Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
Bi Pm

Bản dịch

Bi PmGiới Bổn Tỳ-khưu-ni

Thưa các Ni sư, phần Mở Đầu đã được tuyên đọc. Tám pháp Pārājika (Bất Cộng Trụ) đã được tuyên đọc. Mười bảy pháp Saṅghādisesa (Tăng Tàn) đã được tuyên đọc. Ba mươi pháp Nissaggiya Pācittiya (Xả Đọa) đã được tuyên đọc. Một trăm sáu mươi sáu pháp Pācittiya (Ưng Đối Trị) đã được tuyên đọc. Tám pháp Pāṭidesanīya (Ưng Phát Lộ) đã được tuyên đọc. Các pháp Sekhiya (Ưng Học) đã được tuyên đọc. Bảy pháp Adhikaraṇasamathā (Dàn Xếp Tranh Tụng) đã được tuyên đọc. Toàn bộ những điều này của đức Thế Tôn đã được truyền lại trong Kinh, được bao gồm trong Kinh, và được đem ra tuyên đọc mỗi nửa tháng. Về các điều ấy, tất cả (chúng ta) nên cùng nhau hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi mà học tập.

Thưa các Ni sư, bảy pháp dàn xếp tranh tụng đã được tuyên đọc. Về các điều ấy, tôi xin hỏi các Ni sư: “Có phải quý vị được trong sạch không?” Lần thứ nhì, tôi cũng hỏi: “Có phải quý vị được trong sạch không?” Lần thứ ba, tôi cũng hỏi: “Có phải quý vị được trong sạch không?” Các Ni sư được trong sạch trong các điều ấy, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

là các pháp được đi đến phần tuyên đọc.

12. Học giới thứ mười hai

789. “Lại nữa, tỳ khưu ni khi xin một tấm y choàng nhẹ, nên xin loại có giá trị tối đa là hai kaṃsa rưỡi. Nếu vị ấy xin vượt quá mức ấy thì phạm tội ưng xả đối trị.”

799. “Vị tỳ-khưu-ni nào cho nhổ lông ở nơi kín thì phạm tội pācittiya.”

2. Học giới thứ hai

803. “Trong trường hợp vỗ vào bộ phận sinh dục, phạm tội pācittiya.”

3. Điều học thứ ba

811. “Vị tỳ khưu ni đang thực hiện việc rửa sạch bằng nước thì được phép đưa vào tối đa là hai đốt ngón tay. Vị nào vượt qua mức ấy thì phạm tội pācittiya.”

5. Điều học thứ năm

816. “Vị tỳ khưu ni nào đứng hầu vị tỳ khưu đang dùng bữa bằng nước uống hoặc bằng quạt thì phạm tội pācittiya.”

6. Điều học thứ sáu

821. “Vị tỳ khưu ni nào sau khi tự mình xin hoặc bảo người khác xin, tự mình rang hoặc bảo người khác rang, tự mình giã hoặc bảo người khác giã, tự mình nấu hoặc bảo người khác nấu lúa sống rồi dùng thì phạm tội pācittiya.”

825. ‘Vị tỳ-khưu-ni nào đổ hoặc cho người đổ phân, hoặc nước tiểu, hoặc rác, hoặc đồ ăn thừa ra bên ngoài vách tường hoặc bên ngoài hàng rào thì phạm tội pācittiya.’

8. Điều học thứ tám.

834. 'Vị tỳ khưu ni nào đi xem múa, hoặc hát, hoặc nhạc kịch, thì phạm tội pācittiya.'

Phẩm Lasuṇa thứ nhất.

2. Phẩm Andhakāra

Điều học thứ mười đã kết thúc.

839. 'Vị tỳ khưu ni nào cùng đứng hoặc cùng trò chuyện riêng với một người đàn ông trong đêm tối, không có đèn, thì phạm tội pācittiya.'

1. Điều học thứ nhất

843. “Vị tỳ-khưu-ni nào ở nơi kín đáo mà cùng đứng hoặc cùng trò chuyện một mình với một người nam, phạm tội pācittiya.”

847. “Vị tỳ-khưu-ni nào ở nơi trống trải mà cùng đứng hoặc cùng trò chuyện một mình với một người nam, phạm tội pācittiya.”

