Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
Bu Pm

Bản dịch

Bu PmGiới Bổn Tỳ-khưu

Này chư hiền, bảy pháp dàn xếp tranh tụng đã được tụng đọc. Trong vấn đề ấy, tôi xin hỏi chư hiền: ‘Có phải quý vị được trong sạch trong các điều ấy không?’ Lần thứ nhì, tôi cũng hỏi: ‘Có phải quý vị được trong sạch trong các điều ấy không?’ Lần thứ ba, tôi cũng hỏi: ‘Có phải quý vị được trong sạch trong các điều ấy không?’ Chư hiền đã được trong sạch trong các điều ấy, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

Này chư hiền, phần Mở Đầu đã được tụng đọc; bốn pháp Bất Cộng Trụ đã được tụng đọc; mười ba pháp Tăng Tàn đã được tụng đọc; hai pháp Bất Định đã được tụng đọc; ba mươi pháp Ưng Xả Đối Trị đã được tụng đọc; chín mươi hai pháp Ưng Đối Trị đã được tụng đọc; bốn pháp Ưng Phát Lộ đã được tụng đọc; các pháp Ưng Học đã được tụng đọc; bảy pháp Dàn Xếp Tranh Tụng đã được tụng đọc. Bấy nhiêu điều luật của đức Thế Tôn ấy đã được truyền thừa, đã được bao gồm trong kinh, được đem ra tụng đọc mỗi nửa tháng. Trong các điều ấy, tất cả chư vị cần phải hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi mà học tập.

90. “Do việc phá hoại các loại thực vật, phạm tội pācittiya.”

98. “Do nói quanh co, do làm phiền nhiễu, (phạm tội) pācittiya.”

105. ‘Do việc xúi giục khiển trách, do việc chê bai, phạm tội pācittiya (ưng đối trị).’

109. “Vị tỳ khưu nào, sau khi tự mình trải ra hoặc cho người khác trải ra giường hoặc ghế hoặc nệm hoặc chiếu thuộc về tăng chúng ở ngoài trời, trong lúc đi nơi khác mà không tự dọn dẹp, không cho người dọn dẹp, hoặc ra đi mà không hỏi xin phép, thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”

115. “Vị tỳ khưu nào, sau khi tự mình trải hoặc nhờ người khác trải sàng tọa trong trú xá của Tăng chúng, khi ra đi không tự dọn dẹp, không nhờ người dọn dẹp, hoặc ra đi mà không thưa hỏi, thì phạm tội pācittiya.”

120. “Vị tỳ khưu nào, trong trú xá của Tăng, trong khi biết (có vị tỳ khưu đã đến trước), mà chen lấn nằm xuống gần vị tỳ khưu đã đến trước, với ý nghĩ rằng: ‘Vị nào cảm thấy chật chội thì vị ấy sẽ bỏ đi,’ chỉ vì lý do ấy chứ không vì lý do nào khác, thì phạm tội pācittiya.”

125. “Vị tỳ khưu nào, do sân hận, không vừa lòng, tự mình đuổi một tỳ khưu ra khỏi trú xá của Tăng-già, hoặc xui người khác đuổi ra, thì phạm tội pācittiya.”

130. “Vị tỳ khưu nào ở trong một am thất trên lầu không có sàn của một ngôi tịnh xá thuộc về tăng chúng mà ngồi mạnh xuống hoặc nằm mạnh xuống trên chiếc giường có chân đóng hay chiếc ghế có chân đóng thì phạm tội pācittiya.”

135. “Vị tỳ khưu cho xây cất ngôi tịnh xá lớn, cho đến khi (hoàn tất) khung cửa để đặt then cài, để hoàn thiện khe hở cửa sổ, nên đứng ở nơi không có cây cỏ xanh tươi để chỉ dẫn việc lợp mái hai hoặc ba lớp. Nếu đứng ở nơi không có cây cỏ xanh tươi mà chỉ dẫn (lợp) nhiều hơn thế nữa thì phạm tội pācittiya.”

140. “Vị tỳ khưu nào biết mà tự mình tưới hoặc bảo người khác tưới nước có chúng sanh lên cỏ hoặc đất sét, phạm tội pācittiya.”

Phẩm về Các Loại Thực Vật, thứ hai.

146. “Vị tỳ khưu nào chưa được chỉ định mà giáo huấn các tỳ khưu ni thì phạm tội pācittiya.”

154. “Vị tỳ khưu dù đã được chỉ định, nếu giáo huấn các tỳ khưu ni sau khi mặt trời đã lặn, thì phạm tội pācittiya.”

“Vị tỳ khưu nào đi đến trú xứ của tỳ khưu ni và giáo huấn các tỳ khưu ni, thì phạm tội pācittiya.”

160. “Vị tỳ khưu nào đi đến trú xá của tỳ khưu ni và giáo giới các tỳ khưu ni, ngoại trừ thời điểm (thích hợp), thì phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là thời điểm (thích hợp): Tỳ khưu ni bị bệnh – đây là thời điểm (thích hợp) trong trường hợp ấy.”

165. “Vị tỳ khưu nào nói như vầy: ‘Các vị tỳ khưu trưởng lão giáo giới các tỳ khưu ni là vì lợi dưỡng,’ thì phạm tội pācittiya.”

171. ‘Vị tỳ khưu nào cho y phục đến vị tỳ khưu ni không phải là bà con, ngoại trừ việc trao đổi, thì phạm tội pācittiya.’

176. “Vị tỳ khưu nào may hoặc bảo người khác may y phục cho vị tỳ khưu ni không phải là quyến thuộc thì phạm tội pācittiya.”

“Vị tỳ khưu nào cùng thỏa thuận với tỳ khưu ni rồi đi trên cùng một con đường dài, cho đến cả một khoảng đường giữa hai làng, thì phạm tội pācittiya.”

