực hành.
Na chattapāṇissa agilānassa dhammaṁ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 58. Daṇḍapāṇi
‘I will not give a teaching to anyone holding a sunshade who is not sick,’ this is how you should train.
Training 58: holding a staff
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh mà tay đang cầm dù,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
Na daṇḍapāṇissa agilānassa dhammaṁ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 59. Satthapāṇi
‘I will not give a teaching to anyone holding a staff who is not sick,’ this is how you should train.
Training 59: holding a knife
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh mà tay đang cầm gậy,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
Na satthapāṇissa agilānassa dhammaṁ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 60. Āvudhapāṇi
‘I will not give a teaching to anyone holding a knife who is not sick,’ this is how you should train.
Training 60: holding a weapon
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh mà tay đang cầm đao,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
Na āvudhapāṇissa agilānassa dhammaṁ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.
‘I will not give a teaching to anyone holding a weapon who is not sick,’ this is how you should train.
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh mà tay đang cầm vũ khí,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
Surusuruvaggo chaṭṭho
Chapter 7. Pāduka
Sekhiya 61. Pāduka
The sixth subchapter on slurping is finished.
Chapter 7: shoes
Training 61: wearing shoes
Phẩm Surusuru, thứ sáu.
Na pādukāruḷhassa agilānassa dhammaṁ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 62. Upāhana
‘I will not give a teaching to anyone wearing shoes who is not sick,’ this is how you should train.
Training 62: wearing sandals
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh mà đang mang giày dép,’ đây là điều học cần phải thực hành.”
Na upāhanāruḷhassa agilānassa dhammaṁ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 63. Yāna
‘I will not give a teaching to anyone wearing sandals who is not sick,’ this is how you should train.
Training 63: sitting in a vehicle
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không có bệnh đang mang giày dép,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na yānagatassa agilānassa dhammaṁ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 64. Sayana
‘I will not give a teaching to anyone in a vehicle who is not sick,’ this is how you should train.
Training 64: lying down
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không có bệnh đang đi trên cỗ xe,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na sayanagatassa agilānassa dhammaṁ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 65. Pallatthika
‘I will not give a teaching to anyone lying down who is not sick,’ this is how you should train.
Training 65: clasping the knees
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không có bệnh đang nằm trên giường,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na pallatthikāya nisinnassa agilānassa dhammaṁ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 66. Veṭhita
‘I will not give a teaching to anyone who is seated clasping their knees and who is not sick,’ this is how you should train.
Training 66: wearing a headdress
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không có bệnh đang ngồi có vòng vải quấn,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na veṭhitasīsassa agilānassa dhammaṁ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 67. Oguṇṭhita
‘I will not give a teaching to anyone with a headdress who is not sick,’ this is how you should train.
Training 67: covering the head
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không có bệnh đang quấn khăn trên đầu,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na oguṇṭhitasīsassa agilānassa dhammaṁ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 68. Chamā
‘I will not give a teaching to anyone with a covered head who is not sick,’ this is how you should train.
Training 68: sitting on the ground
“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không có bệnh đang có đầu được trùm kín,’ đây là điều học nên được thực hành.”
Na chamāyaṁ nisīditvā āsane nisinnassa agilānassa dhammaṁ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 69. Nīcāsana
‘I will not give a teaching while sitting on the ground to anyone sitting on a seat who is not sick,’ this is how you should train.
Training 69: sitting on a low seat
“Cần phải học tập điều: ‘Ta sẽ không ngồi trên đất thuyết pháp cho người không có bệnh đang ngồi trên ghế.’”
Na nīce āsane nisīditvā ucce āsane nisinnassa agilānassa dhammaṁ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 70. Ṭhita
‘I will not give a teaching while sitting on a low seat to anyone sitting on a high seat who is not sick,’ this is how you should train.
Training 70: standing
“‘Ta sẽ không ngồi trên ghế thấp thuyết pháp cho người không có bệnh đang ngồi trên ghế cao,’ cần phải học tập điều này.”