3. Điều học thứ ba

851. “Vị tỳ khưu ni nào ở tại con đường lớn, hoặc ở tại con đường cụt, hoặc ở tại ngã tư đường mà đứng cùng, hoặc nói chuyện một-một với người nam, hoặc nói thầm thì gần tai, hoặc cho tỳ khưu ni đi cùng về trước thì phạm tội pācittiya.”

855. “Vị tỳ-khưu-ni nào đi đến các gia đình vào buổi sáng, ngồi trên chỗ ngồi, rồi ra về mà không xin phép gia chủ, thì phạm tội pācittiya.”

860. “Vị tỳ-khưu-ni nào sau giờ ngọ đi đến các gia đình, rồi ngồi xuống hoặc nằm xuống trên chỗ ngồi mà không xin phép gia chủ, thì phạm tội pācittiya.”

865. “Vị tỳ-khưu-ni nào đi đến các gia tộc vào lúc phi thời, không hỏi ý kiến các người chủ, tự mình trải chỗ nằm hoặc bảo người khác trải, rồi ngồi xuống hoặc nằm xuống, phạm tội pācittiya.”

7. Học giới thứ bảy

870. “Vị tỳ-khưu-ni nào làm cho người khác bực tức với sự nắm bắt sai lầm, với sự ghi nhận sai lầm, thì phạm tội pācittiya.”

8. Học giới thứ tám

875. “Vị tỳ-khưu-ni nào nguyền rủa chính mình hoặc người khác bằng địa ngục hoặc bằng phạm hạnh, thì phạm tội pācittiya.”

9. Học giới thứ chín

880. “Vị tỳ-khưu-ni nào tự đánh mình và khóc lóc, vị ấy phạm tội pācittiya.”

10. Học giới thứ mười

884. “Vị tỳ-khưu-ni nào tắm lõa thể, vị ấy phạm tội pācittiya.”

1. Điều học thứ nhất

888. “Vị tỳ-khưu-ni khi may y tắm nên may đúng kích thước. Kích thước ở đây là: chiều dài bốn gang tay của đức Sugata, chiều rộng hai gang tay. Vị nào làm vượt quá kích thước đó, phạm tội pācittiya cần phải cắt bỏ.”

2. Điều học thứ hai

893. ‘Vị tỳ-khưu-ni nào, sau khi tự mình tháo hoặc bảo người khác tháo y của một tỳ-khưu-ni, sau đó không gặp trở ngại mà không tự mình may lại, cũng không nỗ lực để cho may lại, ngoại trừ trong vòng bốn năm ngày, phạm tội pācittiya.’

3. Điều học thứ ba

Điều học thứ hai đã kết thúc.

903. “Vị tỳ-khưu-ni nào sử dụng y cần được chuyển giao thì phạm tội pācittiya.”

5. Học giới thứ năm

908. ‘Vị tỳ khưu ni nào gây trở ngại cho việc nhận được y của hội chúng, thì phạm tội pācittiya.’

6. Học giới thứ sáu

912. ‘Vị tỳ khưu ni nào ngăn cản việc phân chia y đúng pháp, thì phạm tội pācittiya.’

7. Học giới thứ bảy

917. ‘Vị tỳ-khưu-ni nào cho y phục sa-môn đến người tại gia, hoặc du sĩ nam, hoặc du sĩ nữ thì phạm tội pācittiya.’

8. Học giới thứ tám

921. ‘Vị tỳ-khưu-ni nào vì hy vọng mong manh về y mà làm lỡ thời gian nhận y thì phạm tội pācittiya.’

9. Học giới thứ chín

928. – ‘Vị tỳ khưu ni nào ngăn cản việc xả y kathina đúng Pháp thì phạm tội pācittiya.’

Phẩm Lõa Thể thứ ba.

4. Phẩm Tuvaṭṭa

Điều học thứ mười – Dứt.

933. – ‘Nếu hai vị tỳ khưu ni nằm chung trên một chiếc giường, các vị ấy phạm tội pācittiya.’

937. “Bất cứ hai vị tỳ khưu ni nào nằm chung một tấm trải và một tấm đắp, thì phạm tội Ưng Đối Trị.”

2. Điều học thứ hai

942. ‘Vị tỳ-khưu-ni nào cố ý gây ra sự không thoải mái cho tỳ-khưu-ni (khác) thì phạm tội pācittiya.’

3. Học giới thứ ba

Học giới thứ hai đã kết thúc.