182. “Vị tỳ khưu nào cùng thỏa thuận với tỳ khưu ni rồi đi trên cùng một con đường dài, cho đến cả một khoảng đường giữa hai làng, ngoại trừ trường hợp đúng thời điểm, thì phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là trường hợp đúng thời điểm: Con đường là con đường cần phải đi với đoàn lữ hành, được xem là có hiểm họa, có sự nguy hiểm – đây là trường hợp đúng thời điểm ở đây.”

“Vị tỳ khưu nào hẹn cùng với tỳ khưu ni rồi cùng lên một chiếc thuyền, đi ngược dòng hay đi xuôi dòng, thì phạm tội pācittiya.”

‘Vị tỳ-khưu nào biết mà thọ dụng vật thực khất thực do tỳ-khưu-ni sắp đặt thì phạm tội pācittiya.’

199. “Vị tỳ-khưu nào cùng với một tỳ-khưu-ni ngồi riêng một mình ở nơi kín đáo thì phạm tội pācittiya.”

Phẩm Ovāda, là phẩm thứ ba, đã kết thúc.

4. Phẩm Bhojana

203. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī, trong khu vườn Jetavana của trưởng giả Anāthapiṇḍika. Cũng vào lúc bấy giờ, ở không xa thành Sāvatthī, vật thực cúng dường tại nhà trọ của một hội nào đó đã được chuẩn bị sẵn. Các tỳ-khưu nhóm sáu vị vào buổi sáng, sau khi đắp y, mang bát và y, đi vào thành Sāvatthī để khất thực, do không nhận được vật thực nên đã đi đến nhà trọ. Dân chúng nói: “Thật lâu rồi các ngài mới đến,” và đã kính cẩn phục vụ họ. Sau đó, các tỳ-khưu nhóm sáu vị vào ngày thứ hai ... (v.v.) ... vào ngày thứ ba, vào buổi sáng, sau khi đắp y, mang bát và y, đi vào thành Sāvatthī để khất thực, do không nhận được vật thực nên đã đi đến nhà trọ và dùng bữa. Bấy giờ, các tỳ-khưu nhóm sáu vị đã khởi lên suy nghĩ này: “Chúng ta đi về tu viện để làm gì! Ngày mai cũng sẽ phải đến đây thôi,” rồi họ cứ ở lại đó và dùng vật thực cúng dường tại nhà trọ. Các du sĩ ngoại đạo phải rời đi. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và nói xấu rằng: “Tại sao các sa-môn Thích tử lại cứ ở lại đây và dùng vật thực cúng dường tại nhà trọ! Vật thực cúng dường tại nhà trọ này đâu phải chỉ dành cho họ; vật thực cúng dường tại nhà trọ này là dành cho tất cả mọi người.”

205. “Vị tỳ khưu không bệnh chỉ được dùng vật thực cúng dường tại nhà nghỉ công cộng một lần. Nếu dùng nhiều hơn thế, phạm tội pācittiya.”

“Ăn theo nhóm, ngoại trừ các thời điểm (được cho phép), phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là thời điểm (được cho phép). Thời điểm bị bệnh – đây là thời điểm (được cho phép) trong trường hợp ấy.”

‘Do việc dùng bữa theo nhóm, ngoại trừ trường hợp đúng thời, là phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là trường hợp đúng thời: Thời điểm bị bệnh, thời điểm dâng y, thời điểm làm y – đây là trường hợp đúng thời ở đây.’

“Ăn bữa ăn kế bữa ăn, ngoại trừ trường hợp đúng thời, phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là trường hợp đúng thời: thời bệnh – đây là trường hợp đúng thời ở đây.”

225. “Ăn bữa ăn kế bữa ăn, ngoại trừ trường hợp đúng thời, phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là trường hợp đúng thời: thời bệnh, thời dâng y, thời làm y – đây là trường hợp đúng thời ở đây.”

232. ‘Vị tỳ khưu đã đi đến một gia đình, nếu được người ta mang đến mời nhận bánh trái hoặc bột rang, vị tỳ khưu nào muốn nhận thì được phép nhận hai hoặc ba bát đầy. Nếu nhận nhiều hơn thế thì phạm tội pācittiya. Sau khi đã nhận hai hoặc ba bát đầy, vị ấy nên mang ra khỏi nơi đó rồi chia sớt cùng với các vị tỳ khưu. Đây là cách hành xử đúng đắn trong trường hợp ấy.’

238. “Vị tỳ-khưu nào đã ăn xong, đã được mời bảo ‘đủ rồi,’ mà lại nhai hoặc ăn vật thực loại cứng hay vật thực loại mềm chưa được làm thành phần còn lại, thì phạm tội pācittiya.”

243. “Vị tỳ khưu nào, trong khi biết rõ, với ý muốn làm cho mất thể diện, mời một vị tỳ khưu đã dùng bữa, đã từ chối, bằng cách mang đến vật thực loại cứng hoặc vật thực loại mềm không phải là phần dư thừa và nói rằng: ‘Này tỳ khưu, hãy nhai hoặc hãy dùng đi,’ khi (vị kia) đã dùng xong, vị ấy phạm tội pācittiya.”

248. “Vị tỳ khưu nào nhai hoặc ăn vật thực loại nhai hoặc vật thực loại ăn vào lúc phi thời, thì phạm tội pācittiya.”

253. “Vị tỳ khưu nào nhai hoặc ăn vật thực loại nhai hoặc vật thực loại ăn đã được tồn trữ, thì phạm tội pācittiya.”

“Những món ăn hảo hạng nào đó, cụ thể là – bơ lỏng, bơ tươi, dầu, mật ong, đường phèn, cá, thịt, sữa, sữa đông. Vị tỳ khưu nào, sau khi xin những món ăn hảo hạng như vậy vì lợi ích của bản thân rồi dùng, thì phạm tội pācittiya.”