Na ṭhito nisinnassa agilānassa dhammaṁ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 71. Pacchatogamana
‘I will not give a teaching while standing to anyone sitting who is not sick,’ this is how you should train.
Training 71: walking behind
“‘Ta sẽ không đứng thuyết pháp cho người không có bệnh đang ngồi,’ cần phải học tập điều này.”
Na pacchato gacchanto purato gacchantassa agilānassa dhammaṁ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 72. Uppathenagamana
‘I will not give a teaching to anyone walking in front of me who is not sick,’ this is how you should train.
Training 72: walking next to the path
‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh đi phía trước trong khi đang đi phía sau,’ đây là điều học nên được thực hành.
Na uppathena gacchanto pathena gacchantassa agilānassa dhammaṁ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 73. Ṭhitouccāra
‘I will not give a teaching while walking next to the path to anyone walking on the path who is not sick,’ this is how you should train.
Training 73: defecating while standing
‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh đi trên đường trong khi đang đi ngoài đường,’ đây là điều học nên được thực hành.
Na ṭhito agilāno uccāraṁ vā passāvaṁ vā karissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 74. Hariteuccāra
‘When not sick, I will not defecate or urinate while standing,’ this is how you should train.
Training 74: defecating on cultivated plants
‘Ta sẽ không đại tiện hay tiểu tiện trong khi đứng lúc không bệnh,’ đây là điều học nên được thực hành.
Na harite agilāno uccāraṁ vā passāvaṁ vā kheḷaṁ vā karissāmīti sikkhā karaṇīyā.
Sekhiya 75. Udakeuccāra
‘When not sick, I will not defecate, urinate, or spit on cultivated plants,’ this is how you should train.
Training 75: defecating in water
‘Ta sẽ không đại tiện, hay tiểu tiện, hay khạc nhổ trên cỏ xanh trong khi không bệnh,’ đây là điều học nên được thực hành.
Na udake agilāno uccāraṁ vā passāvaṁ vā kheḷaṁ vā karissāmīti sikkhā karaṇīyā.
‘When not sick, I will not defecate, urinate, or spit in water,’ this is how you should train.
‘Ta sẽ không đại tiện, hay tiểu tiện, hay khạc nhổ trong nước trong khi không bệnh,’ đây là điều học nên được thực hành.
Pādukavaggo sattamo
The seventh subchapter on shoes is finished.
Phẩm Pāduka thứ bảy.
Uddiṭṭhā kho āyasmanto sekhiyā dhammā.
Tatthāyasmante pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
dutiyampi pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
tatiyampi pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
parisuddhetthāyasmanto, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmīti.
Venerables, the rules of training have been recited.
In regard to this I ask you, ‘Are you pure in this?’
A second time I ask, ‘Are you pure in this?’
A third time I ask, ‘Are you pure in this?’
You are pure in this and therefore silent. I will remember it thus.
Này chư hiền, các pháp Ưng Học đã được tụng đọc. Trong vấn đề ấy, tôi xin hỏi chư hiền: ‘Có phải quý vị được trong sạch trong các điều ấy không?’ Lần thứ nhì, tôi cũng hỏi: ‘Có phải quý vị được trong sạch trong các điều ấy không?’ Lần thứ ba, tôi cũng hỏi: ‘Có phải quý vị được trong sạch trong các điều ấy không?’ Chư hiền đã được trong sạch trong các điều ấy, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
Sekhiyā niṭṭhitā
The chapter on training is finished.
Các pháp Ưng Học đã chấm dứt.
Adhikaraṇasamathā
The settling of legal issues
8. Các Pháp Dàn Xếp Tranh Tụng
Ime kho panāyasmanto satta adhikaraṇasamathā dhammā uddesaṁ āgacchanti.
Uppannuppannānaṁ adhikaraṇānaṁ samathāya vūpasamāya:
Venerables, these seven principles for the settling of legal issues come up for recitation.