951. “Vị tỳ khưu ni nào, sau khi đã cho một vị tỳ khưu ni khác một chỗ ở, rồi nổi giận, không hài lòng, tự mình đuổi đi hoặc sai người đuổi đi, thì phạm tội pācittiya.”

5. Điều học thứ năm

956. “Vị tỳ khưu ni nào sống thân cận với gia chủ hoặc con của gia chủ, vị tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu ni nói như vầy: ‘Thưa trưởng lão ni, xin đừng sống thân cận với gia chủ và con của gia chủ. Thưa trưởng lão ni, hãy sống riêng biệt; Tăng chúng chỉ tán thán sự sống riêng biệt của người chị em.’ Và nếu vị tỳ khưu ni ấy, đang được các tỳ khưu ni nói như vậy, mà vẫn cứ tiếp tục như thế, vị tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu ni nhắc nhở đến lần thứ ba để từ bỏ việc ấy. Nếu trong khi được nhắc nhở đến lần thứ ba mà từ bỏ việc ấy, thì điều ấy là tốt; nếu không từ bỏ, phạm tội pācittiya.”

6. Điều học thứ sáu

962. “Vị tỳ khưu ni nào đi du hành trong nội địa, ở nơi được cho là đáng ngờ vực và có sự nguy hiểm, mà không có đoàn lữ hành, thì phạm tội ưng đối trị.”

7. Điều học thứ bảy

966. “Vị tỳ khưu ni nào đi du hành ở ngoại địa, ở nơi được cho là đáng ngờ vực và có sự nguy hiểm, mà không có đoàn lữ hành, thì phạm tội ưng đối trị.”

8. Điều học thứ tám

970. “Vị tỳ-khưu-ni nào đi du hành trong mùa mưa thì phạm tội pācittiya.”

9. Điều học thứ chín

974. “Vị tỳ-khưu-ni nào sau khi đã an cư mùa mưa mà không đi du hành, ít nhất là năm hoặc sáu do-tuần, thì phạm tội pācittiya.”

Phẩm Tuvaṭṭa, phẩm thứ tư.

5. Phẩm Cittāgāra

Điều học thứ mười đã kết thúc.

978. “Vị tỳ khưu ni nào đi để xem nhà của vua, hoặc nhà có tranh vẽ, hoặc khu vườn, hoặc công viên, hoặc hồ sen, vị ấy phạm tội pācittiya.”

983. “Vị tỳ khưu ni nào sử dụng ghế dài hoặc giường có chân hình thú, vị ấy phạm tội pācittiya.”

2. Điều học thứ hai

987. “Vị tỳ khưu ni nào kéo sợi, vị ấy phạm tội pācittiya.”

3. Điều học thứ ba

991. “Vị tỳ-khưu-ni nào làm công việc của người tại gia thì phạm tội pācittiya.”

4. Điều học thứ tư

995. “Vị tỳ-khưu-ni nào, khi được một tỳ-khưu-ni nói rằng: ‘Thưa sư tỷ, xin hãy đến và dàn xếp vụ tranh tụng này,’ sau khi nhận lời ‘Lành thay,’ về sau không có trở ngại mà không dàn xếp cũng không nỗ lực để dàn xếp, thì phạm tội pācittiya.”

5. Học giới thứ năm

1000. ‘Vị tỳ khưu ni nào tự tay trao vật thực cứng hay vật thực mềm cho người tại gia, hoặc cho nam du sĩ, hoặc cho nữ du sĩ thì phạm tội pācittiya.’

6. Học giới thứ sáu

1009. “Vị tỳ-khưu-ni nào ra đi du hành mà không từ bỏ trú xá thì phạm tội pācittiya.”

1014. “Vị tỳ-khưu-ni nào học tập tà thuật thì phạm tội pācittiya.”

Được gọi là tà thuật là bất cứ kiến thức nào thuộc ngoại đạo, không liên quan đến lợi ích.

1018. “Vị tỳ khưu ni nào dạy môn học thấp hèn thì phạm tội pācittiya.”

Phẩm Cittāgāra – Thứ năm.

Điều học thứ mười – Dứt.

1024. “Vị tỳ khưu ni nào, trong khi biết, đi vào khu vườn có tỳ khưu mà không xin phép thì phạm tội pācittiya.”