265. “Vị tỳ khưu nào đưa vật thực chưa được dâng cúng vào cửa miệng, ngoại trừ nước và tăm xỉa răng, phạm tội pācittiya.”

Phẩm về các bữa ăn, là phẩm thứ tư.

270. “Vị tỳ khưu nào tự tay trao vật thực loại cứng hoặc vật thực loại mềm cho người lõa thể, hoặc cho nam du sĩ ngoại đạo, hoặc cho nữ du sĩ ngoại đạo, thì phạm tội pācittiya.”

275. “Vị tỳ khưu nào, sau khi (mời) một vị tỳ khưu rằng: ‘Này hiền hữu, hãy đến đây, chúng ta sẽ vào làng hoặc thị trấn để khất thực,’ rồi dù có cho hay không cho vị ấy (vật thực gì), lại đuổi vị ấy đi (với lời lẽ): ‘Này hiền hữu, hãy đi đi. Việc nói chuyện hay ngồi cùng với hiền hữu không làm tôi thoải mái. Việc nói chuyện hay ngồi một mình làm tôi thoải mái,’ chỉ lấy lý do ấy mà không có lý do nào khác, thì phạm tội pācittiya.”

280. “Vị tỳ khưu nào đi vào và ngồi trong gia đình có người hưởng thụ chung thì phạm tội pācittiya.”

285. “Vị tỳ khưu nào ngồi cùng với người nữ ở một chỗ ngồi kín đáo và che khuất thì phạm tội pācittiya.”

290. “Vị tỳ-khưu nào ngồi riêng một mình ở nơi vắng vẻ cùng với người mẫu-già-ma thì phạm tội pācittiya.”

299. “Vị tỳ khưu nào, trong khi đã được mời và có vật thực, không xin phép vị tỳ khưu có mặt, đi đến các gia đình vào lúc trước bữa ăn hoặc vào lúc sau bữa ăn, ngoại trừ trường hợp đúng thời, thì phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là trường hợp đúng thời: Thời điểm dâng y, thời điểm làm y – đây là trường hợp đúng thời ở đây.”

306. ‘Vị tỳ khưu không có bệnh nên chấp nhận lời thỉnh mời về dược phẩm trong bốn tháng, ngoại trừ lời thỉnh mời lại, ngoại trừ lời thỉnh mời thường xuyên; nếu vị ấy chấp nhận vượt quá giới hạn đó, phạm tội pācittiya.’

313. “Vị tỳ khưu nào đi xem quân đội xuất trận, ngoại trừ trường hợp có duyên sự tương tự, vị ấy phạm tội pācittiya.”

Quân đội có nghĩa là tượng binh, mã binh, xa binh, bộ binh. Tượng binh là (đơn vị) mười hai người. Mã binh là (đơn vị) ba người. Xa binh là (đơn vị) bốn người. Bộ binh là bốn người tay cầm cung tên. Đi để xem, phạm tội dukkaṭa. Đứng ở nơi nào mà nhìn thấy, phạm tội pācittiya. Rời khỏi tầm nhìn rồi nhìn lại nhiều lần, phạm tội pācittiya.

318. ‘Nếu vị tỳ khưu có bất cứ lý do nào để đi đến quân đội, vị tỳ khưu ấy được phép ở lại trong quân đội hai hoặc ba đêm. Nếu vị ấy ở lại quá thời gian ấy thì phạm tội pācittiya.’

‘Nếu vị ấy ở lại quá thời gian ấy’ có nghĩa là: vào ngày thứ tư, nếu ở lại trong quân đội cho đến khi mặt trời lặn thì phạm tội pācittiya.

323. ‘Nếu vị tỳ khưu trong khi đang ở trong quân đội hai hoặc ba đêm mà đi đến xem trận chiến, hoặc xem điểm binh, hoặc xem dàn trận, hoặc xem duyệt binh thì phạm tội pācittiya.’

Phẩm Acelaka, phẩm thứ năm.

327. Do việc uống rượu nấu và rượu ngâm, phạm tội pācittiya.

331. Do việc cù lét bằng ngón tay, phạm tội pācittiya.

341. “Thiếu cung kính thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).”

346. “Vị tỳ khưu nào hù dọa một tỳ khưu thì phạm tội pācittiya.”

“Vị tỳ khưu nào, không bị bệnh, với ý muốn sưởi ấm, tự mình nhóm lửa hoặc bảo người khác nhóm lửa, thì phạm tội pācittiya.”

“Vị tỳ khưu nào tắm trong vòng nửa tháng, ngoại trừ trường hợp đúng thời điểm, thì phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là thời điểm: một tháng rưỡi còn lại của mùa nóng và tháng đầu tiên của mùa mưa, tức là hai tháng rưỡi này là mùa nóng, mùa oi bức – đây là thời điểm trong trường hợp ấy.”

“Vị tỳ khưu nào tắm trong vòng nửa tháng, ngoại trừ trường hợp đúng thời điểm, thì phạm tội pācittiya. Ở đây, đây là thời điểm: Một tháng rưỡi còn lại của mùa nóng và tháng đầu tiên của mùa mưa, hai tháng rưỡi này là thời điểm nóng nực, thời điểm oi bức, thời điểm bị bệnh, thời điểm làm công việc – đây là thời điểm trong trường hợp ấy.”

368. “Lại nữa, vị tỳ khưu sau khi được y mới nên thực hiện một trong ba cách làm cho biến sắc: hoặc màu xanh, hoặc màu bùn, hoặc màu đen sẫm. Nếu vị tỳ khưu không thực hiện một trong ba cách làm cho biến sắc mà sử dụng y mới thì phạm tội pācittiya.”

373. “Vị tỳ khưu nào, sau khi tự mình xác định chủ quyền y cho vị tỳ khưu, hoặc cho tỳ khưu ni, hoặc cho vị nữ tập sự, hoặc cho vị sa-di, hoặc cho vị sa-di-ni, mà sử dụng y ấy trong khi chưa được hoàn lại thì phạm tội pācittiya.”