For the settling and resolving of legal issues whenever they arise there is:
Này chư hiền, lại nữa, bảy pháp dàn xếp tranh tụng này
Adhikaraṇasamatha 1
Sammukhāvinayo dātabbo.
Adhikaraṇasamatha 2
Sativinayo dātabbo.
Adhikaraṇasamatha 3
Amūḷhavinayo dātabbo.
Adhikaraṇasamatha 4
Paṭiññāya kāretabbaṁ.
Adhikaraṇasamatha 5
Yebhuyyasikā.
Adhikaraṇasamatha 6
Tassapāpiyasikā.
Adhikaraṇasamatha 7
Tiṇavatthārakoti.
Uddiṭṭhā kho āyasmanto satta adhikaraṇasamathā dhammā.
Tatthāyasmante pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
dutiyampi pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
tatiyampi pucchāmi, kaccittha parisuddhā,
parisuddhetthāyasmanto, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmīti.
The settling of legal issues 1
Resolution face-to-face to be applied.
The settling of legal issues 2
Resolution through recollection to be granted.
The settling of legal issues 3
Resolution because of past insanity to be granted.
The settling of legal issues 4
Acting according to what has been admitted.
The settling of legal issues 5
Majority decision.
The settling of legal issues 6
Further penalty.
The settling of legal issues 7
Covering over as if with grass.
Venerables, the seven principles for the settling of legal issues have been recited.
In regard to this I ask you, ‘Are you pure in this?’
A second time I ask, ‘Are you pure in this?’
A third time I ask, ‘Are you pure in this?’
You are pure in this and therefore silent. I will remember it thus.
655. Để dàn xếp, để làm lắng dịu các vụ tranh tụng đã phát sanh, đang phát sanh, cần phải áp dụng: (1) luật xử theo sự hiện diện, (2) luật xử theo sự ghi nhớ, (3) luật xử theo sự không mê loạn, (4) việc cần được thực hiện theo sự thú nhận, (5) (luật xử theo) ý kiến của số đông, (6) (luật xử theo) hành vi xấu xa của người ấy, (7) (luật xử theo cách) lấy cỏ che lấp.
Adhikaraṇasamathā niṭṭhitā
Uddiṭṭhaṁ kho āyasmanto nidānaṁ,
uddiṭṭhā cattāro pārājikā dhammā,
uddiṭṭhā terasa saṅghādisesā dhammā,
uddiṭṭhā dve aniyatā dhammā,
uddiṭṭhā tiṁsa nissaggiyā pācittiyā dhammā,
uddiṭṭhā dvenavuti pācittiyā dhammā,
uddiṭṭhā cattāro pāṭidesanīyā dhammā,
uddiṭṭhā sekhiyā dhammā,
uddiṭṭhā satta adhikaraṇasamathā dhammā.
Ettakaṁ tassa bhagavato suttāgataṁ suttapariyāpannaṁ anvaddhamāsaṁ uddesaṁ āgacchati.
Tattha sabbeheva samaggehi sammodamānehi avivadamānehi sikkhitabbanti.
Vitthāruddeso pañcamo.
Bhikkhupātimokkhaṁ niṭṭhitaṁ
The seven principles for the settling of legal issues are finished.
Venerables, the introduction has been recited;
the four rules on expulsion have been recited;
the thirteen rules on suspension have been recited;
the two undetermined rules have been recited;
the thirty rules on relinquishment and confession have been recited;
the ninety-two rules on confession have been recited;
the four rules on acknowledgment have been recited;
the rules of training have been recited;
the seven principles for the settling of legal issues have been recited.
This much has come down and is included in the Monastic Code of the Buddha and comes up for recitation every half-month.
In regard to this everyone should train in unity, in concord, without dispute.”
The fifth recitation, in detail, is finished.
The Monastic Code for monks is finished.
Các pháp Dàn Xếp Tranh Tụng đã chấm dứt.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa
Homage to the Buddha, the Perfected One, the fully Awakened One.
Con xin cung kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Chánh Giác.