1023. Khi ấy, các tỳ khưu ấy sau khi rời khỏi trú xứ đó lại quay trở lại trú xứ đó. Các tỳ khưu ni nghĩ rằng: “Các ngài đã đi rồi,” nên đã đi vào khu vườn mà không xin phép. Họ đã có sự hối hận: “Đức Thế Tôn đã ban hành điều học: ‘Không được đi vào khu vườn mà không xin phép vị tỳ khưu có mặt.’ Và chúng ta đã đi vào khu vườn mà không xin phép vị tỳ khưu có mặt. Liệu chúng ta có phạm tội pācittiya không?” ... (lược) ... Họ đã trình sự việc này lên đức Thế Tôn. Sau đó, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn đã thuyết một bài pháp thoại rồi gọi các tỳ khưu ... (lược) ... Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni nên trình bày điều học này như sau:

1029. “Vị tỳ khưu ni nào mắng nhiếc hoặc hăm dọa vị tỳ khưu thì phạm tội pācittiya.”

1034. “Vị tỳ khưu ni nào, do tức giận, mắng nhiếc chúng, phạm tội pācittiya.”

3. Điều học thứ ba

1038. “Vị tỳ khưu ni nào, đã được mời hoặc đã được thỉnh thôi, lại nhai hoặc ăn vật thực cứng hay vật thực mềm, phạm tội pācittiya.”

4. Điều học thứ tư

1043. ‘Vị tỳ khưu ni nào có tính bỏn xẻn đối với gia đình thí chủ thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).’

5. Học giới thứ năm

1047. ‘Vị tỳ khưu ni nào an cư mùa mưa ở trú xứ không có tỳ khưu thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).’

6. Học giới thứ sáu

1051. “Vị tỳ khưu ni nào sau khi đã an cư mùa mưa mà không thỉnh nguyện ở hai hội chúng về ba trường hợp: hoặc do đã thấy, hoặc do đã nghe, hoặc do nghi ngờ, thì phạm tội pācittiya.”

7. Điều học thứ bảy

1055. “Vị tỳ khưu ni nào không đi để thọ nhận lời giáo giới hoặc để tham gia các sinh hoạt chung, thì phạm tội pācittiya.”

8. Điều học thứ tám

1059. “Mỗi nửa tháng, vị tỳ khưu ni nên mong đợi hai việc từ hội chúng tỳ khưu: việc hỏi về ngày uposatha và việc đi đến thọ nhận lời giáo giới. Vị nào vi phạm điều ấy thì phạm tội pācittiya.”

9. Điều học thứ chín

1063. “Vị tỳ-khưu-ni nào, không thông báo cho chư Tăng hoặc cho một nhóm, mà nhờ một người đàn ông, trong lúc chỉ có hai người, mổ, hoặc rạch, hoặc rửa, hoặc thoa thuốc, hoặc băng bó, hoặc tháo băng một cái mụn nhọt hay một vết thương mọc ở vùng bẹn, thì phạm tội pācittiya.”

Phẩm Ārāma, phẩm thứ sáu.

7. Phẩm Gabbhinī

Học giới thứ mười – Dứt.

1068. “Vị tỳ-khưu-ni nào cho người phụ nữ có thai được xuất gia, thì phạm tội pācittiya.”

1. Học giới thứ nhất

1073. “Vị tỳ khưu ni nào làm lễ xuất gia cho người phụ nữ đang cho con bú thì phạm tội pācittiya.”

2. Học giới thứ hai

1080. “Vị tỳ khưu ni nào cho xuất gia tu lên bậc trên đối với vị Thức-xoa-ma-na chưa được rèn luyện trong sáu pháp trong suốt hai năm thì phạm tội pācittiya.”

1086. “Vị tỳ khưu ni nào cho xuất gia một vị Thức-xoa-ma-na đã được rèn luyện trong sáu pháp trong suốt hai năm mà không được Tăng chúng đồng thuận thì phạm tội pācittiya.”

1091. “Vị tỳ khưu ni nào cho xuất gia người nữ đã có gia đình chưa đủ mười hai tuổi thì phạm tội pācittiya.”