378. ‘Vị tỳ khưu nào, hoặc giấu, hoặc bảo giấu bình bát, hoặc y, hoặc tọa cụ, hoặc ống kim, hoặc dây thắt lưng của tỳ khưu, dù chỉ là có ý muốn nói đùa, thì phạm pācittiya.’

Phẩm Uống Rượu Mê Say, là phẩm thứ sáu.

383. “Vị tỳ khưu nào cố ý giết hại mạng sống của chúng sanh thì phạm tội pācittiya.”

388. “Vị tỳ khưu nào, trong khi biết, dùng nước có chúng sanh thì phạm tội pācittiya.”

393. “Vị tỳ khưu nào, trong khi biết, khơi lại vụ tranh tụng đã được dàn xếp đúng theo Pháp để làm lại yết ma thì phạm tội pācittiya.”

398. “Vị tỳ khưu nào, trong khi biết được tội trọng của một tỳ khưu mà che giấu, thì phạm tội pācittiya.”

403. “Vị tỳ-khưu nào, trong khi biết, làm lễ cụ túc cho người chưa đủ hai mươi tuổi, thì người ấy không thành tựu lễ cụ túc, và các vị tỳ-khưu kia đáng bị quở trách. Đây là tội pācittiya trong trường hợp ấy.”

408. “Vị tỳ khưu nào đã biết mà lại thỏa thuận rồi đi chung một đoạn đường dài với đoàn người buôn gian lận, cho đến chỉ là khoảng cách một ngôi làng, thì phạm tội pācittiya.”

413. “Vị tỳ khưu nào hẹn ước với một người nữ để đi chung một quãng đường dài, cho đến cả khoảng cách giữa làng này với làng khác, thì phạm tội pācittiya.”

418. “Vị tỳ khưu nào nói như vầy: ‘Tôi hiểu Giáo pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng như thế này, rằng các pháp được đức Thế Tôn nói là các pháp gây trở ngại, (khi) thực hành chúng thì không đủ để gây trở ngại,’ vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, chớ có nói như vậy, chớ có vu khống đức Thế Tôn, việc vu khống đức Thế Tôn là không tốt đẹp, đức Thế Tôn không có nói như vậy. Thưa hiền giả, bằng nhiều phương cách, các pháp gây trở ngại đã được đức Thế Tôn nói là (thực sự) gây trở ngại, và khi thực hành chúng thì đủ để gây trở ngại.’ Và nếu vị tỳ khưu ấy, đang được các tỳ khưu nói (như thế), vẫn cứ cố chấp như vậy, vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu khiển trách cho đến lần thứ ba để từ bỏ (tà kiến) ấy. Và nếu đang được khiển trách cho đến lần thứ ba, vị ấy từ bỏ (tà kiến) ấy, điều ấy là tốt đẹp; nếu không từ bỏ, thì phạm tội pācittiya.”

Dù được các vị tỳ khưu ấy nói như vậy, tỳ khưu Ariṭṭha, người trước đây từng là kẻ giết kên kên, vẫn khăng khăng nói, cố chấp, bám víu vào tà kiến xấu xa ấy một cách mạnh mẽ: “Thưa các hiền giả, đúng vậy, tôi hiểu giáo pháp do đức Thế Tôn thuyết giảng rằng: ‘Những pháp được đức Thế Tôn gọi là các pháp gây chướng ngại, khi thực hành chúng thì không đủ để gây ra chướng ngại.’” Và khi các vị tỳ khưu ấy không thể làm cho tỳ khưu Ariṭṭha, người trước đây từng là kẻ giết kên kên, từ bỏ tà kiến xấu xa ấy, khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã trình bày sự việc này lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn, nhân duyên sự này, trong trường hợp này, đã cho triệu tập Tăng chúng và hỏi tỳ khưu Ariṭṭha, người trước đây từng là kẻ giết kên kên: “Này Ariṭṭha, có thật là ngươi đã khởi lên tà kiến xấu xa như vầy không: ‘Tôi hiểu giáo pháp do đức Thế Tôn thuyết giảng theo cách mà những pháp được đức Thế Tôn gọi là các pháp gây chướng ngại, khi thực hành chúng thì không đủ để gây ra chướng ngại’?” (Vị ấy đáp:) “Bạch đức Thế Tôn, đúng vậy, con hiểu giáo pháp do đức Thế Tôn thuyết giảng rằng: ‘Những pháp được đức Thế Tôn gọi là các pháp gây chướng ngại, khi thực hành chúng thì không đủ để gây ra chướng ngại.’”

424. ‘Vị tỳ khưu nào, trong khi biết rõ, cùng ăn, hoặc cùng ở, hoặc cùng ngủ chung với một tỳ khưu có tà kiến như vậy, chưa được xử lý đúng theo Pháp và chưa từ bỏ tà kiến ấy, thì phạm tội pācittiya.’

429. “Nếu một sa-di nói như vầy: ‘Tôi hiểu giáo pháp do đức Thế Tôn thuyết giảng như thế này: rằng các pháp được đức Thế Tôn gọi là pháp gây chướng ngại ấy, khi thực hành chúng, không có khả năng gây ra chướng ngại,’ sa-di ấy nên được các tỳ-khưu nói như vầy: ‘Này hiền giả sa-di, chớ có nói như vậy, chớ có vu khống đức Thế Tôn, việc vu khống đức Thế Tôn là không tốt đẹp, đức Thế Tôn không có nói như vậy. Này hiền giả sa-di, bằng nhiều phương diện, các pháp gây chướng ngại đã được đức Thế Tôn nói là pháp gây chướng ngại. Và chúng có khả năng gây ra chướng ngại cho người thực hành.’ Và nếu sa-di ấy, được các tỳ-khưu nói như vậy, vẫn cứ cố chấp như thế, sa-di ấy nên được các tỳ-khưu nói như vầy: ‘Này hiền giả sa-di, kể từ hôm nay, ngươi không được gọi đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư nữa. Và việc mà các sa-di khác được phép ngủ chung với các tỳ-khưu trong hai, ba đêm, ngươi cũng không được phép nữa. Hãy đi đi, kẻ đáng ghét, hãy biến đi.’ Vị tỳ-khưu nào, trong khi biết rõ, thuyết phục, hoặc cho phục vụ, hoặc cùng ăn, hoặc cùng ngủ với một sa-di đã bị trục xuất như vậy, thì phạm tội pācittiya.”

Phẩm Sappāṇaka, phẩm thứ bảy, đã kết thúc.

8. Phẩm Sahadhammika

434. “Vị tỳ khưu nào, khi đang được các vị tỳ khưu khác nói đến đúng theo Pháp, lại nói như vầy: ‘Này chư hiền, tôi sẽ chưa thực hành học giới này cho đến khi tôi chưa hỏi một vị tỳ khưu khác thông thạo, một vị trì luật,’ thì phạm tội pācittiya. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang muốn học hỏi thì cần phải biết, cần phải hỏi, cần phải thẩm xét. Đây là điều thích hợp trong trường hợp ấy.”

439. “Vị tỳ khưu nào, khi Pātimokkha đang được đọc lên, lại nói như vầy: ‘Có ích gì với những học giới nhỏ nhặt, vụn vặt này được đọc lên, chúng chỉ đưa đến sự hối hận, sự phiền não, và sự bối rối mà thôi,’ thì do việc chê bai học giới, phạm tội pācittiya.”

444. ‘Vị tỳ khưu nào, mỗi nửa tháng khi Pātimokkha đang được tụng đọc, lại nói như vầy: ‘Chính bây giờ tôi mới biết rằng, thì ra pháp này cũng đã được truyền lại trong kinh, đã được bao gồm trong kinh, và được tụng đọc mỗi nửa tháng.’ Nếu các tỳ khưu khác biết về vị tỳ khưu ấy rằng vị này đã từng ngồi nghe tụng đọc Pātimokkha hai hoặc ba lần rồi – huống nữa là nhiều hơn – thì vị tỳ khưu ấy không được thoát khỏi tội lỗi bằng cách giả vờ không biết, và tội nào đã phạm ở đó thì phải được xử trị đúng theo Pháp, hơn nữa, sự mê mờ phải được áp đặt lên vị ấy: ‘Này hiền giả, thật bất lợi cho hiền giả, thật không may cho hiền giả, khi Pātimokkha đang được tụng đọc mà hiền giả lại không chú tâm, không thành kính lắng nghe.’ Đây là tội pācittiya trong trường hợp giả vờ không biết ấy.’

450. “Vị tỳ khưu nào, do tức giận và không hài lòng, đánh đập một tỳ khưu khác, thì phạm tội pācittiya.”

455. “Vị tỳ khưu nào, do tức giận và không hài lòng, giơ tay hăm dọa một tỳ khưu khác, thì phạm tội pācittiya.”

460. 'Vị tỳ khưu nào vu khống một vị tỳ khưu về tội saṅghādisesa một cách vô căn cứ, phạm tội pācittiya.'

465. 'Vị tỳ khưu nào cố ý gây ra sự hối hận cho một vị tỳ khưu, chỉ với mục đích duy nhất rằng: 'Như thế này, vị ấy sẽ không được thoải mái dù chỉ trong chốc lát,' và không vì lý do nào khác, phạm tội pācittiya.'

470. ‘Vị tỳ khưu nào đứng ở nơi có thể nghe lén được các tỳ khưu đang có sự cãi vã, đang có sự tranh chấp, đang có sự luận쟁 với ý nghĩ rằng: ‘Những gì các vị này sẽ nói, ta sẽ nghe,’ chỉ vì lý do ấy mà thôi, không có lý do nào khác, thì phạm tội pācittiya.’

475. “Vị tỳ khưu nào sau khi đã trao sự ưng thuận cho các yết ma đúng Pháp lại rơi vào tình trạng khiển trách thì phạm tội pācittiya.”

474. Bấy giờ, đức Phật Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Và vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm sáu đã có hành vi không đúng đắn, rồi khi một yết ma đang được tiến hành cho từng vị một thì họ lại phản đối. Và vào lúc bấy giờ, Tăng chúng đã tụ họp vì một công việc cần làm nào đó. Các tỳ khưu nhóm sáu đang làm công việc may y nên đã trao sự ưng thuận cho một vị. Khi ấy, Tăng chúng đã thực hiện yết ma cho vị ấy (với ý nghĩ): “Này chư hiền, vị tỳ khưu nhóm sáu này đã đến một mình, nào! chúng ta hãy thực hiện yết ma cho vị này.” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đi đến nơi các tỳ khưu nhóm sáu đang ở. Các tỳ khưu nhóm sáu đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: “Này hiền giả, Tăng chúng đã làm gì vậy?” “Này chư hiền, Tăng chúng đã thực hiện yết ma cho tôi.” “Này hiền giả, chúng tôi đã không trao sự ưng thuận vì mục đích này là: ‘(Tăng chúng) sẽ thực hiện yết ma cho ngươi.’ Và nếu chúng tôi đã biết rằng: ‘(Tăng chúng) sẽ thực hiện yết ma cho ngươi’ thì chúng tôi đã không trao sự ưng thuận.” Các vị tỳ khưu thiểu dục ... cho đến ... đã chê bai, chỉ trích, phàn nàn rằng: “Tại sao các tỳ khưu nhóm sáu sau khi đã trao sự ưng thuận cho các yết ma đúng Pháp lại có thể rơi vào tình trạng khiển trách được chứ?” ... cho đến ... “Này các tỳ khưu, có thật là các ngươi sau khi đã trao sự ưng thuận cho các yết ma đúng Pháp lại rơi vào tình trạng khiển trách không?” “Bạch Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật Thế Tôn đã quở trách ... cho đến ... “Này các kẻ rỗng tuếch kia, tại sao các ngươi sau khi đã trao sự ưng thuận cho các yết ma đúng Pháp lại có thể rơi vào tình trạng khiển trách chứ! Này các kẻ rỗng tuếch kia, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin được tin tưởng ... cho đến ... Và này các tỳ khưu, các ngươi nên trình bày học giới này như vầy: –

480. “Vị tỳ khưu nào trong khi Tăng chúng đang có lời bàn luận để đi đến quyết định mà không trao sự ưng thuận rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và bỏ đi thì phạm tội pācittiya.”