5. Học giới thứ năm

Khi ấy, sau khi đã quở trách các vị tỳ-khưu-ni ấy bằng nhiều cách về sự khó nuôi dưỡng ... Thế Tôn đã dạy rằng: – ‘Và này các tỳ-khưu, các vị tỳ-khưu-ni hãy tuyên đọc học giới này như sau:’

1097. ‘Vị tỳ-khưu-ni nào tế độ cho người phụ nữ đã tròn mười hai tuổi, đã từng có quan hệ với người nam, chưa được thực hành sáu pháp trong hai năm, thì phạm tội pācittiya.’

1108. “Vị tỳ-khưu-ni nào sau khi cho đệ tử sống chung xuất gia, trong hai năm không tự mình nâng đỡ, cũng không nhờ người khác nâng đỡ, thì phạm tội pācittiya.”

1112. “Vị tỳ-khưu-ni nào không đi theo vị thầy tế độ đã cho mình xuất gia trong suốt hai năm, thì phạm tội pācittiya.”

1116. “Vị tỳ-khưu-ni nào sau khi cho đệ tử sống chung xuất gia, không tự mình dẫn đi xa, cũng không nhờ người khác dẫn đi xa, cho đến ít nhất là năm sáu do-tuần, thì phạm tội pācittiya.”

Phẩm về Người Mang Thai, phẩm thứ bảy.

8. Phẩm Kumārībhūta

1120. “Vị tỳ khưu ni nào cho xuất gia người thiếu nữ chưa đủ hai mươi tuổi thì phạm tội pācittiya.”

1. Điều học thứ nhất

Vị thiếu nữ mười tám tuổi ấy nên được bảo rằng hãy nói như vầy: – ‘Con xin thọ trì sự thực hành việc từ bỏ sát sanh, không vi phạm trong thời gian hai năm ... Con xin thọ trì sự thực hành việc từ bỏ ăn sái giờ, không vi phạm trong thời gian hai năm.’

1126. ‘Vị tỳ-khưu-ni nào tế độ cho vị thiếu nữ đã đủ hai mươi tuổi nhưng chưa được rèn luyện học giới trong sáu pháp trong thời gian hai năm, thì phạm tội pācittiya.’

1137. “Vị tỳ-khưu-ni nào cho xuất gia (cụ túc) người chưa đủ mười hai tuổi hạ, phạm tội pācittiya.”

1136. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika, tu viện Jetavana. Cũng vào lúc ấy, các tỳ-khưu-ni cho xuất gia (cụ túc) những vị chưa đủ mười hai tuổi hạ. Các vị ấy ngu dốt, không rành rẽ, không biết điều thích hợp hay không thích hợp. Các vị đệ tử cùng ở cũng ngu dốt, không rành rẽ; không biết điều thích hợp hay không thích hợp. Các vị tỳ-khưu-ni thiểu dục … (v.v.) … các vị ấy phàn nàn, chê bai, nói xấu rằng: “Làm sao mà các tỳ-khưu-ni lại cho xuất gia (cụ túc) những vị chưa đủ mười hai tuổi hạ?” … (v.v.) … “Này các tỳ-khưu, có thật là các tỳ-khưu-ni cho xuất gia (cụ túc) những vị chưa đủ mười hai tuổi hạ không?” “Bạch Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật Thế Tôn đã quở trách … (v.v.) … “Này các tỳ-khưu, làm sao mà các tỳ-khưu-ni lại cho xuất gia (cụ túc) những vị chưa đủ mười hai tuổi hạ! Này các tỳ-khưu, việc này không làm cho những người chưa có đức tin được phát sinh đức tin … (v.v.) … Và này các tỳ-khưu, các tỳ-khưu-ni hãy tụng đọc học giới này như sau –

1142. “Vị tỳ-khưu-ni nào đã đủ mười hai tuổi hạ nhưng chưa được Tăng chúng đồng ý mà cho xuất gia (cụ túc), phạm tội pācittiya.”

Khi ấy, Thế Tôn, sau khi quở trách các tỳ-khưu-ni ấy bằng nhiều cách về sự khó nuôi dưỡng … (v.v.) … và này các tỳ-khưu, các tỳ-khưu-ni hãy tụng đọc học giới này như sau –

1147. ‘Vị tỳ-khưu-ni nào, trong khi được nói rằng: ‘Thưa sư tỷ, sư tỷ chưa nên làm việc tế độ,’ đã vâng nhận: ‘Lành thay,’ rồi sau đó lại có thái độ chỉ trích, thì phạm tội pācittiya.’