485. “Vị tỳ khưu nào, sau khi Tăng chúng hòa hợp đã trao y, về sau lại có thái độ chê bai rằng: ‘Các tỳ khưu đã tùy theo sự quen biết mà chuyển vật cúng dường của Tăng chúng,’ thì phạm tội pācittiya.”

490. ‘Vị tỳ khưu nào, trong khi biết rõ, chuyển lợi lộc của Tăng chúng đã được hướng đến cho cá nhân, thì phạm tội pācittiya.’

Phẩm Sahadhammika, thứ tám.

Vị tỳ khưu nào, ngoại trừ ở bên trong tu viện, tự mình nhặt lấy hay bảo người khác nhặt lấy vật báu hay vật được xem là vật báu thì phạm tội Ưng Đối Trị (pācittiya).

505. “Vị tỳ khưu nào nhặt lên hoặc cho người nhặt lên vật báu hoặc vật được xem là vật báu, ngoại trừ ở trong khuôn viên tu viện hoặc ở trong nơi trú ngụ, thì phạm tội pācittiya. Lại nữa, vị tỳ khưu nên nhặt lên hoặc cho người nhặt lên rồi cất giữ vật báu hoặc vật được xem là vật báu ở trong khuôn viên tu viện hoặc ở trong nơi trú ngụ, với ý nghĩ rằng: ‘Vật này của ai thì người ấy sẽ đến lấy đi.’ Đây là cách hành xử đúng đắn trong trường hợp ấy.”

“Vị tỳ khưu nào vào làng trong lúc phi thời mà không xin phép một vị tỳ khưu có mặt, vị ấy phạm tội pācittiya.”

517. ‘Vị tỳ khưu nào cho làm ống đựng kim bằng xương, hoặc bằng ngà, hoặc bằng sừng, thì phạm tội pācittiya phải đập bỏ.’

522. “Vị tỳ khưu cho làm giường hoặc ghế mới thì nên cho làm có chân cao tám ngón tay của đức Sugata, ngoại trừ thanh giường bên dưới; vị nào cho làm vượt quá mức ấy thì phạm tội pācittiya cần phải cắt bỏ.”

527. “Vị tỳ khưu nào cho làm giường hoặc ghế được nhồi bông gòn thì phạm tội pācittiya cần phải rạch bỏ.”

“Vị tỳ khưu khi cho làm tọa cụ thì nên cho làm đúng kích thước. Ở đây, đây là kích thước: chiều dài hai gang tay, theo gang tay của đấng Thiện Thệ; chiều ngang một gang rưỡi. Vị nào vượt quá kích thước ấy thì phạm tội pācittiya phải cắt bỏ.”

538. “Vị tỳ khưu khi cho làm y phủ ghẻ thì nên cho làm đúng kích thước. Ở đây, đây là kích thước: chiều dài bốn gang tay, theo gang tay của đấng Thiện Thệ; chiều ngang hai gang tay. Vị nào vượt quá kích thước ấy thì phạm tội pācittiya phải cắt bỏ.”

543. “Vị tỳ khưu trong khi may y tắm mưa nên may đúng kích thước. Đây là kích thước của nó: chiều dài sáu gang tay, theo gang tay của đức Như Lai; chiều rộng hai gang rưỡi. Vị nào làm vượt quá kích thước này, phạm tội pācittiya cần phải cắt bỏ.”

548. “Vị tỳ khưu nào may y có kích thước bằng y của đức Như Lai hoặc lớn hơn, phạm tội pācittiya cần phải cắt bỏ. Đây là kích thước y của đức Như Lai: chiều dài chín gang tay, theo gang tay của đức Như Lai; chiều rộng sáu gang tay. Đây là kích thước y của đức Như Lai.”

Thưa chư hiền, chín mươi hai pháp pācittiya đã được tụng đọc. Về các pháp ấy, tôi xin hỏi chư hiền: ‘Có phải quý vị trong sạch trong các pháp ấy không?’ Lần thứ hai, tôi cũng hỏi: ‘Có phải quý vị trong sạch trong các pháp ấy không?’ Lần thứ ba, tôi cũng hỏi: ‘Có phải quý vị trong sạch trong các pháp ấy không?’ Chư hiền đã trong sạch trong các pháp ấy, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

6. Chương Pāṭidesanīya

Thưa chư hiền, lại nữa, bốn pháp pāṭidesanīya này

1. Học giới Pāṭidesanīya thứ nhất

553. ‘Vị tỳ-khưu nào, từ tay của một tỳ-khưu-ni không phải là bà con đã đi vào trong xóm làng, tự tay nhận lấy vật thực cứng hoặc vật thực mềm rồi ăn hoặc dùng, vị tỳ-khưu ấy phải sám hối rằng: “Thưa chư hiền, tôi đã phạm một pháp đáng bị quở trách, không thích hợp, là pháp pāṭidesanīya. Tôi xin sám hối pháp ấy.”’