1151. “Vị tỳ khưu ni nào, sau khi nói với một vị đang học giới rằng: ‘Thưa sư tỷ, nếu sư tỷ cúng dường y cho tôi thì tôi sẽ làm lễ xuất gia cho sư tỷ,’ rồi về sau, vị ấy không có chướng ngại mà lại không làm lễ xuất gia, cũng không nỗ lực để làm lễ xuất gia, thì phạm tội pācittiya.”

1155. “Vị tỳ khưu ni nào, sau khi nói với một vị đang học giới rằng: ‘Thưa sư tỷ, nếu sư tỷ đi theo tôi trong hai năm thì tôi sẽ làm lễ xuất gia cho sư tỷ,’ rồi về sau, vị ấy không có chướng ngại mà lại không làm lễ xuất gia, cũng không nỗ lực để làm lễ xuất gia, thì phạm tội pācittiya.”

8. Điều học thứ tám

1159. “Vị tỳ khưu ni nào làm lễ xuất gia cho một vị đang học giới là người giao du với đàn ông, giao du với các cậu bé, hung dữ, và gây sầu muộn, thì phạm tội pācittiya.”

9. Điều học thứ chín

1163. “Vị tỳ-khưu-ni nào cho xuất gia một vị thức-xoa-ma-na không được cha mẹ hoặc chồng cho phép thì phạm tội pācittiya.”

10. Điều học thứ mười

1167. “Vị tỳ-khưu-ni nào cho xuất gia một vị thức-xoa-ma-na với sự đồng thuận đã cũ thì phạm tội pācittiya.”

11. Điều học thứ mười một

1171. “Vị tỳ-khưu-ni nào cho xuất gia hằng năm thì phạm tội pācittiya.”

12. Điều học thứ mười hai

1175. “Vị tỳ-khưu-ni nào cho xuất gia hai người trong một năm thì phạm tội pācittiya.”

Phẩm Kumārībhūta thứ tám đã kết thúc.

9. Phẩm Chattupāhana

Học giới thứ mười ba đã kết thúc.

1180. “Vị tỳ khưu ni nào không có bệnh mà mang dù và giày dép thì phạm tội pācittiya.”

Như vậy, học giới này đã được đức Thế Tôn chế định cho các vị tỳ-khưu-ni.

1186. “Vị tỳ khưu ni nào không có bệnh mà đi bằng xe cộ thì phạm tội pācittiya.”

Như vậy, điều học này đã được đức Thế Tôn chế định cho các tỳ khưu ni.

1191. “Vị tỳ khưu ni nào mang dây lưng thì phạm tội pācittiya.”

3. Điều học thứ ba

1195. “Vị tỳ khưu ni nào mang đồ trang sức của phụ nữ thì phạm tội pācittiya.”

4. Điều học thứ tư

1199. “Vị tỳ khưu ni nào tắm bằng bột thơm và bột màu thì phạm tội pācittiya.”

5. Điều học thứ năm

1203. “Vị tỳ khưu ni nào tắm bằng bã mè có ướp hương thì phạm tội pācittiya.”

1207. 'Vị tỳ-khưu-ni nào cho tỳ-khưu-ni xoa bóp hay đấm bóp, thì phạm tội pācittiya.'

7. Điều học thứ bảy

1215. 'Vị tỳ-khưu-ni nào ngồi xuống chỗ ngồi ở phía trước vị tỳ-khưu mà không xin phép, thì phạm tội pācittiya.'

11. Điều học thứ mười một.

12. Điều học thứ mười hai.

1220. “Vị tỳ-khưu-ni nào hỏi tỳ-khưu về một vấn đề mà không được cho phép thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).”

Phẩm Dù và Dép, phẩm thứ chín.

Thưa các sư cô, một trăm sáu mươi sáu pháp ưng đối trị đã được đọc lên. Về các pháp ấy, tôi xin hỏi các sư cô: “Có phải quý vị trong sạch trong các pháp ấy không?” Lần thứ nhì, tôi xin hỏi: “Có phải quý vị trong sạch trong các pháp ấy không?” Lần thứ ba, tôi xin hỏi: “Có phải quý vị trong sạch trong các pháp ấy không?” Các sư cô trong sạch trong các pháp ấy, vì vậy nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

Điều học thứ mười ba đã kết thúc.