558. ‘Lại nữa, các vị tỳ khưu được mời đến các gia đình và đang dùng bữa, nếu ở đấy có vị tỳ khưu ni đứng với vẻ sắp đặt rằng: ‘Hãy dâng món canh vào đây, hãy dâng cơm vào đây,’ vị tỳ khưu ni ấy cần được các vị tỳ khưu kia cho lui ra rằng: ‘Này hiền tỷ, xin hãy lui ra trong khi các vị tỳ khưu đang dùng bữa.’ Nếu không có dù chỉ một vị tỳ khưu nói lên được việc cho vị tỳ khưu ni ấy lui ra rằng: ‘Này hiền tỷ, xin hãy lui ra trong khi các vị tỳ khưu đang dùng bữa,’ thì các vị tỳ khưu ấy cần phải phát lồ rằng: ‘Thưa chư hiền, chúng tôi đã phạm phải pháp đáng bị quở trách, không thích hợp, là tội pāṭidesanīya. Chúng tôi xin phát lồ pháp ấy.’

2. Điều học Pāṭidesanīya thứ hai

“Lại nữa, những gia tộc nào đã được công nhận là gia tộc hữu học, vị tỳ khưu nào tại những gia tộc đã được công nhận là hữu học như vậy, sau khi tự tay nhận lấy vật thực cứng hay vật thực mềm rồi ăn hoặc dùng, vị tỳ khưu ấy phải sám hối rằng: ‘Thưa chư hiền, tôi đã phạm một pháp đáng bị quở trách, không thích hợp, thuộc loại pāṭidesanīya. Tôi xin sám hối pháp ấy.’”

“Lại nữa, có những trú xứ trong rừng được xem là có sự nguy hiểm, có sự đáng sợ. Vị tỳ khưu nào, trong những trú xứ có tính chất như thế, sau khi tự tay nhận lãnh vật thực để ăn hoặc vật thực để dùng chưa được báo trước ở bên trong tu viện, rồi ăn hoặc dùng, vị tỳ khưu ấy phải sám hối rằng: ‘Thưa các hiền giả, tôi đã phạm phải pháp đáng bị quở trách, không thích hợp, là pháp ưng đối thú. Tôi xin sám hối pháp ấy.’”

Thưa chư Đại đức, bốn pháp Ưng Đối Thú đã được tụng đọc. Trong các pháp ấy, tôi xin hỏi chư Đại đức: ‘Có phải các ngài trong sạch trong các pháp ấy không?’ Lần thứ nhì, tôi xin hỏi: ‘Có phải các ngài trong sạch trong các pháp ấy không?’ Lần thứ ba, tôi xin hỏi: ‘Có phải các ngài trong sạch trong các pháp ấy không?’ Chư Đại đức trong sạch trong các pháp ấy, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

Điều học Ưng Đối Thú thứ tư đã kết thúc.

Thưa chư Đại đức, lại nữa, các pháp Ưng Học này

1. Phẩm Mặc Y Ngay Ngắn

‘Ta sẽ mặc y nội cho ngay ngắn,’ đây là điều học nên thực hành.

‘Ta sẽ đắp y cho ngay ngắn,’ đây là điều học nên thực hành.

‘Ta sẽ đi vào trong khu dân cư với thân được che kín cẩn thận,’ đây là điều học nên thực hành.

‘Ta sẽ ngồi trong khu dân cư với thân được che kín cẩn thận,’ đây là điều học nên thực hành.

“‘Ta sẽ đi vào trong khu dân cư với sự thu thúc,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ ngồi trong khu dân cư với sự thu thúc,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ đi vào trong khu dân cư với mắt nhìn xuống,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ ngồi trong khu dân cư với mắt nhìn xuống,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không đi vào trong khu dân cư với y được vén lên,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không ngồi trong xóm làng trong lúc vén y lên,’ đây là điều học nên được thực hành.”

Phẩm Mặc Y Ngay Ngắn, phẩm thứ nhất.

2. Phẩm Cười Lớn Tiếng

“‘Ta sẽ không đi trong xóm làng trong lúc cười lớn tiếng,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không ngồi trong xóm làng trong lúc cười lớn tiếng,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ đi trong xóm làng với tiếng nói nhỏ nhẹ,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ ngồi trong xóm làng với tiếng nói nhỏ nhẹ,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không đi trong xóm làng trong lúc lắc lư thân mình,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không ngồi ở trong xóm trong khi rung lắc thân,’ đây là điều học cần phải thực hành.”

“‘Ta sẽ không đi ở trong xóm trong khi vung vẩy cánh tay,’ đây là điều học cần phải thực hành.”

“‘Ta sẽ không ngồi ở trong xóm trong khi vung vẩy cánh tay,’ đây là điều học cần phải thực hành.”

“‘Ta sẽ không đi ở trong xóm trong khi lắc đầu,’ đây là điều học cần phải thực hành.”

“‘Ta sẽ không ngồi ở trong xóm trong khi lắc đầu,’ đây là điều học cần phải thực hành.”

Phẩm Ujjagghika thứ hai.

3. Phẩm Chống Nạnh

“‘Ta sẽ không đi ở trong xóm trong khi chống nạnh,’ đây là điều học cần phải thực hành.”

“‘Ta sẽ không chống nạnh ngồi ở trong khu dân cư,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không trùm đầu đi vào trong khu dân cư,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không trùm đầu ngồi ở trong khu dân cư,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không đi nhón gót ở trong khu dân cư,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không ngồi bó gối ở trong khu dân cư,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ cung kính nhận vật thực khất thực,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ có tưởng trong bát mà nhận vật thực khất thực,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ nhận vật thực khất thực với món canh vừa phải,’ đây là điều học nên được thực hành.”

Phẩm Chống Nạnh, thứ ba.

“‘Ta sẽ cung kính thọ thực vật thực khất thực,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ có tưởng trong bát mà thọ thực vật thực khất thực,’ đây là điều học nên được thực hành.”

‘Ta sẽ dùng vật thực khất thực theo thứ tự,’ việc học tập nên được thực hành.

‘Ta sẽ dùng vật thực khất thực với lượng canh vừa phải,’ việc học tập nên được thực hành.

‘Ta sẽ không dùng vật thực khất thực bằng cách ấn xuống từ đỉnh đống cơm,’ việc học tập nên được thực hành.

‘Ta sẽ không dùng cơm để che đậy món canh hay món đồ ăn do muốn có nhiều hơn,’ việc học tập nên được thực hành.

“‘Ta sẽ không xin canh hoặc cơm vì lợi ích của bản thân trong khi không có bệnh rồi ăn,’ cần phải học tập như vậy.”

“‘Ta sẽ không nhìn vào bát của người khác với ý tìm lỗi,’ cần phải học tập như vậy.”

“‘Ta sẽ không làm miếng cơm quá lớn,’ cần phải học tập như vậy.”

“‘Ta sẽ làm miếng cơm cho tròn,’ cần phải học tập như vậy.”

Phẩm Cung Kính là phẩm thứ tư.

“‘Ta sẽ không mở miệng khi miếng cơm chưa được đưa đến,’ cần phải học tập như vậy.”

“‘Ta sẽ không nói chuyện trong khi miệng đang có miếng cơm,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không thọ thực bằng cách tung vắt cơm lên,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không thọ thực bằng cách cắn đứt miếng cơm,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không thọ thực bằng cách phồng má,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không thọ thực bằng cách vẫy tay,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không thọ thực bằng cách làm rơi vãi hột cơm,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không ăn và thè lưỡi ra,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không ăn và phát ra tiếng chép miệng,’ đây là điều học nên được thực hành.”

Phẩm Về Miếng Cơm, thứ năm.

“‘Ta sẽ không ăn và phát ra tiếng sột soạt,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không ăn và liếm tay,’ đây là điều học nên được thực hành.”

628. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đức Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī, ở Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu ăn và liếm tay... v.v...

“‘Ta sẽ không ăn và liếm bát,’ đây là điều học nên được thực hành.”

629. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đức Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī, ở Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu ăn và liếm bát... v.v...

“‘Ta sẽ không ăn và liếm môi,’ đây là điều học nên được thực hành.”

‘Ta sẽ không nhận lấy vật đựng nước uống bằng tay có dính thức ăn,’ đây là điều học nên được thực hành.

‘Ta sẽ không đổ nước rửa bát có dính cơm thừa ở bên trong khu dân cư,’ đây là điều học nên được thực hành.

“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh mà tay đang cầm dù,’ đây là điều học cần phải thực hành.”

“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh mà tay đang cầm gậy,’ đây là điều học cần phải thực hành.”

“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh mà tay đang cầm đao,’ đây là điều học cần phải thực hành.”

“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh mà tay đang cầm vũ khí,’ đây là điều học cần phải thực hành.”

Phẩm Surusuru, thứ sáu.

“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh mà đang mang giày dép,’ đây là điều học cần phải thực hành.”

“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không có bệnh đang mang giày dép,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không có bệnh đang đi trên cỗ xe,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không có bệnh đang nằm trên giường,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không có bệnh đang ngồi có vòng vải quấn,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không có bệnh đang quấn khăn trên đầu,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không có bệnh đang có đầu được trùm kín,’ đây là điều học nên được thực hành.”

“Cần phải học tập điều: ‘Ta sẽ không ngồi trên đất thuyết pháp cho người không có bệnh đang ngồi trên ghế.’”

“‘Ta sẽ không ngồi trên ghế thấp thuyết pháp cho người không có bệnh đang ngồi trên ghế cao,’ cần phải học tập điều này.”

“‘Ta sẽ không đứng thuyết pháp cho người không có bệnh đang ngồi,’ cần phải học tập điều này.”

‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh đi phía trước trong khi đang đi phía sau,’ đây là điều học nên được thực hành.

‘Ta sẽ không thuyết Pháp cho người không bệnh đi trên đường trong khi đang đi ngoài đường,’ đây là điều học nên được thực hành.

‘Ta sẽ không đại tiện hay tiểu tiện trong khi đứng lúc không bệnh,’ đây là điều học nên được thực hành.

‘Ta sẽ không đại tiện, hay tiểu tiện, hay khạc nhổ trên cỏ xanh trong khi không bệnh,’ đây là điều học nên được thực hành.

‘Ta sẽ không đại tiện, hay tiểu tiện, hay khạc nhổ trong nước trong khi không bệnh,’ đây là điều học nên được thực hành.

Phẩm Pāduka thứ bảy.

Này chư hiền, các pháp Ưng Học đã được tụng đọc. Trong vấn đề ấy, tôi xin hỏi chư hiền: ‘Có phải quý vị được trong sạch trong các điều ấy không?’ Lần thứ nhì, tôi cũng hỏi: ‘Có phải quý vị được trong sạch trong các điều ấy không?’ Lần thứ ba, tôi cũng hỏi: ‘Có phải quý vị được trong sạch trong các điều ấy không?’ Chư hiền đã được trong sạch trong các điều ấy, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

Các pháp Ưng Học đã chấm dứt.

8. Các Pháp Dàn Xếp Tranh Tụng

Này chư hiền, lại nữa, bảy pháp dàn xếp tranh tụng này

655. Để dàn xếp, để làm lắng dịu các vụ tranh tụng đã phát sanh, đang phát sanh, cần phải áp dụng: (1) luật xử theo sự hiện diện, (2) luật xử theo sự ghi nhớ, (3) luật xử theo sự không mê loạn, (4) việc cần được thực hiện theo sự thú nhận, (5) (luật xử theo) ý kiến của số đông, (6) (luật xử theo) hành vi xấu xa của người ấy, (7) (luật xử theo cách) lấy cỏ che lấp.

Các pháp Dàn Xếp Tranh Tụng đã chấm dứt.

Con xin cung kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Chánh Giác.