5. Phần Pāṭidesanīya (Phân Tích Tỳ-khưu-ni)

Thưa các sư cô, đây là tám pháp pāṭidesanīya

1. Điều học Pāṭidesanīya thứ nhất.

1230. “Vị tỳ-khưu-ni nào không bị bệnh mà xin bơ sữa rồi dùng, vị tỳ-khưu-ni ấy phải phát lồ rằng: ‘Thưa các hiền tỷ, tôi đã phạm phải một pháp đáng bị quở trách, không thích hợp, là pháp ưng phát lồ. Tôi xin phát lồ pháp ấy.’”

Thưa các sư tỷ, tám pháp pāṭidesanīya đã được tụng đọc. Về các pháp ấy, tôi xin hỏi các sư tỷ: ‘Có phải các vị trong sạch trong các pháp ấy không?’ Lần thứ nhì, tôi cũng hỏi: ‘Có phải các vị trong sạch trong các pháp ấy không?’ Lần thứ ba, tôi cũng hỏi: ‘Có phải các vị trong sạch trong các pháp ấy không?’ Các sư tỷ trong sạch trong các pháp ấy, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc ấy là như vậy.

Điều học Pāṭidesanīya thứ tám - Dứt.

Thưa các sư tỷ, đây là các pháp sekhiya

1. Phẩm Parimaṇḍala

‘Ta sẽ mặc y nội cho kín đáo,’ đây là điều học nên được thực hành.

1240. Vào lúc đức Phật Thế Tôn ở tại Sāvatthī, Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu ni mặc y nội buông thõng ở phía trước và phía sau. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: – ‘Tại sao các vị tỳ khưu ni lại mặc y nội buông thõng ở phía trước và phía sau, giống như các nữ gia chủ hưởng thụ các dục!’ Các vị tỳ khưu ni đã nghe được những lời phàn nàn, chê bai, phao tin của dân chúng ấy. Các vị tỳ khưu ni ít ham muốn ... (như trên) ... đã phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: – ‘Tại sao nhóm sáu vị tỳ khưu ni lại mặc y nội buông thõng ở phía trước và phía sau?’ ... (như trên) ... – ‘Này các tỳ khưu, có thật là nhóm sáu vị tỳ khưu ni mặc y nội buông thõng ở phía trước và phía sau không?’ – ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’ Đức Phật Thế Tôn đã quở trách ... (như trên) ... – ‘Này các tỳ khưu, tại sao nhóm sáu vị tỳ khưu ni lại mặc y nội buông thõng ở phía trước và phía sau? Này các tỳ khưu, việc này không đem lại niềm tin cho những người chưa có niềm tin ... (như trên) ... Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni nên tụng đọc điều học này như sau:

“‘Khi không bị bệnh, tôi sẽ không đại tiện, hoặc tiểu tiện, hoặc khạc nhổ ở trong nước,’ việc học tập nên được thực hành.”

Phẩm Pāduka, Phẩm Thứ Bảy.

Thưa các Ni sư, các pháp Ưng Học đã được tuyên đọc. Về các điều ấy, tôi xin hỏi các Ni sư: “Có phải quý vị được trong sạch không?” Lần thứ nhì, tôi cũng hỏi: “Có phải quý vị được trong sạch không?” Lần thứ ba, tôi cũng hỏi: “Có phải quý vị được trong sạch không?” Các Ni sư được trong sạch trong các điều ấy, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

7. Các Pháp Dàn Xếp Tranh Tụng

Thưa các Ni sư, lại nữa, bảy pháp dàn xếp tranh tụng này

1242. Để dập tắt và làm cho lắng dịu các vụ tranh tụng đã và đang phát sinh, cần phải áp dụng: pháp Sammukhāvinaya (dàn xếp tại phiên họp hợp lệ), cần phải áp dụng pháp Sativinaya (dàn xếp bằng sự nhắc nhở), cần phải áp dụng pháp Amūḷhavinaya (dàn xếp khi tâm trí bình thường), cần phải thực hiện theo sự thú nhận, pháp Yebhuyyasikā (dàn xếp theo biểu quyết của đa số), pháp Tassapāpiyasikā (dàn xếp bằng cách tuyên bố hình phạt đối với người có hành vi xấu xa), và pháp Tiṇavatthāraka (dàn xếp bằng cách che lấp như cỏ).

(Các Pháp Dàn Xếp Tranh Tụng đã kết thúc.)